Thơ Dự Thi 3-2002

15:23 11/08/2008
Nguyễn Hữu Hồng Minh - Nguyễn Đăng Việt - Đỗ Hoàng - Nguyễn Vĩnh Nguyên


NGUYỄN HỮU HỒNG MINH

Dự cảm cây liễu
                                               
Tặng Trần Tiễn Cao Đăng

Trong bão táp tháng Mười
                                    tôi lắng nghe dự cảm của cây liễu
Bầu trời là vòm cung, thân cây là mũi cung
Sự hoang bạo của gió làm những mũi tên rung lên
Như chuẩn bị bắn vào nỗi khát vọng chưa rõ mặt

Qua bình yên nắng ấm tháng Hai
                                    tôi không còn nghe chúng nói
Nhưng dưới thảm lá đã để lộ một cuộc sống
                                    thật khó nhọc và bền bỉ
Tiếng rễ quẫy mạnh trong da thịt đất đai
Tiếng rách toạc mãnh liệt và bí huyền
Khởi nguồn dự cảm trong xanh
                                    Chờ cơn bão đến...
Tân Tiến, Cà Mau 2001

Bùng nổ từ ghi chú

Ghi chú Thơ
Như ném thêm một nghĩa vào phạm trù đã chật
Những khoảng rỗng đựng trong khoảng rỗng
                                                của một khoảng rỗng

Ghi chú Từ
Sự thừa thãi toàn bộ vẫn chưa đủ sao?

Ghi chú Dòng
Cô đơn hơn bao giờ
Lách vào đâu chỗ đứng đã hẹp
                                    chỉ một cơn gió nhẹ
                                                là hất tung tôi vào thế giới?
2001

Luân phiên ánh sáng

Yêu sự giản dị em
Như yêu câu thơ nhỏ nhoi
                                    gởi trong lòng thế giới
Anh đã sống rất nhiều cho câu thơ
                              như em đã sống rất nhiều cho anh
Giản dị một thành tố

Câu thơ chẳng bao giờ nguôi nghĩa trong anh
Bí mật em, anh tìm kiếm một đời
Đôi khi anh nhớ em như nhớ một thành phố đã vắng mặt
Câu thơ nâng anh trong cuộc bay
                                    hoang lộng của đôi cánh

Mọi giới hạn triệt tiêu khi giản dị khởi hành
Chúng ta chấp cả thế giới này

Vẫn có lúc thơ anh buồn vô vọng như mắt em
Những luân phiên ánh sáng nghìn xưa
                                    gởi về từ các đô thị chết hoài cô đơn

Yêu sự giản dị cắt đứt
Chúng ta lướt đi trong rạn nứt của các mẫu tự
Có thể thời đại mới tìm thấy anh trên xác chữ hoang tàn

Chỉ còn em
            trong cuộc săn lùng
Vẫn đầy bí ẩn, hoang sơ như một thành tựu
Sài Gòn 2001

NGUYỄN ĐĂNG VIỆT

Mâm ngũ quả

Mỗi độ xuân về
Tiễn một năm lam lũ
Những quả táo quả na
Những quả chuối, quả bưởi, quả hồng
Được trang trọng bày trên bàn thờ dâng hiến

Cha tôi cho đó là thiêng liêng
Ai không trồng vườn xem là chuyện vặt
Cha thắp nén hương vái chư vị thần tiên
Phù trì đón một năm an khang thịnh vượng

Ngày thứ nhất
Ngũ quả khoe vàng đỏ xanh thật đẹp
Ngày thứ hai
Ngũ quả chín mọng toả hương nồng nàn
Ngày thứ ba
Mấy con chuột vô tâm
Không cần biết đó là vật thiêng cúng thần
Chia chác nải chuối quả hồng
Xéo nát mâm trời ngũ quả

Năm nào cũng vậy
Cha tôi bày ngũ quả
Lũ chuột mãi vô tình
Xem đó là miếng ngon tạo hoá
Cha lẳng lặng gom nhặt những nát nhàu vương vãi
Thả xuống dòng xanh
Trước thềm nhà cha sống
Để trôi đi chút phiền muộn... của Người.

Lời cỏ non

Cái đêm mẹ thả bên đường
Là đêm con được người thương bế về
Lối nhà mưa với não nề
Sập sùi cỏ dại dầm dề gió mây

Bát cơm sớm tối nguôi ngoai
Thương con nuôi mẹ chung vai gánh sầu
Nhặt về từ chốn bể dâu
Cuống rau thắt vội nhợt nhàu tím da

Trụi trần giữa bãi phôi pha
Cong queo trong bọc như là rác thôi
Mớm cơm bế giấc ẵm nuôi
Giờ đà khôn lớn nhớ người sinh ra

Tìm đâu hỡi mẹ! hỡi cha!
Tìm đâu thấu hiểu mẹ cha vô tình
Như hình thiếu gốc tâm linh
Như hình máu mủ tội tình nổi trôi.

Giọt hồng nên một kiếp đời
Rụng rơi trần tục - cõi người yêu con
Cha sinh mẹ dưỡng vuông tròn
Trúc tre đùm bọc măng non giữa rừng

Đã qua đêm ấy bão bùng
Chia xa còn nhớ về vùng... cỏ xưa.

ĐỖ HOÀNG

Viếng chùa

Làm người chưa trọn kiếp người
Còn mơ kiếp Phật cao vời thế kia
Kiếp người đâu dễ dứt đi
Cõi trần những thứ tham, si hại mình

Tơ - duyên hai chữ tội tình
Mắt ai là bóng, là hình níu ta
Đường về cõi Phật thì xa
Nỗi đời nặng lắm biết ra lối nào!

Bên thành Luy Lâu (1)

Nghìn năm trận mạc về đâu
Chỉ còn lại một Luy Lâu phế thành
Chỉ còn ngọn cỏ mong manh
Hàng tre cổ tự, cỗi cành leo nheo

Chỏng chơ đá gạch, cánh bèo
Kiếm cung dấu ngựa tan veo bụi đường
Trong chiều phảng phất mơ sương
Người không tên đất chẳng hương khói gì

Bá vương mộng mị tàn đi
Thành xưa một chỗ để ghi nhớ rằng...
Luy Lâu 2/2001
---------------------------------
 (1) Thành nhà Hán cũ, thời xâm lược nước ta.


NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

Những vì sao đêm nay

Trong cơn đau sinh nở
mẹ ngước mắt lên trời
hơi thở dồn
làm mờ những vì sao...

Khi lời kinh bật máu bay lên
những vì sao vụt tắt
bỏ rơi bóng đêm u uyên, quằn quại
cơn đau mang khuôn mặt quỷ dữ thét gào
... chỉ sót lại cái nhìn thiên thần
- cô độc trận sinh thành bĩ cực!

Khoảnh khắc những lời kinh vụt tắt
mẹ ghì xiết vào những vì sao bay ra từ tiếng khóc đầu tiên con
bùng vỡ trên khuôn mặt nồng nã mồ hôi và mịt mùng nỗi sợ,
... từng mảng đêm trôi đi, trôi đi...

Có tiếng thều thào chạm vào khuôn mặt vì sao hài nhi lấp lánh
Rồi lả đi trong vòng tay ban mai!
Dalat, tháng 12/2001

(nguồn: TCSH số 157 - 03 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Sinh tại Ngọc Hà, Ba Đình, Hà NộiHội viên Hội Nhà văn Hà NộiCác tập thơ đã in:                + Gửi con lời ru                + Em đi ngang chiều gió                + Cỏ mặt trờiCác giải thưởng:                + Giải nhất cuộc thi thơ Trung tâm Văn hoá Q 3, TP.HCM                + Giải ba cuộc thi thơ lục bát Tuần báo Văn nghệ

  • Trần Hoàng Phố  - Vũ Thị Khương - Trần Hữu Lục - Lê Tấn Quỳnh - Bùi Đức Vinh - Nguyễn Công Bình - Ngô Cang - Văn Lợi - Hà Huy Hoàng - Nguyễn Ngọc Hạnh

  • Thần Đinh uy nghiêm kiêu dũngThanh tao tạc dáng bên trờiĐế vương ngầm ghen thế núiVung roi phạt BÁT NGHĨA SƠN...

  • Họ và tên đầy đủ: Nguyễn Công Nam - Sinh 1953Bút danh: Công NamQuê: Hùng Tiến - Nam Đàn - Nghệ AnLà hội viên HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT HẢI PHÒNGTác phẩm đã xuất bản: - TIẾNG VỌNG ĐÊM MƯA -Thơ (NXB Hải Phòng). - Giải thưởng cuộc thi thơ 2001 - 2003 của TCSH.

  • Trên bầu trời, một vì sao đỏ chóiRót ánh sáng vào tháng ngày hấp hốiMáu sao rơiGiọt lịm lưng thềmCây nến tim tôi bùng cháy...

  • Nguyễn Sĩ Cứ - Võ Thị Hồng Tơ - Hoàng Cầm - Đào Duy Anh - Hoàng Ly Thạch Thảo - Võ Văn Luyến - Phạm Duy Tân

  • Tên khai sinh: Vương Oanh NhiSinh năm 1947 tại Hải Phòng.Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam .Học viên khoá IV Trường viết văn Nguyễn DuTác phẩm chính: + Lối nhỏ (1988)           + Bài mẫu giáo sáng thế(1993)

  • CHÂU NHONăm 1968 tại mặt trận biên giới Việt - Lào, trung đội chúng tôi sau 3 ngày quần nhau với địch, 3 đồng chí hy sinh và trung đội trưởng bị thương nặng. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, đêm đó trung đội trưởng đã “nói chuyện với người yêu” trong cơn mê sảng. Xúc động trước tình cảm đó, tôi đã chuyển lời của người liệt sĩ thành bài thơ gửi về cho người yêu của anh ở hậu phương là cô Lê Thị Ánh, giáo viên cấp I ở một bản thuộc huyện Quế Phong, Nghệ An.

  • Hà Duyên - Nguyễn Thụy Kha - Nguyễn Thanh Văn - Nguyễn Văn Quang - Phạm Xuân Dũng - Lê Tuấn Lộc - Hồng Thị Vinh

  • Phạm Tấn Hầu - Lê Ngã Lễ - Lương Ngọc An - Lê Bá Thự - Phạm Thị Anh Nga - Đoàn Mạnh Phương - Trịnh Văn - Nhất Lâm - Hoàng Lê Ân.

  • NGUYỄN VĂN DINHCâu thơ BácThuở chăn đơn Bác đắp trong hangỐc suối, cơm ngô, nõn chuối ngànThơ Người vẫn viết cho ta đọc"Cuộc đời cách mạng thật là sang".

  • Nguyễn Trọng Tạo - Diệp Minh Luyện - Nguyễn Việt Tư - Lê Viết Xuân - Trần Lan Vinh - Mai Văn Phấn

  • Trương Đăng Dung - Văn Công Hùng - Nguyễn Thụy Kha - Văn Công Toàn - Vĩnh Nguyên - Phan Tường Hy

  • Vũ Thị Huyền - Công Nam - Nguyễn Cảnh Tuấn - Đặng Hiển - Trần Đôn - Nguyễn Văn Hùng - Nguyễn Thị Thái

  • LTS: Binh đoàn Hương Giang thành lập ngày 17.4.1974, mang tên dòng sông thơ mộng. Sau khi giải phóng Huế, Binh đoàn tham gia chiến dịch thống nhất Tổ quốc, tiến thẳng vào Dinh Độc Lập ngày 30.4.1975. Sống lại những ngày tháng oai hùng đó, Nguyễn Trọng Bính, một sỹ quan của Binh đoàn đã viết trường ca “Nhật ký dòng sông” năm 2008. Tác phẩm này vừa được Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam xếp loại xuất sắc trong đợt sơ kết Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca về đề tài Chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân 2006 - 2008. Dưới đây, Sông Hương xin giới thiệu cùng bạn đọc một trong số 11 chương của trường ca này.

  • CAO XUÂN THÁISinh năm: 1948 - Tại Vương quốc Thái LanVề nước năm 1960Quê quán: Hoa Lư - Ninh BìnhHội viên Hội Nhà văn Việt NamPhó Chủ tịch Hội VHNT Hà Giang - Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Hà Giang.

  • Nguyễn Đông Nhật - Chử Văn Long - Lê Hoàng Anh - Trịnh Lữ - Đào Trung Việt - Nguyễn Trần Thái - Nguyễn Thị Anh Đào - Nguyễn Loan - Nguyễn Văn Quang

  • Hải Trung - Văn Cầm Hải - Ngô Tự Lập - Nguyễn Tấn On - Phan Trung Thành - Trần Thị Thu Huề

  • Lê Ngọc Thuận - Từ Dạ Thảo - Đặng Hùng Thường  - Tuệ Lam  - Hoàng Thị Thiều Anh - Trần Tịnh Yên - Nguyễn Hoa - Nguyễn Thị Tân Hoa - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Thụy Kha

  • Hữu Thỉnh - Lưu Ly - Đặng Nguyệt Anh - Sơn Thu - Trịnh Thanh Sơn - Nguyễn Xuân Sang - Văn Công Toàn - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Thị Ngọc Hà - Nguyễn Thiền Nghi - Nguyễn Mẫn Cán - Lê Ngã Lễ - Mai Văn Hoan - Xuân Tùng - Lê Thị Mây - Lê Viết Xuân - Ngô Minh - Quang Huy - Thái Doãn Long - Hà Minh Đức - Sơn Đức - Tôn Nữ Thu Thuỷ - Lê Khánh Mai - Bùi Minh Quốc - Ngô Đức Tiến - Trương Quân - Trương Nam Hương - Đoàn Mạnh Phương - Nguyễn Sĩ Cứ - Thuý Nga - Lê Huy Quang - Hồ Thế Hà - Phạm Đình Ân - Trần Tâm - Hoàng Xuân Thảo