Thơ Dự Thi Sông Hương 03-2003

15:56 08/05/2009
Hải Trung - Văn Cầm Hải - Ngô Tự Lập - Nguyễn Tấn On - Phan Trung Thành - Trần Thị Thu Huề

 

HẢI TRUNG

Mưa dầm

Dáng thành phố lẫn khuất vào tưởng tượng
Cố hình dung gương mặt khi mưa cơ hồ xoá tan vết dấu

Đường thênh thang nào tránh được nhau
Gió võng qua đây bao mùa trở nết:
- Mùa hạ oằn lưng
- Mùa đông võng ngực

Thương con đường cơ cực
Nhẫn nại ngửa mình với hạ với đông
Nhẫn nại lặng im đối mặt với hư không
Rầm rào vật thể chuyển động

Mưa khoác áo choàng rêu
Tưởng đâu đây có rừng nguyên sinh còn hăng nồng mùi vị
Tóc thành phố là những rễ si già đang quấn vào tôi ý nghĩ
Quá khứ lên men sau tầm tã nước - mắt - em.

Hoa văn miền cao

Đêm cúi xuống hôn núi rừng bằng những giọt sương khuya
a-lê-ngoi (*) nào các chàng trai cô gái
bếp lửa bập bùng đam mê
rượu say người lênh lang vũng tối

bết thời gian nứt nẻ những bàn chân
tiếng cồng sặc hơi men âm vực lạc mắt
múa thành hoa văn
thành ước mơ ngấm sâu vào đất

đêm cũng chiều theo bếp lửa rực hồng
mà thêm sâu, đêm dài theo rừng rú
ánh sáng khơi lên bừng cả không trung
hoa văn miền cao là những vì tinh tú.

-----------------------
(*) Nghĩa là: cạn chén (tiếng đồng bào dân tộc Pa-Cô, A Lưới)

Đá núi

mùa mùa trôi trên áo đá
giao hưởng nắng mưa lập thể sắc màu
nền phế tích loang từ ngực thiếu phụ
chẳng hẹn hò, như thể chờ nhau

không làm người thì thiên nhiên làm tượng
chẳng vọng gì mà cứ vọng phu
giữa chênh vênh đá vẫn nguyên bất tử
nỗi niềm chung, riêng tạc dáng sương mù.

và trên cao, xoay vần bao đá cuội
là muôn ngàn con mắt thiên di
tin như thế, để nhìn xuống đất
bóng con người chẳng thẹn với lối đi.

đá muôn đời vẫn là đá núi
mùa cứ trôi trên áo thị thành
có những gì chỉ là phế tích
vẫn vọng về đen, trắng, vàng, xanh...

VĂN CẦM HẢI

Ngôi nhà cảm và luận *

                Của căn phòng 605 - Phường Mai, Hà Nội

Thời không gian mê
đôi dép biếc tầng sáu
sóng phơi khô lề biển
ngực em vừa lửa
căn phòng cảm
chân ngã tư hàn lạnh
rêu kết tủa niêm phong
chỉ một liều đêm
căn phòng reo nấm độc
ngôi nhà đổ tiếng ho ngày nào tàng hình trong lá, cả vườn
                               cây kim tiêm rét rỉ              
bóng ma dứt cơn sốt
người dương cầm
lên cơn tổng phổ
đôi dép xanh
phục áo thao nương rẫy
bên mắt hiên chùm hoa ti gôn cũng đỏ màu tập thể
giọt máu
cánh cong
Anh tôi
Cái bản làng gọi máu ngất khô phục sinh đô thị
thơ môi đỏ chấm câu vợ lẻ
vẫn đạo ca chính lễ thời gian.

----------------------
* Chữ dùng của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

Đỉnh em

bão
triều cống
Miền Trung
một nhấp sóng hắt hơi đại dương tím tái, con đò xoáy vào lòng tổ quốc
chiếc mũ rơi
bão kêu
vút pháo hiệu
đỉnh em
nghe sơn hà lộp độp khai sinh
mới thơ
anh đã nhận ra em con nước vỡ bờ
lũ sớm nhiều tự dưng được giải phóng lọn cỏ cuồng lưu xanh thắm
xốc mùa đông nôn nao trên ổ rơm vàng chết đuối
bão cháy lập thể
dáng bùa yêu miền Trung phơi phới bao lần trái đất đòi hất quê hương
                                           ra biển bè chuối
nổi khô dao vết mủ, xóm trên nhầm xóm dưới cuốn phăng đám cưới
chuột đồng phù sa duỗi thẳng mái lưng em màu mỡ, lân tinh
       tiếng thở hồ đồ
dốc đứng ngôi làng
giây bão miền Trung
đủ dày lịch sử
ai chưa qua chưa biết mùi bi tráng huống hồ chi đòi biết em tôi!
                                                                Bão số 5 - 20.11.98

Gánh lúa

Gánh lúa
đâu có chuyện siêu hình kĩu kịt cặp kính viễn thị
cây đa râm thanh la
vỡ sắc màu tự nhiên
lựa chọn tôi hay lòng em quan ngại tìm đến
gốc rạ rúc còi khô
nếm đỏ dầu
vỗ mặt lương tâm
hợp xướng máng nhện
gánh lúa
xát xay thị thành
hạt lép cườm chim cu vẫn sảng gáy giọng bùn
giữa thời đại đồ hoạ
mím môi lục bình
gánh lúa vào thế hệ vét tông
                                 Láng Tràn 1.5.1993

NGÔ TỰ LẬP

Người đàn ông mắt to

Khi nhắm mắt, những giấc mơ bắt đầu
Nhưng mở ra
Chính đôi mắt mới là giấc mơ lớn nhất
Giấc mơ buồn
Mang thế giới màu trời dông bão.

Đôi mắt đã nhìn thấy hoa buổi chiều cuối hạ
Trôi trên dòng sông chữ ố vàng
Thân thể đàn bà toả sáng trong đêm
Lòng hối hận chìm trong quên lãng
Và ký ức đau lòng người quay mặt bỏ đi.

Đôi mắt đã nhìn thấy đồng lúa
Vàng tươi đến chân đồi
Con đường quê cỏ gà múp míp.

Đôi mắt đã nhìn thấy biển khơi
Tro tàn, khoảnh khắc
Rượu lênh láng boong tàu đêm tháng chạp.

Đôi mắt tròn xoe vũng nước trước nhà
Tháng năm qua bời bời mây trắng.

Tôi xếp gạch dưới hàng hiên
Dưới những cây nhài hoa lẫn vào đốm nắng
Gió xao xác, trong vườn ai bỏ chạy.

Hàng gạch dài
Đi vào những giấc mơ.

Cây vừa đổ em vừa đi

Cây vừa đổ em vừa đi
Trời rộng hơn lòng tôi thêm khoảng trống.

Lạ lẫm cả trong phòng mình
Tiếng kêu xa
Giống như những cánh bướm
Đã rã xuống
Trôi đi cùng những cánh bèo tây.

Lần đầu tiên tôi trông thấy
Những đường gân xanh trên đôi tay mình
Tôi không đoán được nét mặt người đã quay đi
Nhưng tôi biết có những người đàn ông may mắn.

Dù đã lại qua thêm được một mùa dông nữa:
Nhưng những gì còn lại vẫn quá nhiều

Giả kim thuật vĩnh cửu
Bởi tôi biết đam mê
Bởi tôi biết đam mê là có thật
Bởi trang giấy trắng chẳng dễ gì mất được
Bởi cặp má xinh trong mơ hồng thơm rượu bồ đào
Khi những cặp tình nhân mệt mỏi thiếp đi
Và người chết, ai cũng rõ, không bao giờ nói được.

Ánh sáng loá đôi khi khiến ta giật mình
Như tiếng gõ cửa dữ dội trong đêm cô độc

Nhưng đó chỉ là ban ngày
Với cánh én hiền hoà bay trên trời rộng.

NGUYỄN TẤN ON

Rượu rừng

Em cứ đùa như thật
Ta thật tình như say
Rượu tình em chưng cất
Thật tình thật tình say

Rượu ủ men lá núi
Cất trong choé lòng rừng
Em gùi trăng xuống suối
Gùi tiếng đàn T' rưng

Dáng em mềm như lửa
Lửa cười reo vui mừng
Lá nghiêng lòng như liếc
Biếc ngọn mùa rưng rưng

Đêm dạ hương thơm quá
Lạnh cong cành heo may
Ta về thăm phố núi
Có vậy thôi dăm ngày

Thương tiếng gà gọi nắng
Thương chim cú ngủ ngày
Thương trầm hương gái núi
Thương nụ tình trên tay
                                Đà Lạt, tháng 5.2001

PHAN TRUNG THÀNH

Tiếng vỗ cánh bầy sẻ ngô

Chục sẻ ngô mươi ngàn, người mua phóng sinh
tầm mưa bắt đầu vọng
tháng giêng hay tháng bảy tiếng vỗ cánh bầy sẻ
bão thanh miệng lưỡi, cám nước nuôi tiếng kêu
tiếng kêu nuôi sự sống ngoài lồng
ta phóng sinh
người bán chim mời, khẽ dụi mắt sáng đường bay vỡ
những mẩu bánh mì vụn trong lồng rỗng mây trời bay qua
bay qua...
mồ bé đã mười năm chưa tảo
cát hanh không mùa
sợi gân máu trên da thịt em chùm lưỡi sẻ khô còn nóng
chưa rời miệng lồng, sau lớp đất thâm u
bầy sẻ ngô bay cùng tiếng vỗ
phóng sinh tiếng khóc của mình

TRẦN THỊ THU HUỀ

Đá nhảy

Đây chẳng phải đá nào cũng nhảy
Có dáng nằm, dáng đứng, dáng ngồi,
Nhưng ở trên cao, đặt đâu chịu đấy,
Chỉ dưới thấp này đá mới nhảy thôi

Dưới thấp này đá đùa vui với sóng,
Mà sóng không bình lặng bao giờ:
Mới uốn lượn như rồng xanh, rồng đỏ
Đã chói ngời bọt trắng ào xô!

Mới êm dịu cất tiếng đàn, tiếng nhị
Đã ầm ào như họng súng thần công.
Sống là thế: Thất thường tính khí
Chơi với nhau, đá phải chiều lòng!

Theo nhịp sóng, đá lắc lư, nhún nhảy
Bước thấp, bước cao, bước trụt, bước trồi
Rũ rêu mốc, đá thoát mùi tục luỵ
Gật gù chào mây bạc lững lờ trôi...

Từ dạo đó đá thành vũ nữ
Trải triệu năm vẫn đẹp vẻ ban đầu
Còn nhảy nhót là đá còn tươi trẻ
Giữa trùng trùng con sóng bạc tóc râu!
               Đồng Hới, những ngày nằm viện (10/2002)

(169/03-03)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Sinh tại Ngọc Hà, Ba Đình, Hà NộiHội viên Hội Nhà văn Hà NộiCác tập thơ đã in:                + Gửi con lời ru                + Em đi ngang chiều gió                + Cỏ mặt trờiCác giải thưởng:                + Giải nhất cuộc thi thơ Trung tâm Văn hoá Q 3, TP.HCM                + Giải ba cuộc thi thơ lục bát Tuần báo Văn nghệ

  • Trần Hoàng Phố  - Vũ Thị Khương - Trần Hữu Lục - Lê Tấn Quỳnh - Bùi Đức Vinh - Nguyễn Công Bình - Ngô Cang - Văn Lợi - Hà Huy Hoàng - Nguyễn Ngọc Hạnh

  • Thần Đinh uy nghiêm kiêu dũngThanh tao tạc dáng bên trờiĐế vương ngầm ghen thế núiVung roi phạt BÁT NGHĨA SƠN...

  • Họ và tên đầy đủ: Nguyễn Công Nam - Sinh 1953Bút danh: Công NamQuê: Hùng Tiến - Nam Đàn - Nghệ AnLà hội viên HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT HẢI PHÒNGTác phẩm đã xuất bản: - TIẾNG VỌNG ĐÊM MƯA -Thơ (NXB Hải Phòng). - Giải thưởng cuộc thi thơ 2001 - 2003 của TCSH.

  • Trên bầu trời, một vì sao đỏ chóiRót ánh sáng vào tháng ngày hấp hốiMáu sao rơiGiọt lịm lưng thềmCây nến tim tôi bùng cháy...

  • Nguyễn Sĩ Cứ - Võ Thị Hồng Tơ - Hoàng Cầm - Đào Duy Anh - Hoàng Ly Thạch Thảo - Võ Văn Luyến - Phạm Duy Tân

  • Tên khai sinh: Vương Oanh NhiSinh năm 1947 tại Hải Phòng.Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam .Học viên khoá IV Trường viết văn Nguyễn DuTác phẩm chính: + Lối nhỏ (1988)           + Bài mẫu giáo sáng thế(1993)

  • CHÂU NHONăm 1968 tại mặt trận biên giới Việt - Lào, trung đội chúng tôi sau 3 ngày quần nhau với địch, 3 đồng chí hy sinh và trung đội trưởng bị thương nặng. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, đêm đó trung đội trưởng đã “nói chuyện với người yêu” trong cơn mê sảng. Xúc động trước tình cảm đó, tôi đã chuyển lời của người liệt sĩ thành bài thơ gửi về cho người yêu của anh ở hậu phương là cô Lê Thị Ánh, giáo viên cấp I ở một bản thuộc huyện Quế Phong, Nghệ An.

  • Hà Duyên - Nguyễn Thụy Kha - Nguyễn Thanh Văn - Nguyễn Văn Quang - Phạm Xuân Dũng - Lê Tuấn Lộc - Hồng Thị Vinh

  • Phạm Tấn Hầu - Lê Ngã Lễ - Lương Ngọc An - Lê Bá Thự - Phạm Thị Anh Nga - Đoàn Mạnh Phương - Trịnh Văn - Nhất Lâm - Hoàng Lê Ân.

  • NGUYỄN VĂN DINHCâu thơ BácThuở chăn đơn Bác đắp trong hangỐc suối, cơm ngô, nõn chuối ngànThơ Người vẫn viết cho ta đọc"Cuộc đời cách mạng thật là sang".

  • Nguyễn Trọng Tạo - Diệp Minh Luyện - Nguyễn Việt Tư - Lê Viết Xuân - Trần Lan Vinh - Mai Văn Phấn

  • Trương Đăng Dung - Văn Công Hùng - Nguyễn Thụy Kha - Văn Công Toàn - Vĩnh Nguyên - Phan Tường Hy

  • Vũ Thị Huyền - Công Nam - Nguyễn Cảnh Tuấn - Đặng Hiển - Trần Đôn - Nguyễn Văn Hùng - Nguyễn Thị Thái

  • LTS: Binh đoàn Hương Giang thành lập ngày 17.4.1974, mang tên dòng sông thơ mộng. Sau khi giải phóng Huế, Binh đoàn tham gia chiến dịch thống nhất Tổ quốc, tiến thẳng vào Dinh Độc Lập ngày 30.4.1975. Sống lại những ngày tháng oai hùng đó, Nguyễn Trọng Bính, một sỹ quan của Binh đoàn đã viết trường ca “Nhật ký dòng sông” năm 2008. Tác phẩm này vừa được Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam xếp loại xuất sắc trong đợt sơ kết Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca về đề tài Chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân 2006 - 2008. Dưới đây, Sông Hương xin giới thiệu cùng bạn đọc một trong số 11 chương của trường ca này.

  • CAO XUÂN THÁISinh năm: 1948 - Tại Vương quốc Thái LanVề nước năm 1960Quê quán: Hoa Lư - Ninh BìnhHội viên Hội Nhà văn Việt NamPhó Chủ tịch Hội VHNT Hà Giang - Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Hà Giang.

  • Nguyễn Đông Nhật - Chử Văn Long - Lê Hoàng Anh - Trịnh Lữ - Đào Trung Việt - Nguyễn Trần Thái - Nguyễn Thị Anh Đào - Nguyễn Loan - Nguyễn Văn Quang

  • Lê Ngọc Thuận - Từ Dạ Thảo - Đặng Hùng Thường  - Tuệ Lam  - Hoàng Thị Thiều Anh - Trần Tịnh Yên - Nguyễn Hoa - Nguyễn Thị Tân Hoa - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Thụy Kha

  • Hữu Thỉnh - Lưu Ly - Đặng Nguyệt Anh - Sơn Thu - Trịnh Thanh Sơn - Nguyễn Xuân Sang - Văn Công Toàn - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Thị Ngọc Hà - Nguyễn Thiền Nghi - Nguyễn Mẫn Cán - Lê Ngã Lễ - Mai Văn Hoan - Xuân Tùng - Lê Thị Mây - Lê Viết Xuân - Ngô Minh - Quang Huy - Thái Doãn Long - Hà Minh Đức - Sơn Đức - Tôn Nữ Thu Thuỷ - Lê Khánh Mai - Bùi Minh Quốc - Ngô Đức Tiến - Trương Quân - Trương Nam Hương - Đoàn Mạnh Phương - Nguyễn Sĩ Cứ - Thuý Nga - Lê Huy Quang - Hồ Thế Hà - Phạm Đình Ân - Trần Tâm - Hoàng Xuân Thảo

  • Thục Linh - Ngân Vịnh - Nguyễn Ngọc Phú - Hoàng Bình Trọng - Tôn Phong