Thầy Hoàng Ngọc Hiến - Ảnh: laodong
Vào năm học thứ nhất, chúng tôi đã nghe danh thầy. Nếu tôi nhớ không nhầm thì khoa Văn trường Vinh thời ấy chỉ duy nhất thầy là Phó tiến sĩ. Chúng tôi chờ đến dài cổ, mãi đến năm thứ ba mới được nghe thầy giảng Văn học Nga Xô-viết và thơ Mai-a (Mai-a-cốp-xki). Vốn là người yêu thơ và say mê thơ từ nhỏ, nên nghe thầy Hoàng Ngọc Hiến giảng thơ Mai-a tôi như nuốt lấy từng lời. Không sôi nổi như thầy Nguyễn Khắc Phi, không đĩnh đạc như thầy Phùng Văn Tửu, không nhỏ nhẹ cuốn hút như thầy Hoàng Tiến Tựu, không hùng hồn như thầy Trần Duy Châu… thầy Hiến giảng chậm rãi, giọng hơi khàn nhưng mỗi từ ngữ, mỗi câu thầy mà nói ra tôi có cảm tưởng là đã được thầy nghiền ngẫm khá kĩ lưỡng. Dịch và giảng thơ Mai-a không dễ. Thầy Hoàng Ngọc Hiến là người Việt Nam đầu tiên dịch tương đối trọn vẹn những tác phẩm chính của nhà thơ Mai-a từ nguyên bản tiếng Nga ra tiếng Việt. Sau này, đọc những dòng tâm sự của thầy, tôi mới biết thầy bắt tay vào việc dịch thơ Mai-a ngay từ khi đang học ở Liên-xô (cũ). Theo thầy, Mai-a dùng nhiều ước lệ và những luật chơi của nghệ thuật thơ ca nên dịch rất khó. Thầy phải nhờ những người bạn Nga tận tình giúp đỡ mới dịch được một cách tương đối thanh thoát. Khi giảng cho chúng tôi, thầy chủ yếu trích dẫn những bài thơ thầy dịch. Ấn tượng nhất là tiết giảng về Trường ca Lê-nin. Lê-nin từng nói là không thích thơ Mai-a. Mai-a cũng biết điều đó nhưng khi Lê-nin mất không có nhà thơ nào viết về Lê-nin xúc động như Mai-a. Nhà thơ mở đầu bản trường ca: Thời gian!/ Tôi bắt đầu kể chuyện Lê-nin Và thầy giảng giải: Sở dĩ Mai-a chọn thời gian để kể chuyện Lê-nin vì thời gian là vĩnh cửu. Chuyện của người bất tử chỉ có thời gian là người lưu giữ lâu dài nhất, bảo đảm nhất, chắc chắn nhất. Rồi thầy đột ngột liên hệ trường ca Theo chân Bác của nhà thơ Tố Hữu vừa mới đăng trên báo Văn nghệ năm ấy (1970). Trong bản trường ca Theo chân Bác, Tố Hữu cũng mở đầu: Tháng năm ơi, có thể nào quên./ Hàng bóng cờ tang thắt dải đen… Tố Hữu cũng đang kể chuyện Bác Hồ với thời gian. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên của hai nhà thơ lớn. Cả hai nhà thơ đều ca ngợi tầm nhìn xa rộng của hai vị lãnh tụ: Người nhìn bao trùm lên toàn trái đất Thấy nhiều điều sau lớp lớp thời gian (Mai-a) Ai hay ngọn lửa trong hang núi Mà sáng muôn lòng, vạn kiếp sau! (Tố Hữu) Nhưng Tố Hữu không thể viết như Mai-a: Những kẻ nào thần thánh hóa Lê-nin thì “trên nóc Kremlinh tôi ném bom đả đảo”. Bởi vì “kỷ nguyên bước vào, đi qua khung cửa/ bình thường thôi, đầu không chạm xà trên” và “nhược điểm thường tình tôi vẫn thấy ở Người”... Đó là chỗ khác nhau cơ bản của hai nhà thơ. Nhận xét này của thầy khiến tôi nhớ mãi. Khi giảng về đoạn Mai-a tả đám tang Lê-nin, thầy chỉ xoay quanh phân tích “môi- trường- nước”. Đó là nước mắt của các cụ già. Đó là cảnh tuyết rơi dày đặc… Và thầy liên hệ “môi- trường- nước” trong bài thơ Bác ơi của Tố Hữu: Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa… Giảng tổng quan về Mai-a, thầy Hoàng Ngọc Hiến nhấn mạnh cho chúng tôi tính chiến đấu và ý nghĩa xã hội vô cùng sắc bén của thơ ông. Thầy đơn cử hai bài mà thầy hết sức tâm đắc. Hai bài đó là Tài liệu phổ thông cho những người học nịnh và Những người loạn họp. Với Những người loạn họp, thầy đã chuyển hóa khá tài tình chất hóm hỉnh của Mai-a sang thơ Việt, khiến cho chúng tôi khi nghe thầy đọc không nhịn được cười. Đặc biệt là đoạn cuối: Tôi xông đến hội trường/ Và tôi thấy/ Toàn nửa người ngồi đấy/ Những nửa người kia đâu?/ Ôi ma quái!/ “Chém người!”/ “Giết người!”/ Tôi hô hoán cuống cuồng/ Tôi rụng rời trước cảnh tượng kinh hồn/ Nhưng tiếng ai/ Nghe vô cùng bình thản: “Một ngày/ Chúng tôi/ Họp hai chục bận/ Họ phải đi hai cuộc họp một lần/ Biết tính sao đành cắt đôi thân/ Ở đây một nửa tới ngang hông/ Còn nửa kia/ Đi họp hành nơi khác Trong đời đi dạy, tôi từng tham dự đủ các cuộc họp: họp hội đồng, họp tổ chuyên môn, họp công đoàn, họp chi đoàn, họp phụ huynh, họp hội Chữ thập đỏ… trong đó có không ít cuộc họp vô bổ. Cách đây vài năm, trong chuyến đi thực tế ở huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình, đã 8 giờ đêm, tôi với hai nhà thơ Hoàng Vũ Thuật và Hải Kỳ tìm thăm một người bạn. Đến nơi thì anh ta thông cảm là đang bận họp. Hiện nay, cái bệnh loạn họp có phần đỡ hơn. Nhưng hễ có những cuộc họp vô bổ trùng nhau là tôi lại nhớ thơ Mai-a: “biết tính sao, đành cắt đôi thân, ở đây một nửa tới ngang hông, còn nửa kia đi họp hành nơi khác…”. Mặc dù đề cao thơ tuyên truyền chính trị của Mai-a nhưng ngay thời ấy thầy Hoàng Ngọc Hiến khẳng định với chúng tôi: Mảng thơ tình của Mai-a là mảng thơ vô cùng quan trọng không thể bỏ qua. Mai-a định nghĩa về tình yêu không giống bất kỳ ai: “Yêu nghĩa là chạy thốc vào sân/ Vung búa rìu, giang tay bổ củi…”. Mai-a “tự kiêu” cũng hết sức đáng yêu: Ở nước Nga, tôi vào loại trứ danh/ Tôi đã thấy những cô nàng khá xinh/ Tôi đã gặp những cô nàng kiều diễm/ Với nhà thơ con gái dễ cảm tình/ Tôi lại láu, giọng của tôi khá tốt/ Tôi mà bỏ bùa thì theo tôi tuốt! Cánh làm thơ bạn tôi: Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Ngô Minh, Đỗ Hoàng… rất khoái những câu thơ này của Mai-a. Một hôm, lớp chúng tôi ngồi chờ thầy đã hơn 15 phút nhưng không thấy thầy Hiến tới. Cả lớp đoán non, đoán già: Chắc là thầy bị ốm? Thế là lớp trưởng tìm đến nhà trọ của thầy xem thực hư. Hóa ra là thầy đi lạc! Hồi đó sơ tán, lớp nằm rải rác trong xóm, xóm rất nhiều ngõ, ngõ nào cũng hao hao giống nhau mà thầy lại nổi tiếng đãng trí. Năm thứ tư, chúng tôi được ưu tiên ăn chung một “bếp” với các thầy. Thầy Hiến đùa vui: “Thầy trò mình đều là những người cùng khổ”. Ý thầy nói thầy trò cùng chung những bữa ăn đạm bạc trong thời buổi kinh tế khó khăn. Hồi đó, thầy hay mặc chiếc áo măng-tô-san màu “cháo lòng” nhưng phong thái hết sức ung dung, đĩnh đạc. Cách đây mấy năm, tôi có gặp lại thầy ở thành phố Đà Nẵng, dịp thầy vào dự hội thảo Đổi mới giảng dạy Văn học hiện đại Việt Nam. Biết tôi ở Huế, thầy hỏi bệnh tình của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi kể chuyện nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đang được một một bà lang khá đẹp ở Khe Sanh, chữa trị bằng nghệ thuật xoa bóp. Thầy cười: “Nếu được người đẹp xoa bóp thì mình cũng muốn ngả bệnh như Hoàng Phủ”. Đã mấy chục năm nay, chúng tôi - những cựu sinh viên khoa Văn, trường Đại học Sư phạm Vinh, luôn dõi theo hành trình của thầy Hoàng Ngọc Hiến. Chúng tôi rất khâm phục và tự hào về thầy, về những đóng góp hết sức quan trọng của thầy trong việc thúc đẩy sự phát triển, đổi mới văn học, trong việc phát hiện và đào tạo những tài năng trẻ, trong việc tìm tòi nghiên cứu về minh triết và minh triết Việt. Thầy mất đi là một tổn thất lớn cho nền văn học và minh triết nước nhà. M.V.H (265/3-11) |
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Nhà thơ Thu Bồn có nhiều duyên nợ với Huế, với Sông Hương. 20 năm trước, trong dịp TCSH ra đời, anh có mặt ở Huế và viết bài thơ “Tạm biệt” - một trong ít ỏi những bài thơ hay nhất về Huế, 20 năm sau, cũng vào dịp TCSH kỷ niệm tròn 20 tuổi thì anh lại ra đi, ra đi trong lời vĩnh biệt!Thương tiếc nhà thơ tài hoa Thu Bồn, Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một vài kỷ niệm vaì tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp dành cho anh. TCSH
PHẠM XUÂN NGUYÊNVề chính trị, ông được chữ nhất: Đại biểu quốc hội trẻ nhất (22 tuổi, khóa I năm 1946); Tổng thư ký Hội Nhà văn lâu nhất (1958 – 1989).Về văn nghệ, ông được chữ đa: đa tài, sáng tác nhiều lĩnh vực, và để lại dấu ấn: thơ (Người chiến sĩ, Tia nắng, Sóng reo), văn (Vỡ bờ), kịch (Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc), nhạc (Diệt phát xít, Người Hà Nội), tiểu luận (Mấy vấn đề văn học, Công việc của người viết tiểu thuyết).
...Có 2 từ người Việt Nam hay dùng cho những người làm thuê các công việc cho người khác là: "Lê dương" và "Pắc chung hy". Chả biết từ bao giờ, bạn bè gọi tôi là "Kha lê dương" bên cạnh các biệt hiệu khác như "Kha điên", "Kha voi", "Kha xe bò miên". Là gì thì cũng vẫn là Kha. Thiếu em ư? Đúng ra là tôi không thể sống thiếu tình yêu như một câu thơ tôi đã viết: "Điều khốn nạn là không thể nào khác được - không thể không tình yêu, không tin ở con người"...
... Với giới văn nghệ sĩ thừa Thiên Huế, nhà văn Nguyễn Đình Thi là người anh lớn, rất thân thiết và gần gũi qua nhiều năm tháng. Anh là tấm gương sáng trên nhiều lĩnh vực sáng tác, quản lý, hoạt động phong trào... Đã có nhiều tác động tích cực, ảnh hưởng tốt đẹp cho một số cây bút ở Thừa Thiên Huế; đồng thời đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong đời sống văn học Thừa Thiên Huế.Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Đình Thi là một tổn thất lớn đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà, để lại cho chúng ta niềm tiếc thương vô hạn.... Sự nghiệp sáng tạo văn học nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Đình Thi vẫn sống mãi với chúng ta! (Trích điếu văn của nhà thơ Võ Quê)
ĐÀO DUY HIỆPGiáo sư, nhà giáo ưu tú Đỗ Đức Hiểu đã không còn nữa.Đã vĩnh biệt chúng ta một nhà sư phạm hiền từ, một nhà khoa học khiêm tốn và có nhiều phát hiện, một con người đầy lòng nhân ái, tin yêu cuộc sống và suốt đời đã sống vì cái đẹp của văn chương, nghệ thuật. Mười bảy giờ bốn mươi nhăm phút ngày 27 tháng 2 năm 2003 đã là thời khắc đó – cái thời khắc đã chia cách hai thế giới từ nay âm dương cách trở giữa giáo sư Đỗ Đức Hiểu với chúng ta. Ông đã để lại sau mình một cuộc đời dài nhiều ý nghĩa.
NGUYỄN HOÀNGTrong cuộc đời 83 năm của mình, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (BS.NKV) không chỉ một lần tình nguyện đem cuộc đời mình làm... vật thí nghiệm để có được một kết luận khoa học. Lần đầu, nửa thế kỷ trước, tại Pháp, sau 7 lần lên bàn mổ, cắt mất hẳn lá phổi trái, 1/3 lá phổi bên phải và 8 xương sườn (do bị lao mà thời đó chưa có thuốc chữa đặc hiệu), thấy rõ y học phương Tây không cứu được mình, BS. NKV đã vận dụng phương pháp Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Quốc trên cơ sở phân tích sinh lý, tâm lý và giải phẫu cơ thể con người, tự cứu sống mình, hình thành nên phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” ngày nay.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNVào dịp Tết Bính Thìn, Tết dân tộc cổ truyền đầu tiên sau giải phóng, Viện Đại học Huế nhận được một bưu thiếp chúc Tết đặc biệt của vị Thủ tướng kính mến thời đó - Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhà trường đã cho viết to bức thư của Thủ tướng viết sau cánh thiếp lên một tấm bảng lớn, trân trọng đặt tại Hội trường của Viện Đại học Huế.
TÔ NHUẬN VỸTôi có một cái va ly nhỏ dùng để đựng những vật kỷ niệm, những thư từ, những bức ảnh quý nhất của mình. Trong số kỷ vật quý giá đó, có bức thư của anh Tố Hữu gửi tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, tháng 3/1987, kèm theo là bài thơ Nhớ về anh được đánh máy trên giấy Pơ luya vàng nhạt, kiểu chữ ở một cái máy nào đó mà mới nhìn biết ngay là từ một cái máy chẳng lấy gì làm tốt, để "Kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh mồng 7 tháng 4 của đồng chí Lê Duẩn”.
LÊ MỸ Ý ghi (Trích)Khi tôi đến, hai ông đang ngồi chiếu rượu trong căn hộ chung cư sáu tầng cao ngất ngưởng. Căn phòng như được ghép bằng sách. Trên tường, ảnh Văn Cao đang nâng ly và bức sơn dầu "Tuổi Đá Buồn" Bửu Chỉ vẽ Trịnh Công Sơn dựa vào cây đàn ghita ngóng nhìn vô định. Ngẫu nhiên tôi trở thành người hầu rượu, nói đế cho cuộc đối thoại ngẫu nhiên của hai ông...
MAI VĂN HOANThầy giáo dạy văn Tặng Mai Văn HoanHộ tập thể nằm trên gác xépCăn phòng thanh đạm, có gì đâu!Một chồng sách cũ, dăm chai nướcMột chiếc bàn con, một bếp dầu...
THANH THẢOThái Ngọc San khác với một số người bạn Huế mà tôi chơi: anh ít nói, ít nói đến lặng thinh, ít nói nhiều khi đến sốt cả ruột. Nhưng nhiều lúc, vui anh vui em, rượu vào lời ra, San cũng nói hăng ra phết. Những lúc ấy, cứ nghĩ như anh nói để giải toả, nói bù cho những lúc im lặng.
PHAN HỮU DẬTLTS: GS.TS Phan Hữu Dật là người làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, TT Huế, hiện nghỉ hưu tại Hà Nội. Giáo sư từng là Trưởng ban phụ trách Đại học Văn khoa Sài Gòn (1976), Hiệu trưởng Đại học Tổng hợp Hà Nội (1985-1988). Bài viết dưới đây do Giáo sư đọc trong Lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhà thơ Vĩnh Mai (1918-2008), như một sự tri ân đối với người mà Giáo sư xem như là người thầy, người thủ trưởng, người đồng chí... với những tư liệu mới mẻ và góc nhìn thấu đáo. Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài viết này cùng bạn đọc.
NGÔ MINHTác phẩm văn học nghệ thuật là sáng tạo của mỗi tác giả hội viên; đồng thời là thước đo hiệu quả hoạt động của Hội trong một nhiệm kỳ. Nói cách khác, tất cả mọi hoạt động của Hội đều hướng về hội viên, hướng về việc làm sao để có những tác phẩm văn học nghệ thuật chất lượng ngày càng cao. Nếu không thì sinh ra Hội để làm gì?
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOVà tôi đã rời xa Huế vào những ngày mà chính tôi cũng không muốn một chút nào. Có lẽ, không ai trách được sự sắp xếp và an bài của cuộc sống. Dù rằng Huế đối với tôi là ân nghĩa, là những kỷ niệm khó phai thì rồi cũng phải tự tạ từ. Trong sâu thẳm đáy lòng, khi nhìn những đêm trăng phả xuống thành phố tôi đang sống, tôi lại quay lòng nhớ Huế, dẫu một chút thôi, hơi thở của tôi đã không được đắp bồi bởi Huế.
VÕ MẠNH LẬPTôi đọc một bài. Không! Chỉ là một đoạn nhưng vừa đủ ngẫm - mà thú vị. Đó là cô gái với cái tên quen mà lạ. Cô ta phân bày quê chôn nhau cắt rốn xa xa ngoài tê tề. Cha mẹ cô đèo bòng vô ở tại một thị xã miền Trung. Sau cùng cô lại ở Huế học hành, lớn lên, đôi lúc bạn bè xa đến cứ ngỡ cô là Huế ròng.
L.T.S: Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San sinh năm 1947 tại Lệ Thuỷ, Quảng Bình nguyên Thư kí Toà soạn Tạp chí Sông Hương, chuyển công tác qua phụ trách văn phòng liên lạc báo Thanh Niên tại T.T. Huế đã từ trần vào lúc 0giờ 45 phút ngày 25.7.2005 sau một tai nạn giao thông oan nghiệt.Thương tiếc anh, Sông Hương mở thêm trang để bạn bè, đồng nghiệp cùng chia sẻ và thắp nén tâm hươngKhi chúng tôi được tin buồn về anh San thì số báo tháng 8 đã in xong; Tình thế “chữa cháy” này không sao tránh khỏi những bất cập, mong các tác giả cùng quý bạn đọc lượng thứ.
L.T.S: Đại hội VHNT Thừa Thiên Huế lần thứ X sẽ được tổ chức vào cuối tháng 8 năm nay. Để đại hội có tiếng nói dân chủ rộng rãi, TCSH xin “dành đất” cho các anh chị hội viên, các bạn đọc quan tâm tham gia ý kiến trao đổi về nghề nghiệp, về hoạt động của Hội, về tổ chức hội v.v...Ngoài các ý kiến đã đăng tải trên số này, chúng tôi sẽ tiếp tục in thêm các ý kiến khác trong số tới
ĐÔNG HÀTôi không sinh ra ở Huế, nhưng với tuổi đời chưa quá ba mươi mà đã hơn hai mươi năm sống ở đất Kinh thành, đó cũng một sự gắn bó không thành tên.
THU NGUYỆT (Trích tham luận tại Đại hội VII Hội Nhà văn Việt Nam)
ĐẶNG SĨ THIỆNThời bao cấp, ăn còn đói mà thơ lại hay. Sang thời nay ăn thừa thãi thì người ta lại không quan tâm đến thơ, thậm chí quay lưng lại với thơ (lời Bằng Việt).