Thi ca - giá trị và quá trình

14:26 18/11/2008
HỒ THẾ HÀ(Tham luận đọc tại Hội thảo Tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung)

Việt Nam là đất nước của thi ca. Điều này được khẳng định từ thực tiễn của tiến trình hàng nghìn năm văn chương dân tộc trong tương quan với từng bối cảnh lịch sử - thi ca cụ thể. Cơ sở xã hội cùng với cơ sở triết mỹ và cơ sở thi pháp của từng thời kì, từng giai đoạn đã để lại những giá trị văn chương bất hủ, cắm từng cột mốc lớn qua những tên tuổi tài danh, với từng kiểu quan niệm nghệ thuật về con người cùng các phương thức, phương tiện văn hóa, ngôn từ thể hiện từng kiểu con người ấy một cách có quy luật.
Hiện tượng và thành tựu thơ là hiện tượng và hiện thực luôn vận động, phát triển trong tính đồng đại và lịch đại đã, đang và sẽ trôi qua cùng những khả năng làm đầy những nội dung và quan niệm mới của người tiếp nhận qua các thời kỳ, thời đại... Thi ca, vì vậy, luôn là một quá trình mở, từ chính cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm và tiến trình văn học thông qua người đọc.

Thơ ca khác với lịch sử chính là ở những giấc mơ mang bóng dáng của lịch sử được thăng hoa qua từng tâm trạng và cảm xúc điển hình của thi sĩ. Trong từng trục thời gian - không gian mà chủ thể sáng tạo hiện hữu và cảm xúc ấy đã hình thành nên động thái sáng tạo kì diệu, có vẻ như chỉ là mộng mơ và siêu nghiệm, có lúc tưởng thần bí, nghịch lý... nhưng nghiệm kỹ thì nó lại có nguồn gốc ở tính lịch sử và lấp lánh lời giải đáp có tính nhân sinh và mỹ học sáng tạo của nhà thơ. Nó trở thành công cụ nhận thức và tư duy của con người một cách đặc trưng và đặc thù nhất.
Đặc trưng và đặc thù, ở chỗ, nó dùng một số lượng hữu hạn của ngôn từ và cách tổ chức hình ảnh, câu chữ, các biện pháp tu từ “một cách quái đản” để buộc người tiếp nhận phải cảm xúc và suy nghĩ, tìm cách giải mã thông điệp hiệu quả nhất. Ở đây, ta muốn nói đến những bài thơ có cách tổ chức độc đáo, mới mẻ, khó có thể hiểu tức thời qua cái vỏ hình thức cảm tính của chúng. Vì vậy, hiệu cảm thơ có thể có sự mâu thuẫn, so le và rất khác nhau ở nhiều người cảm thụ. Chưa kể, có người, do không hiểu được tính đa nghĩa của thi ca mà biến thành cái nhìn theo tiêu chuẩn chính trị để phán xét chủ quan, phản thi ca. Ở đây, hóa ra, trong hình thức cao quí và chính đáng nhất của tâm lí học và mỹ học sáng tạo lại còn có chỗ cho sự ngộ nhận và áp đặt, chuyển nghĩa, chuyển hóa giá trị một cách lạ lùng ở một số người đơn giản và máy móc như thế.

Vậy, một câu hỏi đặt ra là làm cách nào để hiểu bản chất của giá trị thi ca và quá trình thi ca? Có cần phải xác lập một kí ức và thức nhận văn hoá có tính tập thể, cộng đồng, cộng hưởng làm nền tảng cho quá trình tiếp nhận và định hướng tri thức thi ca cho mọi người không? Theo tôi, có lẽ khó và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng cần phải như thế, dù lâu dài. Quá trình nhận diện và thẩm định thi ca chính là con đường nỗ lực tích hợp những hiểu biết có tính siêu ngôn ngữ, siêu văn bản, siêu văn hóa... mới mong làm giàu nhận thức, phù hợp với đặc trưng thể loại có tính “đỏng đảnh” nhưng kì diệu và cao sang này. Và cũng cần lưu ý những trường hợp cá thể, cá biệt, ngoại lệ mà tính phi qui luật của nó không có chỗ đứng trong chủng loài. Khi ấy, không có lời biện hộ nào, dù hay ho và ngụy biện tinh vi nhất, lại đủ sức làm xoay chuyển tình thế và có tính thuyết phục được công chúng, kể cả công chúng bình thường nhất.

 Tôi đã dài dòng về những điều đã cũ mà ai cũng biết là cốt để lạm bàn về tình hình thơ hiện nay trên các diễn đàn và báo chí cả nước, trong đó, có các tạp chí của 6 tỉnh Bắc miền Trung chúng ta. Trong công tác biên tập văn học, có lẽ, khó nhất là biên tập thơ. Tìm cho được bài thơ hay, mới lạ, độc đáo về thi pháp là công việc đãi cát tìm vàng và là niềm hạnh phúc cao sang nhất của người biên tập. Ở Tạp chí Sông Hương chúng tôi, hàng tháng, số lượng thơ gửi đến có thể lên đến hàng năm, sáu trăm bài, nhưng nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ - biên tập thơ lâu năm và có kinh nghiệm của Sông Hương luôn phải than thở và âu lo cho tình trạng hiếm hoi thơ hay mà nhiều thơ bình thường và thơ dở. Chưa kể, chị phải khổ sở đọc những bài thơ mà chị nghi là đã đọc ở đâu rồi, giống thơ dịch, hoặc làm dáng một cách lộ liễu, đáng trách, thiếu cảm xúc chân thành mà lạm dụng câu chữ dễ dãi; vắng tứ mà dư thừa kể lể, điệu đàng vô nghĩa; chưa kể đến kiểu thơ sex, rên rỉ theo bản năng tính dục....

Dù vậy, Lâm Thị Mỹ Dạ cũng thừa nhận, có khi gặp được không ít những bài thơ hay một cách ám ảnh và run rẩy. Chị xem đấy là của quý, là “thi ca chi bảo”. Những bài thơ như thế không thể nào bị lạc lõng và tuột khỏi tầm đón đợi của bạn đọc. Chế Lan Viên có nói một cách hình tượng và thú vị rằng: “Thơ dở không dịch được- Thơ hay như người đẹp, ở đâu đi đâu cũng lấy được chồng”. Tôi đã đọc thơ trên các Tạp chí Sông Hương, Cửa Việt, Nhật Lệ, Hồng Lĩnh, Sông Lam, Xứ Thanh và tôi cũng vui mừng nhận thấy rằng thơ hay luôn hiện diện trên các tạp chí, trong đó, các tác giả người miền Trung là chủ yếu. Thi pháp của họ đa dạng, biến ảo, giàu triết lí, hiện đại; cấu tứ già dặn, cảm xúc tươi non, nhân văn và thế sự... Sự tích hợp của các kiểu sáng tác và cách thể hiện đã làm cho thơ miền Trung hôm nay nói riêng đang khởi sắc và lung linh trí tuệ... Nếu có một người say mê như Hoài Thanh - Hoài Chân sẽ không khó khăn gì để thực hiện một công trình thơ tinh tuyển dày lên mấy nghìn trang và một công trình khảo luận đặc sắc về “một thời đại mới trong thi ca hiện đại” với những nhận định sâu sắc về từng tác giả, tác phẩm mà không hổ thẹn với tiền nhân, với bạn bè gần xa, với các nhà thơ miền Trung qua các thời kì, thời đại quá khứ. Vậy thơ trên các tạp chí Bắc miền Trung có những đặc điểm nổi trội nào? Trong khuôn khổ của một tham luận, tôi xin nêu một số nhận định sau, chủ yếu là thành tựu và ưu điểm (nếu có gì bất cập hoặc thái quá, mong được sự lượng thứ và bỏ qua từ các đồng nghiệp); đó là:

- Chất sống, chất hiện thực về đời tư - thế sự ồ ạt đi vào thơ một cách chân thành, nhức nhối, làm hiện lên bức tranh đời với nhiều đa đoan, hệ lụy nhưng giàu niềm tin yêu và khát vọng về những điều hằng cửu của thân phận và kiếp người. Những nỗi niềm vui buồn, ơn nghĩa luôn được đặt trong từng hoàn cảnh cụ thể qua sự đối sánh với từng cặp phạm trù tốt - xấu, cao cả - thấp hèn, tình yêu - tan vỡ, cái đang có - cái cần có, ánh sáng - bóng tối, tin yêu - ngờ vực... làm cho tiếng lòng và tiếng vọng thơ hôm nay đa dạng, đau đáu và nhân bản hơn nhiều.
- Nhưng điều đó, chưa phải là cái cần vươn đến của thơ. Điều tôi muốn nói là hồn thơ, sự kết tinh thơ từ những mảnh đời giàu suy tư và khát vọng. Có nghĩa là vốn sống, tình yêu, mơ ước của nhà thơ đã biến thành sự sống nội tâm toàn vẹn, có khả năng cá biệt hóa cao độ, khiến cho ngôn từ có sự va đập và phản âm đầy trách nhiệm từ nhiều chiều, nhiều hướng mà nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã chân thành tỏ lộ: “Thơ chưa hay thì thơ nói thật lòng - Ai giả dối rồi biết mình lầm lỗi - Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi - Câu trả lời thật chẳng dễ dàng chi” và ở đâu đó, bên sau câu thơ vẫn vang lên điệp khúc “Nhưng tôi người cầm bút, than ôi! - Không thể không tin gì mà viết”, “Ở đâu đó, người vẫn yêu người lắm - Nước đục ư! Qua bể lọc trong ngần”. Có thể xem đó là từ trường làm thành chất thơ riêng trên tạp chí văn nghệ của 6 tỉnh Bắc miền Trung.

-Cùng với thơ cả nước, thơ miền Trung hôm nay có độ lắng, độ suy tư, độ triết luận riêng. Dĩ nhiên là để thấy được điều này, chúng tôi cũng phải đắn đo chắt lọc và tìm cho ra mẫu số chung của thơ từ hiện thực tâm trạng của từng bài thơ cụ thể mà ở đó tên đất, tên làng, thiên nhiên, tạo vật mang tố chất miền Trung hiện lên da diết, tin yêu.
- Nếu nói thơ là ngày hội của lý trí “La poésie est une fête de l’intellect” thì thơ trên tạp chí 6 tỉnh Bắc miền Trung đã hội tụ và tỏa phát chất lý trí ấy một cách đa dạng được thanh lọc từ những ám ảnh tâm linh, trực giác; từ những ấn tượng còn lại của vô thức, tiềm thức; có khi là từ huyền thoại, cổ tích... làm thành mã văn hoá, kí ức văn hoá liên chủ thể rất đặc sắc của các nhà thơ miền Trung. Đó phải chăng là chất hiện đại của thơ? Hay có thể nói, đó là quá trình tạo sinh nghĩa của thơ từ ngôn từ giàu biến ảo ở từng nhà thơ, làm thành năng lượng thơ, tư duy thơ, triết lý thơ. (Tôi tin là các nhà thơ dễ dàng đồng cảm với nhận định của tôi - nhất là các anh chị đang làm công tác biên tập thơ của tạp chí 6 tỉnh Bắc miền Trung).

- Thơ thực chất là kinh nghiệm thơ và kinh nghiệm đời được hóa giải và truyền cảm từ chủ thể sáng tạo đến khách thể - người đọc mà người biên tập là chiếc cầu nối, là người đồng sáng tạo tài năng chỉ ra cái khoảnh khắc vĩnh cửu của từng bài thơ, từng nhà thơ. Tạp chí 6 tỉnh Bắc miền Trung đã không có lỗi với lịch sử thi ca và tiền nhân khi phát hiện, giới thiệu và dám chấp nhận những phong cách thơ lạ để đăng tải trên các tạp chí của mình qua các cuôc thi thơ.Nhiều tác giả trẻ đạt giải và hiện nay trở thành những nhà thơ có tên tuổi trong cả nước chính là được “con mắt thơ” của các biên tập viên và ban giám khảo các cuộc thi thơ các tạp chí chúng ta phát hiện. Riêng Tạp chí Sông Hương, qua các cuộc thi thơ, đã phát hịên và trao giải cho các tác giả trẻ như: Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn và nhiều tên tuổi khác mà tôi chưa kịp ghi lại đầy đủ. Chưa kể các nhà thơ có mặt ở đây hôm nay như Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Khắc Thạch, Nguyễn Thái Sơn, Lê Quốc Hán... cũng đều có nguồn cội từ các tạp chí 6 tỉnh Bắc miền Trung. Đến đây, tôi lại nhớ và liên tưởng đến Hoài Thanh - Hoài Chân và cuốn Thi nhân Việt Nam để làm điểm tựa và đường biên so sánh, thì có thể lạc quan nói rằng thơ miền Trung, nhà thơ miền Trung chúng ta hôm nay hùng hậu, đa dạng và chất lượng vô cùng, nhưng rất tiếc, ta chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ và khoa học về họ.Liệu trong cuộc họp mặt này, chúng ta có đề xuất được một ý hướng tính nào cho cuộc hội ngộ thơ trong một công trình sắp tới không? (Xin ý kiến của các anh chị).

Bài viết sơ lược nhưng quá dài của tôi cũng chỉ là những ý kiến rời rạc, tản mạn, mong các anh chị bỏ qua những thiếu sót,bất cập. Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ niềm tin yêu của tôi đối với thi ca miền Trung rằng: Đích cuối cùng của thi ca là tình yêu và khát vọng được đối thoại, được hóa giải để không còn là nó, để nó đến với mọi người, thành năng lượng sống, từ đó, nghe được sự đồng vọng của bản thể thơ. Thơ miền Trung đã đang và sẽ là nhịp cầu liên chủ thể cao đẹp nhất, để trong khoảnh khắc cộng hưởng giữa con người với nhau, giữa con người và vũ trụ, giữa hư và thực, giữa nhớ và quên..., thơ vẫn đi bên cạnh cuộc đời, thơ vẫn vĩnh hằng trong từng cảm giác bé nhỏ của mỗi một chúng ta.
                 Vinh,Đêm 27-11- 2005
H.T.H

(nguồn: TCSH số 203-204 – 01&02 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ĐỖ LAI THÚY

    Kìa ai chín suối xương không nát
    Ắt hẳn nghìn thu tiếng vẫn còn
                   
    (Nguyễn Khuyến)

  • TRẦN HUYỀN TRÂN

    Có lẽ, Cám dỗ cuối cùng của Chúa là cuốn tiểu thuyết nói về khoái lạc trần tục của Jesus một cách táo bạo nhất?

  • NGUYỄN DƯ

    Hôm ấy bạn bè họp mặt ăn uống. Chuyện nổ như bắp rang. Tôi khoe mình đã từng ba lần đội trời đạp đất trên đỉnh đèo Hải Vân. Một bạn hỏi đèo Hải Vân có gì đặc biệt? Câu hỏi bất ngờ làm tôi cụt hứng. Ừ nhỉ… đèo Hải Vân có gì đặc biệt?

  • PHAN TUẤN ANH

    “Lịch sử như là đem lại ý nghĩa cho cái vô nghĩa”
                                                               (T.Lessing)

  • Ngày nay, nhìn lại chủ trương cách mạng của Phan Châu Trinh cách đây hơn một thế kỷ, một lần nữa chúng ta lại thấy tầm nhìn của một người mang khát vọng Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh.

  • NGUYỄN THỊ TỊNH THY

    Sau khi đọc bài trao đổi của Triệu Sơn trên tạp chí Sông Hương số 10/2013 về bài viết của tôi trên tạp chí Sông Hương số 8/2013, tôi xin có mấy ý trả lời như sau:

  • PHAN NGỌC

    Trong quyển "Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều", tôi có dùng một số thuật ngữ chuyên môn. Trong phạm vi quyển sách tôi không thể trình bày kỹ cách hiểu của mình, cho nên có sự hiểu lầm. Giờ tôi xin trình bày kỹ hơn khái niệm "thức nhận", cơ sở của tác phẩm, để bạn đọc dễ đánh giá hơn.

  • YẾN THANH

    Trong bài viết này, chúng tôi muốn nhìn nhận những cống hiến của GS.TS Lê Huy Bắc trên lĩnh vực khoa học, đây là những thành tựu mà theo chúng tôi, vừa có tính lan tỏa, lại vừa có tính bền vững. Bởi vì, có thể nhiều học viên, nhà nghiên cứu dù không trực tiếp được nhà khoa học giảng dạy, hướng dẫn, nhưng từ những công trình, bài báo khoa học, vẫn được kế thừa và chịu sự tác động từ người thầy đó. 

  • TRIỆU SƠN

    Bài này nhằm trao đổi với tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy về những bất cập của nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay nhân đọc bài “Những bất cập và thái quá trong nghiên cứu văn học hiện nay” của tác giả trên Sông Hương, 294/08-13.

  • PHAN TRỌNG HOÀNG LINH

    Được Bakhtin đề xuất trong công trình nghiên cứu về sáng tác của Frăngxoa Rabơle, thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực nghịch dị (grotesque realism) là sự định danh ước lệ cho một kiểu hình tượng đặc thù (hay phương pháp xây dựng hình tượng đặc thù) của nền văn hóa trào tiếu dân gian, kiểu hình tượng nghịch dị.

  • LTS: Phạm Phú Uyên Châu, bút danh Meggie Phạm, sinh năm 1991, hội viên trẻ nhất của Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, tác giả của bộ truyện dài liên hoàn do Nxb. Trẻ ấn hành: Hoàng tử và em (2011, tái bản 2011), Giám đốc và em (2011, tái bản 2012), Chàng và em (2012, tái bản 2012), Người xa lạ và em (2012) và Tôi và em (đang in).

  • ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

    Trong Điều kiện hậu hiện đại, Jean-Francois Lyotard cho rằng: “Bởi vì người ta không thể biết điều gì xảy ra cho tri thức, tức là sự phát triển và truyền bá nó hiện nay đang gặp phải những vấn đề gì, nếu không biết gì về xã hội trong đó nó diễn ra.

  • ĐANIEN GRANIN

    Năm ngoái, một tai họa xảy ra với tôi. Tôi đi trên đường phố, bị trượt chân và ngã xuống... Ngã thật thảm hại: mặt áp xuống, mũi toạc ra, tay bị tréo lên vai. Lúc đó khoảng bảy giờ chiều, ở trung tâm thành phố, trên đại lộ Kirov, cách ngôi nhà ở không xa.

  • PHẠM QUANG TRUNG

    Bàn về hiệu quả của lý luận trong quan hệ với sáng tác, cần phân tách xu hướng lý luận dành cho tìm hiểu sáng tác của nhà văn (hướng nhiều hơn tới người nghiên cứu) với xu hướng lý luận dành cho sáng tác của nhà văn (hướng nhiều hơn tới người sáng tạo).

  • HÀ VĂN LƯỠNG  

    Trong thể loại tự sự, người trần thuật giữ một vai trò quan trọng, góp phần làm nên giá trị nghệ thuật tự sự của tác phẩm văn học.

  • NGUYỄN THỊ TỊNH THY

    Đời sống văn học không thể thiếu phê bình, nghiên cứu. Nếu xem “tác phẩm văn học như là quá trình”(1) thì phê bình và nghiên cứu là một khâu quan trọng trong chuỗi quá trình đó.

  • PHAN TUẤN ANH

    1. Nguyên tắc thẩm mỹ facebook và lối đọc status - entry
    Những tác phẩm của Đặng Thân như Ma net mà đặc biệt là 3339 [những mảnh hồn trần] từ khi ra đời đến nay đã trở thành những “cú sốc văn hóa” mini trong đời sống văn học Việt Nam.

  • BÙI BÍCH HẠNH

    Cất tiếng như một định mệnh của quyền năng nghệ thuật giữa phố thị thơ miền Nam những năm 50 - 60 thế kỉ XX, người thơ Thanh Tâm Tuyền, bằng tuyên ngôn nghệ thuật khởi từ ca dao sang tự do, đã tham dự vào thi đàn vốn nhiều biến động với tư cách một hữu thể mưu cầu phục sinh.

  • NGUYỄN QUANG HUY

    Phạm Thái (1777 - 1813) là một khuôn mặt khá đặc biệt trong thơ văn Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Đặc biệt trong thời đại ông sinh ra và ứng xử với nó; đặc biệt trong cách thể hiện thế giới nghệ thuật nhiều cá tính, nhiều gương mặt; đặc biệt trong vũ trụ mộng trước cuộc đời; đặc biệt trong cách thế tồn tại tài hoa mệnh bạc của ông; đặc biệt hơn là thơ văn của ông chưa được lưu ý phân tích ở chiều sâu tâm lí, chiều sâu thẩm mĩ.

  • THÁI DOÃN HIỂU

    Thời kỳ còn sống lang thang Kazan, nhà văn trẻ tài năng M. Gorky luôn làm phiền cho trật tự của chính quyền, cảnh sát Nga Hoàng tống lao ông. Trong tù, ông vẫn viết truyện, tuồn ra ngoài in đều đều trên các mặt báo.