Thơ Dự Thi 1-2002

16:23 28/07/2008
Huỳnh Lê Nhật Tuấn, Bùi Văn Dung, Vương Tuyết Mai, Vi Thuỳ Linh  


HUỲNH LÊ NHẬT TUẤN

Hoa bọt

Nắng đã sắp nhạt chiều
hơi ấm của lòng đất thơm hương
cỏ lạnh
về trên khuôn mặt tôi.
tôi đã cười phàn nhăn trên trán
như vẫn trẻ trung như ngày nào
anh em tình cờ
(cái tình cờ suốt một đời khốn khổ)
nhuộm tím giấc mơ chưa đến tuổi
xanh màu
nhuộm từ con đường ngày xưa
từ sớm mai ngắm em về
từ chiếc áo dài thênh thang qua phố
nghe hoàng hôn vỡ vụn phía chân trời

anh gọi lời yêu cho em đây
những lời yêu như khúc rơi biến tấu
vỗ lên miền hoang ca
những khát khao đợi chờ:
từng ngày
mong
đến!
                                   
16-9-1997

Thạch hồng

Thiếu nữ Chàm múa vũ điệu
Bàn tay chuyển động cong cỏ sương

Đà Nẵng thân yêu!
Bài thơ gọi sắc màu se lạnh
Những ánh mắt ngần cao thật hiền hoà
Nguyện cầu tin yêu cuộc sống

Tôi về từ mùa lũ lụt
Sông Hàn tim tím Sơn Trà mù sương
Tình yêu như chiếc cầu nối sang sông
Ghế đá lạnh cong vai cô tịch
Trong chiếc lưỡi của em
Nhớ thàng ngày xa phương

Tôi
Ngồi nói hơi sương.
                                        24-4-2000

Bất chợt

Anh vội thức
thấy màu xanh hiền hòa
màu gì đi trong ta suốt
nỗi nhớ dài như hạt mưa sa

em có gọi gì riêng cho anh
một khoảng trống không màu vị
để anh có thể ngắm
ra hình bóng êm đềm
những cái rũ dòng cơn sóng 
                                   buổi chiều

ríu tay anh vào giấc ngủ
dấu hỏi cuộc đời đặt trên cao
đâu là dãy núi...
ngã màu sim tím
rồi có khi nào hoàng hôn cô đơn
sáng vòm cả mắt em
             20/8/1999

BÙI VĂN DUNG

Lên với Tam Đảo mây trắng

Có lẽ nào mây cứ điệu đàng bay
Cứ như thể chưa bao giờ gặp bão
Cứ như thể tan hòa vào hư ảo
Sơn nữ về ngập trong chiều mây giăng

Tôi chần chừ với ngải đắng hăng hăng
Vương vãi mọc giữa hai triền núi vắng
Rừng nguyên sinh gặp mây se se lạnh
Bụi huyền sâm hoa tím cứ chào mời.

Tự lạc loài thừa thãi giữa cuộc chơi
Để đuổi bắt một bóng hình hoang tưởng
Gió chợt đến động giàn dây hoa muống
Mới biết mình để mất một loài hương.

Đành mặc cho Tam Đảo phút si cuồng
Mây vần vũ đập va vào chân tháp
Tôi thú tội với đa tình Thác Bạc
Chưa từng yêu mây trắng thế bao giờ

VƯƠNG TUYẾT MAI

Trăng sông Hồng

Tiếng sóng vỗ thuyền đêm không nơi nào thay thế được
Chỉ có trăng thôi thấu suốt tận ngóc ngách tâm hồn
Trong khoang vọng tiếng bạn bè, guitar bập bùng nốt nhạc
Đời thật gần mà vẫn quá chênh chao

Hai bờ đẹp như tranh siêu thực
Tự phán quyết theo ý mình chẳng bao giờ trăng kiêu sa
Tay vuốt mặt thấy mình nhỏ nhoi quá thể
Cơn gió lùa trong tóc rắc rối như thơ

Trái tim vụt nhói đau vì một ước mơ
Đến tận bây giờ vẫn chưa tới được
Tôi tự nhiên quá thể thương tôi dưới trăng rằm vằng vặc
Không thể nói thành lời nên suốt đời chỉ biết lặng thinh thôi


VI THÙY LINH

Nằm lại với cánh đồng
                                    Khóc bạn Vương Đình Bình

Cú ngã mang bạn sang thế giới bên kia
Đường nghìn cây về chỗ nằm cuối
Chúng mình không kịp gặp lần chót...
Đôi mắt bạn sau khói hương
Mắt tôi héo như nhà thờ cũ

Vùng quê Hải Hậu không có "hậu" cho một kết thúc
Cuộc đời Bình không yên bình
Cú ngã đã mang bạn đi
Tôi còn
Tiếp tục sống
Tiếp tục ngã?!

Phờ phờ đường đồng phạc cỏ
Bạn nằm trong con tàu đó

5 giờ chiều phù thũng
Linh lội xuống cắm bùn ôm lấy bạn muốn ngã vào nấm mộ nhão
Nước đồng ngâu cá quẫy
Nhà thờ cũ lao lên trời xót chói
Nhà của những người chết trước - bên tay trái cánh đồng -  khô và
yên ổn
Đến khi nào bạn mới có thể giang - tay - khô như cây thập giá?
Ba - năm - học - nói - cho - kiếp - khác
Ba - năm - dềnh - trong - nước - đồng

Bạn đã chở tôi đi xem phim và hẹn Tết năm sau gặp nhau
phương nắng
Bình đột từ mùa xuân
Đôi mắt tôi còn găm trong đời
Là màn ảnh cho những cuốn phim quay tiếp sân-khấu-người
Ơ phương này
Tôi mưa trước cho tôi ngày bạc mệnh

Cứ tung bốn mắt kính của chúng ta lên, cào nát mặt trời cuồng
Đẩy ngã những kẻ - đội - lốt - người vẫn trơ trẽn sống
Bạn ơi! Bạn ơi!
Hãy thoát xác trong đường cong cánh diều
Từ cánh đồng sũng nước
Chúng mình lau bạn bằng nước mắt
Lúa con gái xanh lạc lõng
Bản thánh ca nén gió
Bùng lên!
Đêm 19.9.2000

(nguồn: TCSH số 155 - 01 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất

  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà