Thơ Miên Triện, 10 bài

10:01 07/12/2021

NGUYỄN KHOA ĐIỀM
       (Giới thiệu, dịch thơ)    

Miên Triện có tự là Quân Công, hiệu Ước Đình, là nhà thơ, nhà soạn tuồng tên tuổi của nước ta vào cuối thế kỷ XIX. 

Chân dung của quận vương Miên Triện do họa sĩ André Robert vẽ lại khi ông đi sứ sang Pháp vào năm 1889. (Ảnh tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân)

Ông sinh ngày 3 tháng 6 năm Quý Tỵ (nhằm ngày 19/7/1833) tại kinh đô Huế, trong gia đình Hoàng tộc. Thân sinh của ông là Nguyễn Phúc Đảm (1791 - 1841) tức hoàng đế Minh Mạng (1820 - 1841), vị vua đã đưa đất nước vào thời kỳ thịnh trị trong nửa đầu thế kỷ 19.

Chữ Miên lót tên ông, cũng như các anh em khác của ông, là chữ đầu tiên trong Đế hệ thi gồm 20 chữ do vua Minh Mạng đặt ra. Thân mẫu ông là bà Tài nhân Nguyễn Thị Thanh. Cùng một vua cha, ông có đến 77 anh em trai và 64 chị em gái. Tính theo Nguyễn Phúc tộc thế phả, ông là hoàng tử thứ 66, đứng đầu Phủ phòng 66 của Hoàng tộc.

Lớn lên trong cung cấm, được học hành ở môi trường tốt nhất theo chỉ dụ của vị vua nhiều tư chất của triều Nguyễn, lại được sự hướng dẫn, dạy dỗ chu đáo của các bậc đại nho triều đình, Miên Triện cùng các anh chị em của ông nhanh chóng trở thành một lớp trí thức quý tộc tài năng, vừa thông thạo sách vở nho gia, - dù không theo con đường cử nghiệp -, vừa am tường văn chương nghệ thuật, nếp văn hóa cao nhã của xã hội đương thời.

Năm 17 tuổi, đầu triều Tự Đức, đến tuổi trưởng thành, ông được phong Triệu Phong quận công, một tước vị để hưởng bổng lộc chứ không được tham chính. Ông được xuất cung lập phủ đệ riêng gần cầu Gia Hội hiện nay.

Ông lập gia đình, với bà chánh thất sinh được một người con gái, đặt tên là Công Nữ Úy Đào; bà thứ thất họ Trần sinh người con gái thứ hai lấy tên Công Nữ Đồng Canh. Khác với nhiều người, ông quý trọng con gái, mua nhiều sách vở, mời thầy giỏi kèm con học hành, trau dồi công dung ngôn hạnh. Không chỉ dạy con sách vở hán nôm truyền thống, ông còn cho phép con học chữ quốc ngữ, trau dồi kiến văn Đông Tây, mong con sau này gái cũng như trai, làm nhiều việc có ích. Nhờ đó bà Công Nữ Đồng Canh sớm trở thành người phụ nữ có học thức cao, được triều đình mời vào cung làm “nữ sử” dạy chữ cho công chúa và cung nữ, về sau bà trở thành nhà báo, nhà văn, nhà sư phạm thuộc thế hệ đầu tiên của văn hóa Việt Nam hiện đại.

Là một danh sĩ đương thời, Miên Triện tham gia Mạc Vân thi xã, một thi đàn danh vọng của đất thần kinh với sự có mặt của nhiều hoàng thân quốc thích hay chữ và nhiều quan lại trong triều do nhà thơ đồng thời là vị hoàng thân nổi tiếng Miên Thẩm đứng đầu. Chung quanh Tùng Thiện vương Miên Thẩm lúc đó người ta thấy có các anh em của ông như Thọ Xuân vương Miên Định, Tuy Lý vương Miên Trinh, Tương An quận vương Miên Bảo, Lạc Biên quận công Miên Khoan, Hòa Thạnh vương Miên Tuấn cùng các bà công chúa Quy Đức, Mai Am, Huệ Phố, các đại thần như Trương Đăng Quế, Nguyễn Trọng Hợp, Phan Đình Phùng…, các văn nhân thi sĩ như Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Hà Tôn Quyền… tạo nên một bầu không khí sinh hoạt văn chương hết sức nhộn nhịp, tao nhã. Vào thời điểm này nhiều thi tập, văn tập có giá trị đã ra đời như “Thương sơn thi tập” (Miên Thẩm), “Vĩ Dạ hợp tập”, “Nghê Thường khúc” (Miên Trinh), “Tĩnh minh ái phương thi tập” (Miên Định), “Khiêm Trai thi tập”, “Khiêm Trai văn tập”, “Hoài cổ ngâm” (Miên Bảo), “Lật viên thi tập” (Miên Khoan), “Nhã Đường thi tập” (Miên Tuấn), “Mạn Viên thi tập” (Miên Ngôn), “Quân đình thi thảo” (Miên Thanh)... Nhân dịp sứ thần Trung Quốc Lao Sùng Quang đến Huế, vua Tự Đức cho soạn bộ tuyển tập thơ lấy tên “Phong nhã thống biên” gồm một số thi tài nước ta lúc đó để giới thiệu. Trào lưu văn chương sôi nổi đó được ghi lại trong câu:

“Văn như Siêu, Quát, vô tiền Hán - Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”.

Cách bình phẩm như vậy có phần khoa trương, nhưng ít nhiều cũng nói lên không khí hưng phấn của lớp văn nhân Việt Nam giữa thế kỷ XIX.

Tuy nhiên thời kỳ yên bình của một nước Đại Việt vươn lên đứng đầu khu vực với lãnh thổ thống nhất rộng rãi, kinh tế phát đạt, văn hóa nề nếp, bang giao mở mang đã chìm dần trong lớp mây đen của chủ nghĩa thực dân và những biến động cung đình ngày càng nặng nề.

Năm 1858, sau nhiều lần toan tính, pháo hạm của Pháp đã bắn vào Đà Nẵng, một cửa ngõ tiến vào kinh đô Huế.

Chỉ mấy năm sau, lục tỉnh Nam Bộ vựa thóc trực tiếp nuôi sống triều Nguyễn đã mất vào tay Pháp.

Năm 1874 thành Hà Nội thất thủ.

Những điều trần cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ… bị gạt qua một bên vì không ai đủ lòng tin và quyết tâm thực hiện. Đất nước chìm trong khó khăn, thất vọng.

Năm 1878, Miên Triện được phong Quỳnh quốc công.

Là thế hệ nhàn quan, có tước nhưng không có chức để can thiệp công việc triều chính, Miên Triện ngày càng chán ngán trước tình cảnh Tự Đức nhu nhược, quyền thần lộng hành, thế nước nghiêng ngữa. Ông cho lập chùa Diệu Hỷ trong vườn nhà giành cho ni giới và nữ nhân trong nhà tu học. Ông cũng giành nhiều thời gian học sách thuốc và bốc thuốc cho người thân quen. Tri thức về y học cổ truyền được ông ghi lại thành thơ nôm thể song thất lục bát dài 228 câu lấy tên “Chứng trị quốc âm ca” (Bài thơ quốc âm bàn việc chữa bệnh).

Năm 1923, bà Đạm Phương cho sao lục, phiên ra quốc ngữ đăng trên báo “Lục tỉnh Tân văn” để giới thiệu với người đọc. Mở đầu là những câu:

Người sinh ngữa đội ơn trời đất,
Phú tánh linh muôn vật làm đầu.
Muốn cho tóc bạc đầu râu,
Năm điều bảo dưỡng chớ hầu đơn sai

 
Hớp hơi trời, ấy thời là một,
Thán khí thay, máu tốt bèn sinh,
Hai điều quan sáng thích tình,
Đã lắm hiến bộc, lại đành sái thơ,

 
Ba điều ưa nóng vừa ấm áp,
Tuyết lạnh gìn, áo kép mền bông,
Bốn điều ăn uống sạch trong,
Chớ ham quá béo, thường phòng chẳng tiêu.

 
Ấy năm điều ra vào vận động,
Thêm rèn lòng mựa giống tham ô…


Triều đình Tự Đức vốn đam mê việc soạn tuồng, diễn tuồng. Chính Tự Đức cũng viết một số chương hồi cho các pho ngự chế “Vạn bửu trình tường”, “Quần phương hiến thụy” có thể diễn trăm đêm mà người biên soạn chính là các quan (nổi tiếng nhất là Đào Tấn) và các vị hoàng thân. Miên Triện cùng hai ông Nam Sách (tức Miên Ổn) và Ninh Thuận (tức Miên Nghi) soạn pho tuồng “Tuyệt diệu bình yên” mà sau này, trong bài báo “Lược khảo về tuồng hát An nam” năm 1923 bà Đạm Phương đã đánh giá là “sự tích rất li kỳ, biến hóa vô cùng”. Trong một bài thơ khác Miên Triện còn kể tự tay ông chép 6 tập hí kịch do chính mình viết.

Không chỉ viết tuồng, Miên Triện còn có nhiều công trình sáng tác, dịch thuật khác. Trong bài báo “Văn chương quốc âm” đăng trên tạp chí Hữu Thanh năm 1922, Nguyễn Khoa Tùng - con rể ông đã nhắc đến các truyện do Miên Triện viết, đó là: “Oanh nương khúc”, “Hoàng sừ”, “Xích bích phú”, “Thị nhi giáo lệnh”, “Liên xướng cung từ”… Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân trong một bài viết về Miên Triện có nhận xét “qua bản diễn nôm này (bài “Tiền Xích Bích phú”) ta đọc được nhiều từ trong tiếng Huế mà đến nay không còn ai dùng nữa”. Xin trích những dòng đầu tiên trong 93 dòng thơ trong bản dịch của Miên Triện:

Năm Nhâm Tuất mùa thu tháng bảy,
Mới qua rằm trăng hãy còn hin.
Ông Tô cùng khách dời thuyền,
Chơi nơi Xích Bích gần miền Kinh Châu.
Gió phảng phất dòng sâu sóng lặng,
Cất chén mời khách hẳn vui ưa,
Ngâm nga nguyệt xuất thi xưa,
Liền câu yểu điệu cảnh giờ khéo in.
Phương đông thoắt trăng lên chóp núi,
Trong Đẩu, Ngưu noi dõi dần dà;
Sông trong, nước rạng bao la,
Ngang giăng móc trắng, la đà trời xanh…


Mặc dù được sinh ra và lớn lên trong thế giới cung cấm, nhưng càng lớn lên Miên Triện càng thấm thía cảnh thăng trầm đau đớn của đất nước và thế hệ của ông. Ngay trong đại gia tộc của mình ông cũng chứng kiến không ít những bức tranh đầy máu và nước mắt.

Năm 1883, đêm hôm trước ngày vua Tự Đức băng hà, quân Pháp chiếm cửa Thuận An, trực tiếp uy hiếp kinh đô Huế. Trong cơn khẩn cấp, vua Dục Đức lên ngôi được 3 ngày thì bị phế truất. Triều đình Huế trước sức ép của súng đạn thực dân đã phải ký hòa ước Quý Mùi chấp nhận nền bảo hộ của Pháp. Các viên phụ chính đại thần vội vã đưa một hoàng thân em vua Tự Đức lên ngôi, lấy tên Hiệp Hòa. Nhưng vua Hiệp Hòa chỉ giữ ngôi 4 tháng thì bị bức hại vì lộ ý đồ mượn lực lượng của Pháp để ngăn chặn sự lộng hành của các vị phụ chính. Vua bị giết, lập tức hàng loạt cận thần, các vị hoàng thân gần gũi, từng chịu ơn vua không khỏi mang họa, người bị bắt giết, người tìm cách trốn chạy. Miên Triện từng được vua Hiệp Hòa tấn phong Hoằng Hóa công ngay trong lễ lên ngôi của mình cũng tìm cách chạy trốn. Miên Triện và cả gia đình bị bắt giữ, giam tại khám đường Thừa Phủ; phủ đệ của ông bị sung công. Nhờ sự can thiệp của bà hoàng thái hậu Từ Dụ (vợ vua Thiệu Trị), ông thoát khỏi tội chết, nhưng bị hạ bậc làm Hoằng Hóa hương công; cả nhà bị đày vào Phú Yên quản thúc.

Tại nơi lưu đày, ông đau đớn đón tin Kinh đô thất thủ sau trận phản công không thành của vua quan nhà Nguyễn đêm 23 tháng 5 năm Ất Dậu (1885). Quân Pháp tràn vào nội thành, cung điện bị đốt cháy, nhà cửa trăm họ bị cướp phá. Xác chết la liệt mặt đường. Vua Hàm Nghi được phò ra Tân Sở (Quảng Trị), rồi chạy ra miền núi Hà Tĩnh, hạ chiếu Cần Vương cứu nước.

Để nhanh chóng bình định nước ta, thực dân Pháp đưa Đồng Khánh lên ngôi và cho rút các hoàng thân bị lưu đày về kinh đô để dễ quản lý và giữ ổn định. Cùng các hoàng thân Miên Trinh, Miên Tằng trở về từ Quảng Ngãi, Bình Định, Miên Triện cũng đưa gia đình từ Phú Yên về Huế vào cuối tháng 10 năm 1885. Phủ đệ của ông chỉ còn một đống hoang tàn. Ông đành đưa vợ con lên núi Dẫn Khiêm, gần lăng Tự Đức, lập một ngôi nhà đơn sơ lấy tên “Học bạn tinh xá” - làm nơi đèn sách cho con và chốn ẩn thân của mình. Nhà của ông cạnh khe nước gần ngôi nhà cũ của Miên Thẩm, lại gần nhà Miên Vãn (tức Cẩm Giang quận công - anh trai Miên Triện), nên người dân địa phương thường gọi là “Khe các hoàng tử”. Từ ngôi nhà này, hai chị em Úy Đào - Đạm Phương ngày ngày vượt một quãng đồi theo học với bà Quy Đức, tức công chúa Vĩnh Trinh, chị của Miên Triện. Bà Vĩnh Trinh có chồng hy sinh trong cuộc chiến ở Nam kỳ. Những năm cuối đời bà ẩn nhẫn thờ chồng, nuôi con, làm thơ và dạy học. Những nỗi lòng đau đớn ưu tư của lớp con cháu hoàng tộc như Miên Triện, Quy Đức công chúa cùng các hoàng thân khác chỉ dịu đi mỗi lần họ gặp mặt, cùng nhau xướng họa thơ văn.

Năm 1889, đầu triều Thành Thái, Miên Triện làm chánh sứ sứ đoàn Việt Nam gồm 10 người thăm Pháp nhân dịp Hội chợ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Pháp. Ngày 13 tháng 3 đoàn rời Huế đáp tàu thủy đi qua Tân Gia Ba, Ấn độ dương, Địa Trung hải; ngày 2 tháng 6 đến Paris. Sau 2 tháng lưu lại đất Pháp, ngày 2 tháng 8 sứ đoàn theo đường biển trở về nước.

Chuẩn bị chuyến đi này triều đình Huế giao Cơ Mật viện soạn sẵn hàng chục vấn đề dưới dạng hỏi - đáp để sứ đoàn thương thuyết với chính phủ Pháp đòi lại quyền lợi cho phía Việt Nam. Tuy nhiên phía Pháp tìm cách lờ đi, chỉ hứa sẽ cử người qua Việt Nam xem xét tình hình. Thực chất, họ coi hoạt động ngoại giao này thuần túy chỉ là một cuộc “thông hiếu”, thăm viếng. Tuy nhiên triều đình Huế đánh giá cao chuyến đi; coi đó là cơ hội bảo vệ địa vị triều đình Việt Nam trước người Pháp.

Cuối năm đó, Miên Triện dành thời gian ghi chép hành trình chuyến đi dưới thể lục bát với tên “Tây hành nhật trình diễn âm”, hiện còn lưu giữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Miên Triện sống những năm cuối đời trong phủ đệ cũ được triều đình cấp tiền tôn tạo lại. Ông thờ Phật, gắn mình với chùa chiền. Ông được vua Thành Thái lần lượt phục chức Quỳnh quốc công, rồi Hoằng hóa công. Không có con trai nối dõi, theo điển chế triều đình, ông được nhận con trai của người anh là Thọ Xuân vương Miên Định làm quá kế. Ông Hồng Du (sau đổi Hồng Hậu) về phủ, làm người nối dõi Phủ Hoằng Hóa, chăm lo việc thờ cúng trong phủ.

Ông qua đời ngày 4 tháng 4 năm Ất Tỵ (tức ngày 7/5/1905), thọ 73 tuổi. Trong hoàng tộc, ông được coi là người sống lâu, vì vậy bộ sách “Đại Nam liệt truyện” của Quốc sử quán Triều Nguyễn ra đời trước đó không có tên ông. Riêng bộ “Đại Nam thực lục” (Chính biên Đệ lục kỷ phụ biên) thì ghi rõ: “Hoằng Hóa công Miên Triện chết, truy tặng là Hoằng Hóa quận vương, cùng chuẩn trích tiền (300 đồng) cấp cho làm lễ mai táng (quận vương từng nhiếp phủ vụ, lại phụng đi sứ vất vả, đặc chuẩn tiến phong để tỏ rõ ý đôn thân)”.

Ông được an táng tại ngọn đồi ở ấp Dương Hòa, thôn Dương Xuân hạ, xã Thủy Xuân, tây nam thành phố Huế. Ngôi mộ được xây dựng cách đây trên 100 năm, trải qua binh hỏa, có thời gian thất lạc, nhưng vẫn giữ nguyên nét cổ kính, trầm mặc. Cạnh mộ ông là mộ bà thứ thất Trần thị do Đạm Phương nữ sử đặt bia cho mẹ hơn chục năm sau đó.

Trong phủ Hoằng Hóa còn lưu giữ bức chân dung Miên Triện trong bộ đại triều do họa sĩ André Robert vẽ vào thời gian ông lưu lại ở Pháp. Tại gian thờ còn treo cặp liễn chữ Hán của vợ chồng bà Đạm Phương kính dâng thân phụ vào năm 1926 để bày tỏ lòng tưởng nhớ người đã khuất:

山 斗 仰 遺 光 誦 到 七 篇 懷 令 德
袞 花 榮 繼 美 難 將 合 壁 詠 新 圖

Sơn Đẩu ngưỡng di quang tụng đáo thất thiên hoài lệnh đức
Cổn hoa vinh kế mỹ nan tương hợp bích vịnh tân đồ


(Diễn ý: Mỗi lần đọc lại những vần bảy chữ như ánh hồi quang của Thái sơn Bắc đẩu càng thấm thía tấm lòng tốt đẹp của người xưa - Vẻ vinh hoa xen lẫn mỹ miều của mũ áo ngày trước cũng khó hài hòa để vịnh bức tranh ngày mới).

Sau ngày Miên Triện qua đời, toàn bộ sáng tác của ông gồm 10 tập được bà Đạm Phương cất giữ. Nhà báo Phạm Quỳnh khi đến thăm Huế năm 1918 đã được bà cho xem bộ di văn này đã có nhận xét rất trân trọng. Tuy nhiên chỉ một số ít trong đó được in dưới dạng khắc gỗ, được lưu giữ một phần ở Thư viện Hán Nôm, còn phần lớn những bản viết tay khác, kể cả 6 vở tuồng đều đã thất lạc cùng tủ sách của bà Đạm Phương trong ngày đầu kháng chiến chống Pháp.
 

Tác phẩm "Ước Đình Thi Sao" - Ảnh tư liệu của NĐX

Tập thơ “Ước Đình thi sao” gồm hai quyển do nhà in Dực Kinh lâu tàng bản khắc in tháng 1 năm Tân Sửu đời Thành Thái (1901) hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Hán Nôm Việt Nam, Hà Nội dưới ký hiệu A778.

Quyển 1: gồm 88 bài; Quyển 2: gồm 99 bài; một phần ba là những bài viết trong chuyến đi sứ Pháp.

Tập thơ này ở trang bìa có ghi: “Thương Sơn tiên sinh phê bình” (tức Tùng Thiện vương Miên Thẩm phê bình); “Vĩ Dã tiên sinh phê bình giám định” (tức Tuy Lý vương Miên Trinh phê bình giám định) nhưng không tìm thấy bài viết.

Thơ ông giàu cốt cách nghệ sĩ đồng thời bộc lộ một tâm hồn đằm thắm, khiêm nhường với bạn bè, người thân, cả lúc an ổn lẫn lúc khó khăn đều không hề nguội lạnh. Qua thơ ông người ta thấy ông đau đáu một nỗi niềm với quê hương đất nước, buồn bã về những gì mình chưa làm được, hướng tới điều lương thiện, tốt lành. Như trong bài thơ Đề cố nhân sơn cư (Viết tại nhà bạn ở trên núi) ông bày tỏ:


醉 歌 涼 風 天
笑 椅 長 松 樹ï
白 雲 亦 無 心  
共 此 伴 間 住  

Túy ca lương phong thiên
Tiếu ỷ trường tùng thụ
Bạch vân diệc vô tâm
Cộng thử bạn gian trú
 

(Tạm dịch: Say hát nghiêng gió trời/ Vui cười lưng tùng dựa/ Vô tình mây trắng trôi/ Ngang qua đây ngưng tụ).  

Cùng với Tùng thiện vương Miên Thẩm, Tương An quận công Miên Bảo, Tuy Lý vương Miên Trinh, Lạc Biên quận công Miên Khoan, các bà công chúa nổi tiếng như Huệ Phố, Quy Đức, Mai Am, Hoằng Hóa quận vương Miên Triện là một trong những cây bút cuối cùng của thi ca hoàng gia triều Nguyễn với học vấn và nghệ thuật chính truyền, uyên áo được lưu giữ lâu dài trong phổ hệ văn hóa của nước Việt Nam xưa, sẽ được trân trọng khám phá và thưởng thức theo thời gian.

題 舍 弟 虞 仲 洗 心 亭
 
結 构 一 亭 小
頗 具 巖 壑 姿
朝 回 煮 茗 飲
飛 蓋 相 追 随
靜 夜 明 月 出
水 樹 光 離 離
珠 簾 四 壁 卷
玉 笛 臨 風 吹
妙 趣 欣 相 賞
美 景 生 遐 思
屋 手 柝 玄 理
始 信 君 非 癡
 
ĐỀ XÁ ĐỆ NGU TRỌNG* TẨY TÂM ĐÌNH

Kết cấu nhất đình tiểu
Phả cụ nham hác tư
Triều hồi chử mính ẩm
Phi cái tương truy tùy
Tĩnh dạ minh nguyệt xuất
Thủy thụ quang ly ly
Châu liêm tứ bích quyển
Ngọc địch lâm phong xuy
Diệu thú hân tương thưởng
Mỹ cảnh sinh hà tư
Ốc thủ thác huyền lý
Thỉ tín quân phi si

---
* Ngu Trọng: chưa rõ tên ai  


ĐỀ THƠ Ở TẨY TÂM ĐÌNH NHÀ EM NGU TRỌNG  

Dọn một ngôi đình nhỏ
Đậm nét miền hoang vu
Bãi triều đun ấm chè
Mặc chuyện đời úp mở
Đêm vắng, trăng tròn mọc
Cây lung linh bóng nước
Vén bốn vách rèm châu 
Sáo ngọc thổi cùng gió
Diệu thủ tuyệt vời vui
Cảnh đẹp nhiều cảm nghĩ
San sẻ điều huyền vi
Tự ngày đầu tri kỷ
 
鐘 聲  

深 愁 無 那 不 成 眠
何 處 鐘 聲 斷 續 傳
已 動 新 霜 搖 落 木
慣 催 斜 月 到 離 筵
旅 懷 寂 寞 秋 齋 客
殘 夢 依 稀 夜 泊 船
一 笑 起 來 攏 曉 鑰
半 生 紅 豆 誤 參 禪
 

CHUNG THANH  

Thâm sầu vô nả bất thành miên
Hà xứ chung thanh đoạn tục truyền
Dĩ động tân sương dao lạc mộc
Quán thôi tà nguyệt đáo ly diên
Lữ hoài tịch mịch thu trai khách
Tàn mộng y hi dạ bạc thuyền
Nhất tiếu khởi lai long hiểu thược
Bán sinh hồng đậu ngộ tham thuyền
 

TIẾNG CHUÔNG

Nỗi buồn thăm thẳm sao tròn giấc
Chẳng biết chùa đâu vẳng tiếng chuông
Lay động sương non buông mặt cỏ
Giục giã trăng tà ghé chiếu suông
Lữ thứ đìu hiu buồn phận khách
Tàn mộng mông lung bến buộc thuyền
Sáng dậy tiếng cười nghe tở mở
Nửa đời mê đắm chợt tham thiền
 

夜聞櫂歌作  

涼 亭 初 醒 酒
蓮 浦 遠 聞 歌
欲 問 采 蓮 女
蓮 心 何 苦 多
 
DẠ VĂN TRẠO CA TÁC  

Lương đình sơ tỉnh tửu
Liên phố viễn văn ca
Dục vấn thái liên nữ
Liên tâm hà khổ đa?   

ĐÊM NGHE TIẾNG CHÈO ĐÒ  

Đình mát chợt tỉnh rượu
Ai hát ngoài bến sen?
Sao tâm sen đắng vậy
Hỡi em, người hái sen?  

出 閘
 
前 頭 殘 月 落
對 面 閘 門 高
海 氣 全 迷 岸
湍 聲 自 折 篙
艱 難 殊 去 住
窮 簿 易 風 濤
世 路 皆 如 此
吾 生 信 所 遭   

XUẤT ÁP  

Tiền đầu tàn nguyệt lạc
Đối diện áp môn cao
Hải khí toàn mê ngạn
Thoan thanh tự chiết cao
Gian nan thù khứ trụ  
Cùng bạc dị phong đào
Thế lộ giai như thử
Ngô sinh tín sở tao
 

VƯỢT CỐNG NGĂN MẶN *  

Trăng tàn rơi qua đầu
Cống mặn giăng trước mặt
Hơi biển lạnh tái tê
Nước xiết sào gảy ngọn
Gian nan đi hay ở
Đâu dễ với ba đào
Đường đời chắc hẳn vậy
Ta tin vào rủi may.

---
* Cống ngăn mặn Thảo Long ở hạ lưu sông Hương có cửa nhỏ cho thuyền lọt qua, nước chảy khá xiết. Nay đã xây hẳn thành đập lớn
  

祿 米  

軍 餉 曾 聞 數 告 虧
米 船 今 望 即 來 遲
司 農 暫 作 遷 延 役
臣 朔 翻 騰 飽 死 訾
賴 末 何 心 忘 大 本
竊 餐 無 補 愧 虛 麼
殷 勤 為 與 庖 丁 道
粒 粒 端 由 是 淚 滋  

LỘC MỄ  

Quân hướng tăng văn số cáo khuy
Mễ thuyền kim vọng tức lai trì
Tư Nông tạm tác thiên diên dịch
Thần Sóc phiêu đằng bão tử tì
Lại mạt hà tâm vong đại bản
Thiết san vô bổ quý hư ma
Ân cần vi dữ bào đinh đạo
Lap lạp đoan do thị lệ từ 

GẠO  

Quân lương từng nghe báo thiếu hụt
Thuyền gạo hôm nay lại muộn về
Tư Nông* tạm gác phiên lao dịch
Thần Sóc** bất bình chuyện đói no
Ô lại sao quên điều gốc rễ
Tham quan chẳng bỏ nhục không chừa
Ân cần vốn đạo người coi bếp
Mỗi hạt đều là giọt lệ rơi

---
* Tư Nông: cơ quan phụ trách nông nghiệp.
** Thần Sóc: tức Đông Phương Sóc, một danh thần đời Hán Trung Quốc.
Theo “Hán thư: Đông Phương Sóc truyện” ghi: Anh hề lùn trong cung chỉ cao 3 xích dâng một túi ngô 240 tiền. Thần Sóc cao 9 xích cũng dâng một túi ngô 240 tiền. Anh lùn no muốn chết. Thần Sóc đói muốn chết. Ý muốn nhắc nhở về sự bất công.


經東華舊第感作  

東華橋下一條街
紅藕湖頭碧血埋
草色春來依舊綠
竟陵何處是高齋

KINH ĐÔNG HOA CỰU ĐỆ CẢM TÁC  

Đông Hoa kiều hạ nhất điều nhai
Hồng ngẫu hồ đầu bích huyết mai
Thảo sắc xuân lai y cựu lục
Cánh lăng hà xứ thị cao trai

CẢM TÁC TRỞ VỀ ĐÔNG BA THĂM NHÀ CŨ

Qua cầu Đông Ba lần lối cũ
Bao nhiêu máu đổ dưới hồ sen  
Cỏ xuân còn nhớ lên màu biếc
Gò đống nơi nào căn gác quen?  

灌疏  

公休官尚小
底事拔园葵
志岂求温饱
情原喜灌兹
微劳分老圃
小摘饭禅师
四礼勤操作
怜予从未哀  

QUÁN SƠ  

Công hưu quan thượng tiểu
Để sự bạt viên quì
Chí khải cầu ôn bão
Tình nguyện hỉ quán tư
Vi lao phân lão phố
Tiểu trích phạn thiền sư
Tứ lễ cần thao tác
Lân dư tòng vị ai  

TƯỚI RAU  

Tiền hưu vốn ít ỏi
Nên nỗi chăm luống dền
Đâu hẳn cầu no ấm
Mà vui việc tưới rau
Việc vặt phần ông lão
Một ít xin cúng chùa
Bốn lễ cần làm đủ
Xót mình cùng thương nhau  

对雨有懐  

独自空山住
相看急雨侵
诸溪新绿涨
群峭远青沉
宿草苍凉色
寒花淡荡心
重陽佳节近
谁复与登临

ĐỐI VŨ HỮU HOÀI  

Độc tự không sơn trú
Tương khan cấp vũ xâm
Chư khê tân lục trướng
Quần tiễu viễn thanh trầm
Túc thảo thương lương sắc
Hàn hoa đạm đãng tâm
Trùng dương giai tiết cận
Thùy phục dữ đăng lâm
 

HOÀI CẢM NGÀY MƯA  

Lẻ loi cùng núi vắng
Chạm mặt trận mưa dầm
Suối khe lênh láng nước
Núi tiếp núi xanh um
Cỏ xưa xơ xác lá
Hoa lạnh thoáng âm thầm
Trùng dương* sắp đón tiết
Được gặp người tri âm?

---
* Tiết trùng dương mồng 9 tháng 9 âm lịch, bạn bè mời nhau chơi núi, cùng uống hoàng tửu.
 

正拙示妻子  

予生拙且愚
不为子孙计
少小轻葉财
将老尤未替
无甚相关系
儞辈勤职恩
寡人只与祭
朝夕虽生存
视之同溘逝
疾病休扶持
贫困勿匡済
我自有我法
烦恼亦能制
杖履逍遥遊
无心久住世
一旦逃空门
解脱了真谛

CHÍNH CHUYẾT THỊ THÊ TỬ  

Dư sinh chuyết thả ngu
Bất vi tử tôn kế
Thiếu tiểu khinh diệp tài
Tương lão vưu vị thế
Vô thậm tương quan hệ
Nhĩ bối cần chức ân
Quả nhân chỉ dự tế
Triêu tịch tuy sinh tồn
Thị chi đồng khạp thệ
Tật bệnh hưu phù trì
Bần khốn vật khuông tế
Ngã tự hữu ngã pháp
Phiền não diệc năng chế
Trượng lí tiêu dao du
Vô tâm cửu trụ thế
Nhất đán đào Không môn
Giải thoát liễu chân đế

BÀY TỎ PHẢI TRÁI VỚI VỢ  

Ta vốn vụng mà dại
Không tính kế cháu con
Lúc bé khinh tài lộc
Đến già lại trống trơn
Chút quan hệ chẳng có
Người ta thì chức phận
Mình cô quả dự phần
Sớm chiều dẫu sinh tồn
Xem ra như khuất mặt
Tật bệnh khó chống đỡ
Nghèo khó chẳng phù trì
Ta có luật riêng ta
Ưu phiền cũng chế ngự
Chống gậy tiêu dao du
Vô tâm thì sống lâu
Một ngày trốn vào Chùa
Liễu ngộ lẽ chân đế

白 虎 道 場 賜 祭 陣 亡 將 士 歌 恭 紀  

城 西 突 兀 見 精 舍
陰 雲 攫 日 天 乍 夜
敕 然 法 炬 祭 國 殤
命 鄉 朝 服 來 拈 香
迦 陵 仙 禽 妙 音 奏
上 祝 君 王 千 萬 壽
下 祈 死 士 超 轉 輪
曼 殊 沙 花 雨 紛 繽
想 見 沙 蟲 與 猿 鶴
餘 勇 猶 能 勵 矩 躍
鬼 馬 鬼 雄 爭 度 橋
髑 髏 如 葉 風 旋 飄
深 碧 燈 光 不 到 處
青 燐 沙 中 相 偶 語
以 憐 失 策 陣 陶 斜
更 悲 橫 海 死 人 多
南 北 風 塵 歷 年 久
發 言 盈 庭 谁 執 咎
逐 令 宵 旰 勞 至 尊
仁 心 翻 念 三 軍 冤
彼 共 國 用 获 死 所
有 功 宜 祀 禮 寺 舉
無 使 若 敖 鬼 餒 而
豈 助 盛 撰 桑 門 飢
往 昔 天 姥 令 白 虎
二 十 餘 年 真 罕 睹
國 家 泉 布重 施 為
亦 如 兵 者 有 不 得
已 而 用 之
幽 靈 感 泣 老 僧 喜
散 場 同 飲 功 德 水
佛 力 宏大 皇 恩 优
有 司 慎勿 尤 效 窮 比 邱

BẠCH HỔ ĐẠO TRƯỜNG TỨ TẾ TRẬN VONG TƯỚNG SĨ CA CUNG KỶ  

Thành Tây đột ngột kiến tinh xá
Âm vân quắc nhật thiên tác dạ
Sắc nhiên Pháp cự tế quốc thương
Mệnh hương triều phục lai niêm hương
Ca lăng tiên cầm diệu âm tấu
Thượng chúc quân vương thiên vạn thọ
Hạ kì tử sĩ siêu chuyển luân
Man thù sa hoa vũ phân tân
Tưởng kiến sa trùng dữ viên hạc
Dư dũng do năng lệ củ dược
Quỷ mã quỷ hùng tranh độ kiều
Độc lâu như diệp phong toàn phiêu
Thâm bích đăng quang bất đáo xứ
Thanh lân sa trung tương ngẫu ngữ
Dĩ lân thất sách trận đào tà
Cánh bi hoành hải tử nhân đa
Nam Bắc phong trần lịch niên cửu
Phát ngôn doanh đình thùy chấp cữu
Trục lệnh tiêu hãn lao chí tôn
Nhân tâm phiên niệm tam quân oan
Bỉ cộng quốc dụng hoạch tử sở
Hữu công nghi tự lễ tự cử
Vô sứ nhược ngạo quỷ nỗi nhi
Khải trợ thịnh soạn tang môn cơ
Vãng tích Thiên Mụ lệnh Bạch Hổ
Nhị thập dư niên chân hãn đổ
Quốc gia tuyền bố trọng thi vi
Diệc như binh giả hữu bất đắc
Dĩ nhi dụng chi
U linh cảm khấp lão tăng hỉ
Tán trường đồng ẩm công đức thủy
Phật lực hùng đại hoàng ân ưu
Hữu ty thận vật vưu hiệu cùng tỉ khâu  

BÀI CA LỄ BAN TẾ TƯỚNG SĨ TRẬN VONG TẠI ĐẠO TRƯỜNG BẠCH HỔ  

Thành Tây đột ngột thấy miếu đền
Mây che mặt trời ngày thành đêm
Bất ngờ đuốc Pháp tế quốc tang
Lệnh vua triều phục đến dâng hương
Tiếng chim ca-lăng đã khởi tấu
Trên chúc quân vương ngàn năm tuổi
Dưới cầu tử sĩ được siêu sinh
Hoa thiêng làm mưa rơi rực rỡ
Như bóng sinh linh cùng hạc vượn
Uy dũng còn thừa nhảy bật lên
Ngựa quỷ trâu ma tranh qua cầu
Đầu lâu như lá quay trong gió
Leo lét đèn xanh soi chẳng thấu
Lửa ma trong cát giọng u huyền
Đáng thương thất sách không ngang sức
Càng đau biển ngang chết lắm người
Nam Bắc phong trần ngày tháng dài
Điều tiếng triều đình ai nhận lỗi
Giục lệnh đêm hôm nhọc bề trên
Nhân tâm chao đảo ba quân oan
Đã vì việc nước chọn chỗ chết
Ghi công nghi lễ chùa thờ cúng
Bất kể rong chơi làm quỷ đói
Lại bày thịnh soạn giữa chùa nghèo
Tích xưa Thiên Mụ lệnh Bạch Hổ
Hai chục năm hơn hiếm khi thấy
Đồng tiền nhà nước vẫn còn dùng
Cũng như việc binh bất đắc dĩ
U linh bật khóc lão tăng vui
Chia tay cùng uống nước công đức
Phật lực to lớn, hoàng ân nhiều
Quan ty cẩn thận chớ theo đuổi tỳ kheo.

N.K.Đ
(TCSH393/11-2021) 



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.

  • JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.