Thảo luận về lý luận văn nghệ ở Trung Quốc thời kỳ mới

17:10 02/06/2008
Việc mở rộng phong trào giải phóng tư tưởng trên văn đàn thời kỳ mới, lãnh vực phê bình và lý luận văn nghệ đã xuất hiện cục diện vô cùng sống động.

Từ sau khi thành lập nước, do chịu sự quấy nhiễu của tư trào "Tả" khuynh nên sự phát triển lý luận văn nghệ của Trung Quốc chậm chạp, lung lay, thiếu vững chắc. Một số lý luận mô thức hóa và ngưng cố hóa, không thể thích ứng với yêu cầu nhanh chóng của sáng tác văn học nghệ thuật. Có một số quan điểm bị chi phối bởi ý thức văn học của truyền thống, biểu hiện ở màu sắc dung tục xã hội học và máy móc duy tâm luận. Tình hình tốt đẹp của việc giải phóng tư tưởng, lý luận và phê bình văn học có sự đột phá và phát triển mới chưa từng có từ trước đến nay.
Thời kỳ mới, lý luận và phê bình văn học gặp được sự phát triển lớn. Rất nhiều nhà lý luận, nhà phê bình và nhà văn mạnh dạn tìm tòi, dũng cảm sáng tạo, lấy lý luận của một số ít người, đề xuất ra quan điểm mới đông đảo, thay đổi cơ bản lý luận đã tồn tại và kéo dài trong một thời gian. Diễn tiến của lý luận văn nghệ và phê bình văn học được tiến hành đồng thời trong hai lãnh vực. Một là, đối với lý luận và quan điểm của khuynh hướng "Tả" thì làm rõ phải trái, đúng sai. Mặt khác, tổng kết cơ sở lý luận của bên ngoài và cơ sở lý luận trong nước để thay đổi cách nhìn mới và suy nghĩ mới. Nhìn chung, trước năm 1983, vấn đề thứ nhất là chủ yếu. Sau đó, vấn đề thứ hai chiếm địa vị chủ đạo.
Buổi đầu của thời kỳ mới, xoay quanh một số vấn đề cơ bản của văn học, việc triển khai thảo luận chủ yếu là tập trung vào các mặt sau đây:
1. Thảo luận về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị.
Đây là một vấn đề rất quan trọng, tranh luận kéo dài, chưa kết thúc trong lịch sử văn học đương đại Trung Quốc và các nước XHCN. Thời kỳ 17 năm (1), Đảng công khai đề ra khẩu hiệu "Văn nghệ phục vụ chính trị". Kết quả của nó là đem văn nghệ làm một thứ "công cụ" bị động, bị chính trị chi phối, sáng tác văn học trở thành thứ giải thích và tuyên truyền của “công tác trung tâm", "vận động chính trị", nghiêm trọng hơn là coi thường quy luật và đặc tính vốn có của văn học. Ngay cả "Bè lũ 4 tên" cũng lợi dụng khẩu hiệu này để biến văn nghệ thành "công cụ cướp đoạt quyền lãnh đạo của Đảng, bào chế âm mưu lừa gạt văn nghệ". Thông qua thảo luận, mọi người dần dần nhận thức đúng đắn, đã hiểu được tác dụng tích cực của "Văn nghệ phục vụ chính trị' vượt qua trên lịch sử, minh xác khẩu hiệu này trên lý luận và thực tiễn.
Đồng chí Đặng Tiểu Bình trong "Chúc từ" ở Đại hội đại biểu văn nghệ toàn quốc lần thứ 4 đã nói: "Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác văn nghệ không phải là phát ra khẩu hiệu và thi hành mệnh lệnh, không phải yêu cầu văn học nghệ thuật phụ thuộc vào nhiệm vụ chính trị tạm thời, cụ thể và trực tiếp mà là căn cứ vào đặc trưng và quy luật phát triển của văn học nghệ thuật, giúp đỡ những người làm công tác văn nghệ giành được điều kiện để không ngừng làm cho sự nghiệp văn học nghệ thuật phồn vinh, nâng cao trình độ văn học nghệ thuật, sáng tác ra những tác phẩm văn học ưu tú và nghệ thuật biểu diễn của thời đại vĩ đại và nhân dân vĩ đại của nước ta".
Sau đó, đồng chí Đặng Tiểu Bình trong bài "Tình hình và nhiệm vụ trước mắt" lại nói về vấn đề này. Đồng chí nói: "Chúng ta kiên trì phương châm "Hai trăm" và chủ nghĩa "Ba không", không tiếp tục đề ra khẩu hiệu văn nghệ phục vụ chính trị như thế, bởi vì nội dung của khẩu hiệu này dễ dàng trở thành căn cứ lý luận can thiệp vào văn nghệ. Thực tế lâu dài chứng minh, đối với sự phát triển của văn nghệ là lợi ít, hại nhiều. Nhưng đương nhiên đây không phải là nói văn nghệ có thể thoát ly chính trị. Văn nghệ là không thể thoát ly chính trị".
Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chính thức đổi khẩu hiệu "Văn nghệ phục vụ chính trị" thành khẩu hiệu "Văn nghệ vì nhân dân phục vụ, vì XHCN phục vụ". Ngày 26.1.1980, "Nhân dân nhật báo", đăng xã luận "Văn nghệ vì nhân dân phục vụ, vì XHCN phục vụ", tổng kết tương đối toàn diện vấn đề quan hệ giữa văn nghệ và chính trị.
2. Thảo luận về tính chân thực của văn nghệ.
Đây cũng là cuộc tranh luận kéo dài rất lâu trong giới văn nghệ, và cũng là một vấn đề rất phức tạp. Chân thực là sinh mệnh của nghệ thuật. Đây vốn là vấn đề có tính thường thức trên lý luận văn học. Nhưng dưới ảnh hưởng của tư tưởng "Tả" khuynh, khuynh hướng chính trị của văn học dần dần che lấp và thay thế tính chân thực của văn học, ngay cả "Bàn về 8 đen" (Hắc bát luận) của "Bè lũ 4 tên" cũng đem nhập vào "Tả chân thực". Thời gian đầu của thời kỳ mới, nhà văn, nhà lý luận, nhà phê bình đều rất coi trọng vấn đề "viết chân thực" của văn học. Đây không còn nghi ngờ gì là vấn đề quan trọng trên quan điểm văn học. Trong báo cáo tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 4, đồng chí Chu Dương đã chỉ rõ: "Chân thực là sinh mệnh của văn học. Xa rời chân thực, cũng là nói không tính tới tư tưởng và tính nghệ thuật. Đối với nhà văn, nhà nghệ thuật mà nói, đời sống là vị trí hàng đầu. Thực tiễn đời sống, bao gồm có thực tiễn sáng tác, không những có ảnh hưởng đến bản thân sáng tác, mà còn ảnh hưởng đến thế giới quan, tạo nên sự cất cánh và biến đổi của thế giới quan".
Giới văn nghệ đối với việc thảo luận vấn đề tính chân thực, không ngừng tiến hành, không ngừng đi sâu và đã trải qua một thời gian khá dài. Phạm vi cơ bản của bản thân gồm hai vấn đề chính sau đây:
- Mối quan hệ giữa "miêu tả hiện thực" (Tả chân thực) và "miêu tả bản chất" (Tả bản chất).
- Mối quan hệ giữa chân thật đời sống và chân thực nghệ thuật.
Sự nhận thức mà mọi người tương đối dễ nhất trí "Miêu tả hiện thực" là một mệnh đề chính xác. Chỉ có "miêu tả chân thực" mới có thể đảm bảo sức sống của sáng tác văn học. Mà bản thân chân thực lại là yêu cầu nhà văn, thông qua quan điểm thế giới quan của chủ nghĩa Mác và duy vật biện chứng để phân tích, so sánh, giám sát mới có thể nắm vững. "Miêu tả chân thực" chẳng phải là miêu tả đời sống một cách giản đơn theo kiểu chụp ảnh mà là yêu cầu dùng lý tưởng nghệ thật để chiếu rọi tố chất của đời sống, làm cho nó tăng lên cảnh giới ngày càng cao. Cần phải có sự chân thực của đời sống khách quan, lại phải có tình cảm chân thực trên chủ quan nhà văn, thông qua hình ảnh và tư tưởng dưới ngòi bút của nhà văn, nâng cao tố chất linh hồn của mọi người, chiếu rọi phương hướng mọi người tiến lên mới có tác phẩm phản ánh cuộc sống hiện thực chân thực và sinh động.
3. Thảo luận về vấn đề ca ngợi và phơi bày
Trong sáng tác văn học của buổi đầu thời kỳ mới, do số lượng tác phẩm phơi bày tội ác của Lâm Bưu và "Bè lũ 4 tên" tương đối nhiều và trên mặt hiệu quả cũng tương đối rõ. Tình hình này tạo nên sự thảo luận của giới văn nghệ đối với vấn đề ca ngợi và phơi bày. Có người đem lại sáng tác này tổng kết thành "Văn học của việc miêu tả bề mặt sáng tối" và "Văn học nhìn về phía sau". Nhận thức là "Lau đen trên bộ mặt XHCN". Phần lớn văn nghệ sĩ trong cuộc thảo luận đã chỉ ra hiện thực xã hội chủ nghĩa có ánh sáng, nhưng đồng thời cũng có bóng tối. Văn học phản ánh đời sống xã hội sẽ không thể tránh khỏi việc phơi bày bộ mặt đen tối của xã hội. Đây là công năng nghệ thuật chân chính của văn học, không thể cho rằng chỉ phải là phơi bày bộ mặt đen tối mới là phủ định chế độ XHCN. Đương nhiên, vô luận ca ngợi hay phơi bày cũng đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân và từ trên chính thể toàn diện để nắm vững và vận dụng. Nếu như tổng thể riêng lẻ của văn học, hoặc giả là thứ phản ánh trên bề mặt sáng tối, thì không thể nói là phản ánh một cách đầy đủ, chuẩn xác bản chất của xã hội. Trong bài bình luận đăng trên số 5, năm 1979, "Báo văn nghệ" đã chỉ ra: "Chúng ta phản đối tất cả lời nói và việc làm có tổn hại đến CNXH, nhưng cũng không thể lấy lý do nào để ngăn cản việc phơI bày và phê phán sâu sắc và triệt để để chống lại Lâm Bưu và "Bè lũ 4 tên". Mâu thuẫn và vấn đề tồn tại trước mắt trong xã hội của chúng ta, không nên lấy thái độ nửa vời mà nên đứng vững trên lập trường đứng đắn, tiến hành phê phán, suy nghĩ và phê phán một cách nghiêm túc, từ đó mà thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ sự nghiệp xây dựng XHCN.
4. Thảo luận về vấn đề sáng tạo hình tượng con người mới XHCN.
Trong bài "Chúc từ" phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ 4, đồng chí Đặng Tiểu Bình, sau khi chỉ ra vấn đề này, đã gây nên sự chú ý của giới văn nghệ. Rất nhiều báo chí đều liên tục triển khai cuộc thảo luận. Phần lớn mọi người đều nhất trí cho rằng, sáng tạo hình tượng con người mới XHCN là sứ mệnh có tính lịch sử mà thời đại mới đã phú cho sáng tác văn học, nên nhanh chóng đề ra trong chương trình sáng tác văn học. Vấn đề nổi bật trong cuộc thảo luận là con người như thế nào là con người mới XHCN? Có người cho rằng, con người mới XHCN nên là "con người bình thường". Ngược lại, có người cho rằng con người mới XHCN là "trung kiên của xã hội". Có người tán đồng con người XHCN bao gồm hai loại người, là nhân vật anh hùng và nhân vật bình thường. Cũng có người nêu ra, con người mới đã cao hơn nhân vật chính diện bình thường nói chung, lại càng không phải là nhân vật anh hùng, tiên tiến. Trên vấn đề sáng tạo hình tượng, con người mới XHCN như thế nào, nhận thức tương đối rõ trong cuộc thảo luận là sáng tạo con người mới phải miêu tả được đặc điểm của thời đại, ngợi ca được lý tưởng cao cả. Nhưng quyết không thể đem con người mới mỹ hóa, dẫn đến con đường sai lầm là "cao, to và toàn diện". Nên chú ý đặt con người mới ở trong đấu tranh và mâu thuẫn, đặt ở hành động khắc phục nhược điểm của bản thân, để vươn lên.
5. Thảo luận về chủ nghĩa nhân đạo và nhân tính
Từ sau khi thành lập nước (1949), trên văn đàn Trung Quốc đã từng tổ chức mấy lần thảo luận về chủ nghĩa nhân đạo và nhân tính, nhưng đều bị một số quan điểm sai lầm cùng khuynh hướng "Tả" của chủ nghĩa giáo điều chiếm lĩnh vị trí chủ đạo. Thậm chí đến thời gian dài về sau rất nhiều người đối với vấn đề này lại nhiều ý kiến trái ngược. Trước đây, do sự cường điệu và khoa trương đối với quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp không thỏa đáng, có người còn phủ định tố chất và đặc tính của bản thân, phủ định mối quan hệ giữa người và người ngoài quan hệ giai cấp, phủ định tình cảm và những điều mong ước
của con người. Khi "Bè lũ 4 tên" lộng quyền, nhân tính bị tiêu diệt, thú tính hoành hành, mọi người gọi đó là thời đại của "người chẳng phải là người". Khi được sự cổ vũ tinh thần của việc "giải phóng tư tưởng", "đột phá vùng cấm", nhân tính và chủ nghĩa nhân đạo trở thành vấn đề nóng hổi của giới văn học, nghệ thuật.
Cuộc thảo luận xoay quanh mấy vấn đề sau đây:
- Đối với nhận thức cơ bản của nhân tính và chủ nghĩa nhân đạo.
- Văn học nên miêu tả nhân tính như thế nào và biểu hiện chủ nghĩa nhân đạo.
- Trào lưu văn học của thời kỳ mới có thể trở thành "Trào lưu của chủ nghĩa nhân đạo".
- Mối quan hệ giữa cộng đồng và tính giai cấp v.v...

Cuộc thảo luận của nhân tính và chủ nghĩa nhân đạo rất sôi nổi. Chỉ trong vòng 3 năm từ sau năm 1977, trên báo chí toàn quốc đã đăng 200 bài về cuộc thảo luận này. Những ý kiến có vấn đề đều gây nên sự tranh luận rộng rãi. Trong cuộc thảo luận, nhận thức tương đối thống nhất là sáng tác văn học nên cho phép, thậm chí là đề xướng việc biểu hiện nhân tính và chủ nghĩa nhân đạo một cách chính xác. Nhưng đồng thời nên đề phòng nhân tính và chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng hóa, lộn xộn, để kẻ địch dễ lợi dụng và làm nội bộ chúng ta mâu thuẫn nhau.
6. Thảo luận về vấn đề vay mượn tấm gương của văn học phái hiện đại Tây phương.
Sau khi đập tan "Bè lũ 4 tên", sự bế quan, cấm đoán của quảng đại quần chúng được giải tỏa, mọi người tự nhiên đem ánh mắt hiếu kỳ nhìn ra thế giới rộng lớn... Những tiêu chí lập dị, tân thời và xa lạ của văn học phái hiện đại Tây phương xâm nhập vào Trung Quốc và có tác động rất mạnh. Trong thời kỳ này có bắt chước, học tập và mô phỏng theo, tạo nên "Thế dẫn tiến". Trong tình hình này, vấn đề đối xử với văn học phái hiện đại Tây phương như thế nào sẽ gây nên sự chú ý của giới văn nghệ. Năm 1979, thảo luận về tiểu thuyết "Trào lưu ý thức" của nhà văn Vương Mông. Năm 1980, thảo luận về "Kỹ xảo tiểu thuyết hiện đại" của Cao Hành Kiện. Các cuộc thảo luận này nổi lên mấy vấn đề sau đây:
- Nhìn nhận văn học hiện đại Tây phương như thế nào?
- Văn học của Trung Quốc phải chăng cần phải xây dựng "phái hiện đại của Trung Quốc".
- Mối quan hệ giữa văn học hiện đại hóa với xây dựng văn học phái hiện đại.
- Mối quan hệ về việc vay mượn văn học phái hiện đại Tây phương với văn học dân tộc hóa của Trung Quốc.
Phạm vi cuộc thảo luận lần này rất rộng rãi. Có người xuất phát từ trên bình diện lịch sử, phát sinh, phát triển của văn học phái hiện đại Tây phương để suy nghĩ. Có người lược thuật kinh nghiệm lịch sử sự phát triển văn học mới của Trung Quốc từ sau "Ngũ tử". Cũng có người từ trong lý luận và sáng tác của phái hiện đại để nghiên cứu. Tranh luận rất nhiều, sự phân kỳ thảo luận cũng rất lớn. Nhận thức chung của mọi người là: Văn học phái hiện đại của Tây phương được coi là một hiện tượng văn học của tính thế giới, là sự tồn tại khách quan, là một sản phẩm có tính quy luật nhất định do sự phát triển của văn học Tây phương mang lại. Những năm 50, Trung Quốc đã từng coi văn học phái hiện đại của Tây phương là "mãnh thú hồng thuỷ ", "nghệ thuật của sự hủ bại đồi trụy". Những nhận thức này rất sai lầm, cực đoan. Việc vay mượn văn học phái hiện đại của Tây phương là cần thiết, tất yếu, nhưng phải xuất phát từ tình hình và đặc điểm cụ thể của Trung Quốc; nên phân biệt rạch ròi giữa nó và nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, giữ lấy thủ pháp biểu hiện và thế hệ triết học. Mọi người nhận định văn học phái hiện đại của Tây phương là phương hướng phát triển của văn học Trung Quốc hoàn toàn là không có căn cứ và thiếu cơ sở lý luận cũng như thực tiễn.
Ngoài ra, còn có nhiều vấn đề thảo luận khác như: vấn đề chủ nghĩa hiện thực, vấn đề điển hình, vấn đề tính chủ thể của văn học, vấn đề "văn hoá nhiệt", vấn đề "chuyển hướng nội" của văn học thời kỳ mới v.v...
Các cuộc thảo luận về những vấn đề lý luận biểu hiện những đặc điểm chung sau đây:
- Trước hết, các cuộc thảo luận đều thể hiện được không khí học thuật dân chủ, đoàn kết và hài hoà. Có rất nhiều ý kiến đối lập gay gắt, nhưng có thái độ thảo luận, tranh luận để nhằm làm sáng tỏ chân lý.
- Các cuộc thảo luận có sự kết hợp hữu cơ, không rõ người lập ngôn, cũng không vì người phát ngôn, không ồn ào hỗn loạn, cũng không có hiện tượng chụp mũ quy kết, biểu hiện được tinh thần dân chủ, bình đẳng, có văn hoá và khoa học.
Những ý kiến thảo luận chưa ngã ngũ đều được bảo lưu. Rất nhiều tranh cãi đều tạm thời có kết luận, cũng không vì thế mà mất đi sự tổng kết, làm cho mọi người có điều kiện để tiếp tục suy nghĩ thêm và nghiên cứu thêm.
Trong thảo luận đã xuất hiện không ít quan điểm cực đoan máy móc. Rất nhiều người thể hiện tinh thần dũng cảm, thẳng thắn, nắm vững vấn đề lý luận, vì sự phát triển của nền lý luận văn học của Trung Quốc. Đương nhiên, trong các cuộc tranh luận này cũng không tránh khỏi những ý kiến sai trái. Đó cũng là điều tất yếu trong quá trình phát triển của văn học thời kỳ mới.

HỒ SĨ HIỆP
(nguồn: TCSH số 152 - 10 - 2001)

--------------------------------------------------------
(1) Tức thời kỳ từ năm 1949 - 1966 (trước khi xảy ra cuộc “Cách mạng văn hoá”)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.

  • TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.

  • HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNG                 Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.

  • ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.

  • LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.

  • NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.

  • AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.

  • TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!

  • PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

  • THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.                                VẠN HẠNH Thiền sư

  • HỒ THẾ HÀ  Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique  expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.

  • LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết:              Đào tiên đã bén tay phàm              Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?

  • CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.

  • PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.

  • HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.

  • BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.

  • NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.