Thấu cảm với loài vật trong văn xuôi Việt Nam

14:47 16/01/2017

TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT  

Sau đổi mới, năm 1986, Việt Nam tăng tốc mở rộng kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa khiến cho môi trường bị biến đổi.

Sự tăng trưởng nóng đã khiến môi trường tự nhiên đang bị đe dọa, đối mặt với nhiều vấn đề của mặt trái văn minh đô thị với bao bộn bề, ngổn ngang và tổn hại như hiệu ứng nhà kính, chất thải công nghiệp, khai thác thủy điện không tính đến những tác động môi trường, đánh bắt hủy diệt, lâm tặc, khoáng tặc… dẫn tới hậu quả của nó là những dải rừng bị bào mòn hủy hoại, những con sông, dòng thác bị bức tử; loài vật lên tiếng kêu cứu vì bị săn giết, vì bị mất không gian sống: năm 2010 con tê giác cuối cùng ở Việt Nam đã bị tiêu diệt, voi Tây Nguyên không có rừng để sống về tàn sát những cánh đồng, sếu đầu đỏ bỏ miền tây Nam Bộ, cá chết hàng loạt trên biển miền Trung… Điều đó, phần nào dẫn tới khủng hoảng môi trường sinh thái. Những vấn đề toàn cầu như vậy trở thành những áp lực rất lớn mà văn chương không thể bỏ qua.

Phê bình sinh thái ra đời đã đưa ra những đề xuất từ văn hóa để giải quyết khủng hoảng ấy. Từ lâu, chúng ta đã bị mài mòn với quan niệm “con người là thước đo của vạn vật”, trong các loài, con người là kiểu mẫu, là sinh vật cao cấp, bằng trí tuệ và khả năng của mình, con người có thể làm chủ và cải tạo được thế giới. Văn học từ xưa đến nay ngợi ca bao hình tượng đều là những người khẳng định vị thế chúa tể muôn loài bằng khát vọng chinh phục tự nhiên. Vậy nên văn học cũng có lỗi trong việc khiến cho trái đất đang ngày một kiệt quệ. Bởi vậy, sự thay đổi trong suy nghĩ liên quan đến con người với môi trường cần được đổi thay từ chính văn học, nơi thích hợp để phản biện lại những thói quen của tư duy. Để làm được điều đó, cần xây dựng chủ nghĩa nhân văn mới trong văn học: con người phải được miêu tả hài hòa trong chỉnh thể sinh thái, con người phải có tình yêu thương vô biên với vạn vật. Theo Karen Thornber, bước sang thế kỉ XXI, phê bình sinh thái có một nhánh quan trọng là “sự tưởng tượng văn chương về các mối quan hệ giữa con người và thú vật” [xem thêm 6].

1. Hình tượng loài vật trước và sau năm 1986 - Một cái nhìn so sánh

Thiên nhiên trong văn học trước năm 1986 về cơ bản xuất hiện với hai dạng thức. Thứ nhất, thiên nhiên được nhân cách hóa. Giống như kiểu của truyện cổ tích loài vật, giải thích một đặc điểm tự nhiên của loài vật (mắt Giếc đỏ hoe vì khóc nhiều (Mắt Giếc đỏ hoe), giải thích về chiếc mai của rùa (Bài học tốt - Võ Quảng), hoặc mang dáng dấp của truyện ngụ ngôn: thông qua nhân vật loài vật để rút ra một bài học triết lí, một nội dung giáo dục (Chuyến đi thứ hai - Võ Quảng, Cái tết của mèo con - Nguyễn Đình Thi, Cuộc phiêu lưu của Văn Ngan tướng công - Vũ Tú Nam, Dế Mèn phiêu lưu kí - Tô Hoài… ). Đó là kiểu truyện đồng thoại. Nói chung, ở dạng thức này, thiên nhiên như là sự ứng chiếu của khách thể (“Mẹ hỏi cây Kơ nia:- Rễ mày uống nước đâu?- Uống nước nguồn miền Bắc”, Bóng cây Kơ-nia, Ngọc Anh), thiên nhiên có cùng tiếng nói với con người (“Rừng xà nu ưỡn tấm ngực ra để che chở cho dân làng”, Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành).

Thứ hai, thiên nhiên xuất hiện như là nền cảnh, là phương tiện để biểu hiện tính cách, tâm hồn của con người (“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”), thể hiện khả năng chinh phục tự nhiên như các truyện bắt sấu, bắt rắn, lấy ong mật, giết heo rừng, đả hổ, đắp đập, hộ đê ngăn sông, chiến thắng biển cả... như Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Bão biển của Chu Văn, Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận… Dù biểu hiện khác nhau, văn học trước năm 1975 viết về tự nhiên chủ yếu là để nói về con người, lấy con người làm trung tâm để mô tả, biểu hiện, đánh giá tự nhiên.

Motif con người có khả năng kì lạ có thể nghe thấy tiếng nói của loài vật xuất hiện từ lâu trong văn học truyền thống, trong văn học dân gian. Theo Đinh Thị Khang, motif “Người hiểu tiếng loài vật” có trong truyện cổ tích của nhiều dân tộc: Sự tích con dã tràng (Việt Nam), Con gà trống dũng cảm (Pháp), Ông vua hiểu tiếng loài vật (Lào), Tiếng loài chim (Ma roc), Nang Tang trai (Thái Lan), Ông lão nghe được tiếng chim (Nhật Bản), Con lừa, con bò, và người cày ruộng (Nghìn lẻ một đêm, Ảrập), tích Công Dã Tràng (Luận ngữ, Trung Hoa)… hoặc đem đến cho nhân vật chính nhiều ân huệ (như được ngọc quý, được Long vương tặng nhiều vàng bạc, được nối ngôi vua…) hoặc là tai họa (bị hạ ngục, bị chết…) hoặc giúp cho nhân vật diệt trừ được cái ác, cái xấu xa. Trong truyện cổ tích, việc nghe thấy tiếng loài vật để cảm thông: chàng trai đã từ chối ăn thịt con ngỗng (Sự tích con dã tràng), ông lão cứu con rắn, giải thoát cho cây bách…. (Ông lão nghe được tiếng chim). Trong văn học trung đại như là mắt thấy tai nghe chuyện của 3 con chuột (Truyện Trinh Thử) hay các nhân vật “phi nhân” tu luyện thành yêu ma, thành tinh hóa con người trong các truyện truyền kì [Xem thêm 2].

Loài vật trong văn xuôi sau năm 1986 mang một cảm hứng khác, đậm tâm thức đương đại, không phải chỉ là nền cảnh, là cái cớ mà “chúng có sinh mệnh thật sự”, có số phận, tính cách, tâm hồnnhư nhà văn Mạc Ngôn từng phát biểu “tôi bỗng cảm thấy cỏ cây quanh mình, và cả bò dê nữa, đều có thể trò chuyện với con người, chúng chẳng những có sinh mệnh, mà còn có cả tình cảm nữa” [4, 9].

2. Lắng nghe tiếng nói của loài vật

Christopher Manes chỉ trích “Địa vị chủ thể phát ngôn được khư khư ôm giữ như là đặc quyền chỉ dành riêng cho con người” [3, 15]. Cái nhìn này theo ông, đã giới hạn ngôn ngữ trong phạm vi nhân loại, liên quan đến khả năng có chữ viết. Các nhà phê bình sinh thái khẳng định rằng “quan điểm coi tự nhiên là câm lặng, không có tiếng nói cũng chủ yếu cho thấy về sự khước từ lắng nghe của chính chúng ta chứ không phải là về năng lực giao tiếp của tự nhiên”, “không đồng nghĩa với việc cho rằng thế giới tự nhiên chỉ là một cái gì hoàn toàn câm lặng” [5].

Soi chiếu với muông thú, các nhà văn đã “đảo lộn” những quan điểm mặc định về những điều vẫn được xem là độc quyền của loài người để có thể “đứng cao hơn tự nhiên”: tình cảm, ngôn ngữ, văn hóa. Loài vật có ngôn ngữ riêng của nó. Con người không nghe thấy tiếng nói đó chứ không phải không tồn tại. Một số nhân vật có thể nghe thấy tiếng nói của loài vật. Tiếng con dế hát trong đêm một cách vô tư lự “Con dế mèn ở ngoài vườn kia ri rỉ ca hát, nó sung sướng với sự sống bé nhỏ mà Thượng đế ban cho nó. Chẳng hề ghen tị với ai” (Thổ cẩm, Nguyễn Huy Thiệp) nhắc cho người thấy về cái tự tại của tự nhiên mà con người không nghe thấy, chẳng qua là vì anh ta không có khả năng lắng nghe mà thôi. Như vậy, sau năm 1975, chúng ta bắt gặp motif người hiểu tiếng loài vật.

Con người vẫn thường tự hào mình là loài có ngôn ngữ, vì có ngôn ngữ con người có khả năng tư duy. Và chúng ta phủ nhận ngôn ngữ của loài vật, cây cối. Các nhà sinh thái khẳng định “chúng ta cứ tưởng rằng những con vật không có ngôn ngữ, bởi vì chúng ta không hiểu những tiếng kêu của chúng” [1, tr 39]. Kì thực, muôn loài giao tiếp bằng ngôn ngữ riêng của nó. Ông SuDa, từ bé đã trèo lên cây trứng cá chơi, nghe và nói chuyện với chim bồ câu “Thật tình tiếng bồ câu không khó nói lắm, dễ hơn tiếng Anh nhiều... một tiếng “gù” âm giống nhau nhưng khi nghĩa này lúc lại nghĩa khác, rất ít tiếng nhưng đa nghĩa” (Người nói tiếng bồ câu, Mạc Can).

Motif người nghe tiếng loài vật đã xuất hiện trong văn học dân gian, truyện truyền kì phương Đông... nhưng người xưa nghe tiếng loài vật để hiểu biết, đó là phần thưởng dành cho người tốt. Trong mối quan hệ với loài vật, dù chia sẻ, cảm thông, vui vầy thì vẫn viết dưới ánh sáng “nhân loại trung tâm”, lấy con người làm hệ quy chiếu cho vạn vật (Đó là lí do vì sao để có thể giao tiếp với con người, những nhân vật thành tinh (tinh hoa, ong, cáo, cây gạo, con chuột...) trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, hay Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ cứ phải “đội lốt người”). Còn trong truyện sau 1975, tự nhiên là một sinh linh đối trọng với con người, phản biện lại thế giới người để con người có thể soi vào vạn vật mà nhận ra cái bất toàn, khiếm khuyết và cả nỗi cô đơn sâu thẳm mênh mông. Cô gái trong tiểu thuyết Sông (Nguyễn Ngọc Tư) thăm được tiếng hát ốc Bụt Đồng Nàng bằng dây câu buộc bằng dây mần gai. Nhưng Nguyễn Ngọc Tư không có ý định kể một câu chuyện cổ tích, thông qua phương thức kì ảo để giải huyền thoại, việc nghe được tiếng nói của tự nhiên không làm cô hạnh phúc mà làm gia tăng thêm bi kịch của sự cô đơn. Việc nghe được tiếng loài vật không phải là sự ân thưởng mà như là sự trừng phạt “Cô nghe được tiếng hát của chúng bằng một khả năng kì bí nào đó được trời ban tặng lại sau khi lấy đi ánh sáng, năm cô chín tuổi”, nó không làm cô gái vui “Tụi nó hát buồn thảm lắm, em không thích”. Lão Sìn (Lão Sìn và con khỉ, Đào Hiếu) sống cô độc. Không giao tiếp. Không ngôn ngữ. Nhưng từ khi nói chuyện với khỉ con, con vật đã đánh thức trở lại ngôn ngữ, niềm vui giao tiếp mà bấy lâu nay đánh mất “Hôm nay lão thay đổi tính, lẩm bẩm nói nhều không biết với mình hay với khỉ con niềm vui sướng? Vì lâu quá lão không được nói. Không ai nói với lão”. “Những người lão gặp không ai để ý đến lão, hỏi lão một câu. Lão thích được nói nhưng không ai nghe thì nói với ai? Đành thui thủi một mình… Từ ngày có khỉ con, lão Sìn thay đổi lối sống, thường sai khiến khỉ con bằng những ngôn ngữ chỉ có lão biết. Còn khỉ con hiểu lão qua thái độ buồn vui, trên nét mặt hay động tác giơ chân múa tay nhăn nhở giống khỉ hơn những người xung quanh”. Điểm khác biệt của motif này trong văn học sau năm 1975 là cổ nhân lắng nghe loài vật để thể hiện sự thấu hiểu, chia sẻ còn người hiện đại lắng nghe để thấy nỗi trống trải của mình giữa đồng loại. Motif làm bạn với muông thú do vậy thấm đẫm cảm quan hiện đại. Nương và Điền (Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư) từ chối giao tiếp với con người, nói tiếng vịt để quên đi “nỗi buồn của cõi người”, Em (Gió lẻ, Nguyễn Ngọc Tư) nói theo kiểu của chim vì “tiếng nói của loài vật không làm đau nhau”… Trước cái bất toàn của đời sống, con người phải chịu đựng những bất ổn về mặt tâm lí, không thể giao tiếp với đồng loại – đó là căn nguyên của việc tìm sự đồng cảm trong tự nhiên. Có thể gọi đây là bi kịch bị mất lời của con người thời hiện tại. Đoan (Con chó và vụ li hôn, Dạ Ngân) nhẫn nhịn, chịu đựng mọi bất công, thói gia trưởng, tính ích kỉ của người chồng và cả khi đứng trước tòa án dưới con mắt dò xét của vị thẩm phán và thái độ nanh nọc của người chồng cũng không thể cất lời.

Kì thực, theo các tác giả, thế giới muôn loài sống chân thật, an nhiên, bao dung và tự do hơn loài người. Con người đem lí trí vào mọi loại tình cảm, lấy cái giả dối làm khuất lấp sự trong sáng của ngôn ngữ. Thậm chí, nhiều nhà văn còn quan niệm chính ngôn ngữ loài người với những đặc quyền văn hóa, với những bất công được mặc định trong hệ thống ngôn ngữ loài người đẩy con người vào bi kịch. “Em” (Gió lẻ) phát hiện ra rằng “không biết trên thế gian này có con chim nào tìm tới cái chết vì tiếng nói của con chim khác? Có con chó nào bỗng dưng đâm đầu vào đá vì tiếng sủa của con chó khác? Có con bò nào nhảy xuống sông tự tử vì tiếng kêu của con bò khác?”. Điền và Nương (Cánh đồng bất tận) chán chường, cô đơn, mất niềm tin vào thế giới người tìm đến tự nhiên thanh sạch, an lành, bao dung “Chị em tôi học cách yêu thương đàn vịt (hi vọng là sẽ không bị đau như yêu thương một con người nào đó)… chơi với người thấy buồn nên chuyển qua chơi cùng vịt”. Đặt con người trong thế đối lập với loài vật, tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư chạm vào nỗi đau sâu thẳm của nhân loại thời hiện đại: rời bỏ tự nhiên nghĩa là con người đã rời bỏ bản tính thiên nguyên tốt đẹp của mình. Đặt thiên nhiên bên cạnh thế giới người, ta nhận ra rằng, thế giới tự nhiên cũng có tâm hồn và tính cách, lại tràn đầy yêu thương, trái ngược lại với thế giới loài người đầy bất trắc, xảo trá, lọc lừa “Thế giới của loài vịt mở ra - không ghen tuông, hờn giận, chắc tại cái đầu vịt nhỏ quá nên chỉ đủ cho yêu thương”. Ông lão trong truyện Người nói tiếng bồ câu (Mạc Can) cũng khẳng định: “Lạ kì là bồ câu ít khi mâu thuẫn, nói tiếng gì đúng nghĩa đó, nghĩ sao nói đúng như vậy chứ không phải như con người”. Sự chân thật của muôn loài thể hiện ngay trong ngôn ngữ. So sánh với loài vật, các tác giả cho thấy nỗi hoài nghi về sự chân thật trong ngôn ngữ của loài người, có thể che đậy trong đó rất nhiều hư ngụy. Quan điểm này cũng được nhiều nghệ sĩ ưu tư với đời sống chia sẻ. Bài hát Bác làm vườn và con chim sâu (Đức Hùng) dù lấy cảm hứng từ bộ phim hoạt hình dành cho trẻ nhỏ: con người có thể nói chuyện với chim chóc và muông thú, tác phẩm đã đặt ra những trăn trở hết sức nghiêm túc về hiện sinh, những câu hỏi về thời gian và sự hữu hạn, về tình yêu và cái chân thật, về niềm hạnh phúc và tự do… mà so với cái bao la của bầu trời và cái an nhiên của con chim sâu, con người không thể có được.

Thời trung đại, khi hòa nhập vào tự nhiên, làm bạn với cỏ cây muông thú, con người cảm thấy bớt muộn phiền; giao hòa cùng tự nhiên, sống an nhiên thanh thản, vui vầy. Con người hiện đại vĩnh viễn mất đi cái an nhiên bình tĩnh ấy. Dù cho tìm quên trong cỏ cây, làm bạn với chim thú thì vẫn thấm đẫm nỗi âu lo hiện đại, thì vẫn cô đơn nguyên khối, khó có thể san sẻ. Soi vào thế giới phi nhân loại (nonhuman), lắng nghe tiếng nói và tâm hồn của chúng, con người trong văn học sau năm 1975 đã từ bỏ tư thế kiêu hãnh “kiểu mẫu của muôn loài” để nhận ra sự bất toàn của mình. Tạo hóa sinh ra con người và muôn loài là tốt đẹp và hoàn hảo, chỉ vì con người với những lí trí, dục vọng… đã làm khuất lấp đi vẻ đẹp tự nhiên ấy. Vì đánh mất bản tính tự nhiên tốt đẹp, con người trở nên bất toàn.

Khi con tinh tinh Dorothy chết trong một trung tâm cứu hộ tại Cameroon do suy tim, rất nhiều đồng loại của nó đã tập trung để bày tỏ lòng tiếc thương cho số phận của Dorothy


3. Chia sẻ cảm giác bị đau với muôn loài

Descartes, triết gia người Pháp thế kỉ XVII đã giải phóng con người khỏi nỗi băn khoăn về nỗi đau đớn của con vật và trở thành người chủ sở hữu tự nhiên bằng cách quan niệm “những con vật chẳng là gì hơn và hoặc chẳng là gì khác những cỗ máy cơ giới rất phức tạp” [1, 31]. Tất nhiên, rất nhiều quan điểm tôn giáo và triết học phản đối quan điểm đó: “phủ nhận việc loài vật có thể thể hiện sự thích thú và nỗi đau… cứ như thể bằng tiếng kêu, tiếng rên rỉ của mình, những con vật chẳng phàn nàn gì về nỗi đau thể xác, ngay cả khi chúng bị bỏ rơi, bị nhốt, bị sập bẫy, bị cách li với con cái, chịu những nỗi đau tinh thần… Cứ như thể chúng không cảm thấy lo âu” [1, 48]. Hiến pháp hiện đại (Modern Constitution) tách biệt con người và thế giới tự nhiên là điều kiện để “việc tiêu thụ thịt động vật gần như bị ngắt liên hệ hoàn toàn với sự chịu đựng nỗi đau đớn và cái chết của những con vật. Bởi vậy, khi đạt đến được sự nhận thức về tính không thể tách biệt giữa tự nhiên và văn hóa, vật chất (physis) và kĩ thuật (techne), trái đất và vật tạo tác, sự tiêu thụ và sự hủy diệt, cũng là lúc chúng ta vượt qua được sự bế tắc của Chủ nghĩa hiện đại cũng như sự kiêu ngạo của Chủ nghĩa nhân văn” [5].

Càng ngày, con người văn minh phải biết cảm thông với tự nhiên, đó cũng là lí do những tổ chức bảo vệ động vật ra đời, để lên án những hành vi trái với quyền động vật như lấy mật gấu, lấy sừng tê giác, lấy ngà voi… Tại sao việc cứu lấy các động vật hoang dã lại quan trọng? Bởi vì để cứu chúng, con người sẽ phát triển tính người, mà nhân tính lại là cái chúng ta cần có để nhân loại bền vững. Như vậy, từ quyền con người đến quyền của tự nhiên là bước tiến lớn trên lộ trình nhân văn hóa con người. Học cách yêu quý muôn loài là cách chúng ta nuôi dưỡng nhân tính. Nương và Ðiền (Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư) chứng kiến cảnh những con vịt của mình bị chôn sống, cảm thấy đau đớn đến nghẹt thở “tôi nghe vịt - của – tôi vẫn còn thoi thóp, chúng đau đớn vì những cái cổ gãy, rối quặt quẹo… cảm nhận được cái thở hướt ngắn dần, ngắn dần của con vật sau cùng”. Con người cảm nhận nỗi đau của con vật như nhận ra nỗi đau của đồng loại: “Họ phởn phơ nói bằng thứ ngôn ngữ buồn cười (bọn chăn vịt chúng tôi chẳng khi nào dùng những chữ “chỉ thị”, “loại trừ tận gốc” hay “giải quyết dứt điểm”…). Thật đơn giản, khi nói “các người phải tiêu hủy bầy vịt”. Cha tôi cáu kỉnh gật đầu. Tôi và Điền kêu lên một tiếng buốt, ôi, những bạn – bè của chúng tôi sắp bị chôn sống nữa rồi”. Ông Khúng (Phiên Chợ Giát, Nguyễn Minh Châu) cảm thấy đau đớn, ám ảnh trước những phản thịt bò bày bán ở chợ, ông không nỡ bán con bò Khoang cho người ta giết thịt mà tha bổng cho nó về rừng.

Trong những truyện này, xuất hiện kiểu nhân vật đi săn, nhân vật làm nghề đồ tể. Nhưng cảm hứng không phải là chinh phục tự nhiên, mà nghiêng về cảm giác chia sẻ nỗi đau thể chất với những con vật. Châu (Đồ tể, Nguyễn Trí) nhận thấy sự tinh khôn của con heo “ai nói ngu như lợn là sai, có vào nghề này mới biết nó cũng khôn và biết trước cái chết của mình”, nỗi đau đớn của con trâu “Đau lắm. Chắc là đau đớn lắm nên tiếng kêu bi thương ngoài sức tưởng tượng” nên anh cảm thấy ghê rợn, ám ảnh khi phải làm nghề đồ tể. Tuệ anormal (Hoa tre nở, Quế Hương) phụ cha làm nghề bắt chó giết thịt nhưng khi chứng kiến cô gái bé nhỏ, gầy nhom lấy hết sức lực của mình ra cứu con chó thì động lòng trắc ẩn thả con cho ra và từ bỏ nghề, đồng thời suốt đời giữ một tình yêu thầm lặng, câm nín, tôn thờ cô gái bé nhỏ nhưng quyết liệt và đa cảm ấy. Tình yêu đó khiến cho anh trở thành “một người yêu vô lượng, một gã đồ tể buông cây dao trong tâm”. Ông Diểu (Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp) đi săn nhưng chủ yếu cảm nhận “sự tĩnh lặng bình thản của rừng xuyên suốt qua ông”, nên mỗi lần gây tai họa cho khỉ, ông đều ân hận, thảng thốt. Khi dương súng bắn, “sự hỗn loạn của đàn khỉ khiến ông Diểu sợ hãi run lên… Ông đã lộ mặt là tên ám sát”; khi dồn khỉ con đến miệng vực khiến nó lăn xuống, “ông Diểu tái mặt, mồ hôi toát ra như tắm. Từ vực sâu hun hút vang lên tiếng rú thê thảm của con khỉ nhỏ… Ông Diểu lùi lại kinh hoàng”; khi vác con khỉ đực bị thương xuống núi ông băng bó vết thương, chăm sóc cho nó, “thấy thương hại”, “tránh nhìn vào mắt nó” vì “dễ mủi lòng”.

Mẫu hình nhân cách của người anh hùng chinh phục tự nhiên thuộc về kẻ chiến thắng, sức mạnh được tôn vinh là sức mạnh thể chất, lí tính, đề cao khoa học. Do vậy bao giờ nó cũng thuộc về những hình tượng trung tâm. Đạo đức sinh thái trong văn xuôi sau năm 1975 lại hình thành từ những thân phận bé nhỏ, bên lề. Văn xuôi sinh thái đã tìm ra những mẫu hình nhân cách mới như lão Khúng (Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu), Đoan (Con chó và vụ li hôn, Dạ Ngân), ông lão (Cái nhìn khắc khoải, Nguyễn Ngọc Tư), ông Diểu (Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp), Nương và Điền (Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư), ông Su Da (Người nói chuyện với chim bồ câu, Mạc Can ).... Đó là những con người biết nâng đỡ thế giới tự nhiên bị thương tổn, đồng cảm với số phận tự nhiên bị chà đạp; biết lắng nghe những tiếng nói lạ thường của thiên nhiên; biết sống hài hòa với thế giới xung quanh và gắn kết với đất đai, muông thú, cỏ cây bằng một tình yêu sâu nặng.

Nghe tiếng loài vật, con người nhận ra loài vật có sinh mệnh, tâm hồn, tình cảm, cảm giác, ngôn ngữ do vậy, các nhân vật trong truyện thấu cảm với động vật, chia sẻ cảm giác bị đau với chúng. Trong mối quan hệ với tự nhiên, đạo đức sinh thái của thế kỉ XXI đã có những thay đổi, con người không còn là kẻ chinh phục mà là những người biết cúi xuống những số phận tự nhiên bị thương tổn, biết chia sẻ cảm giác bị đau với muôn loài, biết lắng nghe tiếng nói từ vạn vật, biết chia sẻ và tôn trọng muôn loài. Do vậy, đạo đức sinh thái trong văn học đưa ra đề xuất Chủ nghĩa nhân văn sinh thái: Tư tưởng này không ca ngợi con người như “chúa tể của muôn loài” mà là thái độ sống tự thu nhỏ mình lại, tôn trọng vạn vật để hướng tới cuộc sống bền vững, yên ổn, hạnh phúc. Từ quyền con người đến quyền của động vật đánh dấu bước tiến lớn trên lộ trình nhân văn hóa con người. Dù chúng ta bận tâm đến bất cứ điều gì của cõi người, chúng ta vẫn ở trên trái đất; trong mọi mối quan hệ, chúng ta vẫn tiếp xúc với cỏ cây muông thú, vậy mà trái đất đang lâm nguy, loài vật dần vắng bóng trong đời sống, con người trở nên bất an trong thời đại văn minh kĩ trị. Do đó, văn học, nơi bắt đầu của những phản biện với những lối mòn của tư duy cần cất lên tiếng nói của sự phản tỉnh. Có như vậy, văn học Việt Nam mới tiếp cận được với những vấn đề khẩn thiết đương đại trong thời đại mà sự khủng hoảng sinh thái trở thành vấn đề nghiêm trọng toàn cầu.

T.T.A.N
(SHSDB23/12-2016)

---------------------
1. Fontenay E. (2013), Khi con vật nhìn ta, Hoàng Thanh Thủy dịch NXB Tri Thức, Hà Nội, tr 39.
2. Đinh Thị Khang (2011), “Truyện Trinh thử và những yếu tố của văn học dân gian”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9 tr 107 – 118.
3. Manes C. (1996), “Nature and Silence”, The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology edited by Cheryll Glotfelty and Harold Fromm, University of Georgia Press, p 15- 30.
4. Mạc Ngôn (2002) , “Văn học phải làm cho con người tin nhau hơn (Đối thoại đầu năm giữa Oe Kenzaboko với Mạc Ngôn), Báo Văn nghệ, Số 12 (23/03/2002), tr 9.
5. Rigby K. (2014), Chapter 7: “Ecocritisim”, Introducing Criticism at the Twenty -First Century, Edinburgh UP, Đặng Thị Thái Hà dịch, Phụ lục luận văn Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình sinh thái (Qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư), Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội.
6. Thornber K. (2014), Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học (Hải Ngọc dịch), http://hieutn1979. wordpress.com  




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.

  • JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.