Thành Hoàng cười

09:55 28/08/2008
MẠC DO HÙNGBố nhắn tôi mời Sĩ về làng tu sửa bức tượng Thành Hoàng. Sĩ nghe tôi nói, trầm ngâm: "Cho mình thời gian suy nghĩ, Bỏ nghề lâu quá rồi, không hiểu đôi tay có còn cảm giác!"

Sĩ là bạn tôi. Dân điêu khắc trường trại. Từ ngày về công tác ở cơ quan Văn hoá - Thông tin chỉ được phân làm một việc kẻ khẩu hiệu. Cắt dán, lắp chữ, quẹt sơn hoài đâm nản. Cũng gửi gắm ý tưởng vào một số công trình nhưng chưa hề được các vị "giám khảo" ghé mắt. Dù vậy lúc say vẫn cao hứng tuyên bố: "Mình sẽ có tác phẩm bất tử!". Khi tỉnh rượu lại cười buồn: "Chí cao, tài mọn, thật bi kịch". Tôi an ủi: "Cậu còn dằn vặt, còn quay quắt là còn chất  nghệ sĩ". Sĩ cáu: "Ông học thói ăn theo, nói leo". Tôi cười: "Chuyện thường thôi". Vợ Sĩ có nghề giò chả. Mỗi sáng trước lúc đến cơ quan, Sĩ gồng vai giã cho vợ mấy cối thịt. Hoàn thành nhiệm vụ, vợ nhét vào túi vài chục ngàn để bù khú với bạn bè. Lẽ ra, đời như thế là vui. Không hiểu sao Sĩ cứ buồn! Nghe bàn chuyện sửa tượng, vợ tôi nói: "Đúng là việc cần làm. Mẹ kiếp, Thành Hoàng làng anh mặt buồn như bị mất trộm". Tôi quát: "Cô đừng ăn nói kiểu táo tợn. Đàn bà táo tợn chỉ thiệt thân". Vợ tôi xị mặt.
Không biết làng tôi hình thành từ bao giờ. Miếng cơm, manh áo luôn quấn chặt số phận từng con người nên chả ai còn lòng dạ truy tìm tung tích. Làng nằm lọt thỏm trong những dãy đồi hình cánh cung. Trước mặt là biển với bãi ngang đá chìm, đá nổi. Cũng có cửa biển cho thuyền vào ra nhưng nó nhỏ đến mức nói như mẹ tôi: "Con cá cũng chê!". Để chống chọi mùa gió bão, mỗi căn nhà được xây dựng như một lô cốt bằng đá. Nhìn từ xa trông giống căn cứ quân sự. Làng có khoảng trăm hộ chia thành ba xóm: Thượng, Trung, Hạ. Xóm Thượng chen chúc đầu trên, nơi con suối nhỏ chảy ra phục vụ nước ngọt cho làng. Dân chuyên nghề đi củi. Xóm Trung, nhà ở kéo dọc triền đồi, làm nghề đá ong và buôn bán. Gọi buôn bán cho oai, cũng chỉ quán xá lèo tèo với dưa muối, tương cà, dầu đèn, kim chỉ, cùng dăm vỉ thuốc chữa nhức đầu, cảm sốt. Xóm Hạ của tôi sở hữu dăm mẫu đất trồng lúa nước trời cùng vài chiếc thuyền chèo tay. Những chiếc thuyền mà chỉ cần gió hơi mạnh là đố dám trườn ra khỏi cửa. Kinh tế làng tôi cũng đủ nông, công, thương nhưng anh nào cũng "giật gấu vá vai", đến nỗi không còn "gấu" để giật.
Mỗi xóm tự hình thành một vị đầu xóm. Xóm Thượng có đầu xóm là lão Bá. Cả làng ai cũng sợ. Nhà lão nằm ngay đầu suối. Lão hay đùa: "Tôi không gìn giữ chắc cả làng uống nước thối". Có giỗ chạp trong làng, lão Bá chưa đến thì chưa có chuyện đụng đũa, đụng mâm. Ba ly rượu vào, lão thao thao bất tuyệt chuyện trên trời, dưới đất, đông tây, kim cổ lộn xộn. Cũng không hại gì đến ai. Nhưng bố tôi - đầu xóm Hạ - mỗi lần say, về nhà tức tối: "Uất thật! Cứ phải khoá mồm ngồi nghe kẻ phét lác". Mẹ tôi rì rầm: "Vậy chứ thiếu lão, làng sẽ mất vui". Đầu xóm giữa là ông Vàng. Người có quán tạp hoá xôm trò nhất. Ngày xưa, ông ta bán mặt hàng gì cũng xảo một tí. Cân, đo, đong, đếm đầu thừa, đuôi thẹo. Ai cũng biết nhưng giả ngơ. Ông Vàng có thằng con tên Đá. Đôi bàn tay Đá dẻo đến độ khác thường. Ở làng, đôi tay ấy chẳng biết dùng làm gì nên nó nghĩ ra bao trò gian lận. Bài tây, bầu cua, xóc đĩa, môn nào nó cũng tìm cách bịp cho được mọi người mới thôi. Năm 18 tuổi, Đá theo người làng cá chạy ra nước ngoài. Nghe nói nó nổi tiếng cờ bạc bịp nên bị các tay anh chị giang hồ quốc tế khử. Cũng chỉ lời đồn đại. Không ai rõ thực hư thế nào! Sự thật là từ ngày ra đi, Đá biệt tích luôn. Bây giờ ông Vàng sống dở, chết dở. Làng tôi có cái tệ là hay bị trộm vặt. Đồ vật gì hớ hênh một tí là biến mất ngay. Nhưng làng có lệ từ xưa, người bị trộm không được kêu ca, chửi bới. Gào lên sẽ bị phạt vạ. Cha tôi giải thích: "Lòng tham của con người rất kinh dị. Anh không biết giữ gìn, cứ hơ hớ ra như thế bảo làm sao nó không nhanh tay chớp lấy. Anh cũng có tội vì đã tạo điều kiện, kích thích sự tham lam". Mẹ tôi chua chát: "Các ông lý sự cùn". Chiều chiều, đàn ông trong xóm, trong làng tụ tập uống rượu. Khi say trông mặt ông nào cũng dúm dó, nhàu nát. Thỉnh thoảng gây sự nhau vì những chuyện không đâu. Ngày hôm sau tỉnh, xách rượu tìm nhau rối rít xin lỗi. Phạt chú một chén, phạt anh gấp đôi, lại say. Đàn bà trong làng phát chán cảnh say sưa. Nhưng rồi chỉ thở dài, thông cảm: "Họ còn biết làm gì hơn. Sao chiều nào cũng buồn vậy, hở trời!".
Cuối xóm Hạ có ghềnh đá nhô ra biển. Chân ghềnh lõm vào thành một chiếc hang. Trong hang có bức tượng người đàn ông với dáng đứng vươn tay, nghiêng mình hướng ra biển. Chả ai biết đây có phải là người mở đất lập làng hay không? Nhưng xưa đã thờ thì nay theo. Trong năm không có ngày cúng quảy cố định. Ai có việc cứ tự động vào hang đặt lễ, thắp hương cầu khấn. Chuyện không có gì đáng nói nếu là tượng bình thường. Ở đây, bức tượng đá của làng không có đôi bàn tay. Dân các làng khác gọi làng tôi là làng Cụt. Họ kháo nhau: "Thành hoàng làng tôi mắc tội trộm cắp, bị triều đình xử chặt tay. Xấu hổ nên tìm trốn nơi thâm sơn cùng cốc". Dĩ nhiên làng tôi không chấp nhận "truyền thuyết" này. Cũng vì chuyện hoang đường mà trẻ con làng tôi thường "đánh nhau" với trẻ con các làng bên. Chủ yếu là "võ mồm". Quá lắm thì đất hòn, đất cục ném nhau. Chưa có đứa nào bị sứt đầu, mẻ trán. Trẻ con dừng lại mức ấy, người lớn nghiêm trọng hơn. Làng tôi chưa hề có được mối lái, cưới xin với những người "láng giềng". Trai gái các xóm lượn lờ với nhau vẫn không hợp nhãn thì phải đến chốn xa tìm chồng, tìm vợ. Lâu dần mọi chuyện cũng quen, không ai còn thắc mắc. Lúc nhỏ, ở làng, tôi không dám tham gia vào các "trận chiến" trẻ con vì phải theo học trường chung với làng khác. Chúng bạn hay trêu "dân làng Cụt". Tôi nghe hoài, nhàm tai. Học hết lớp ở quê, mẹ gửi tôi lên cho người anh làm việc ở tỉnh. Bác nuôi tôi học đến trung cấp, xin cho việc làm. Tôi lấy vợ, thành người phố thị. Đám cưới xong, tôi đưa vợ về làng ra mắt bà con. Khi trở lại nhà, vợ tôi nói: "Ở làng anh thấy rờn rợn. Mắt ai nhìn cũng lòm lòm. Trông như đang dò xét kẻ gian". Tôi nghe buồn lặng người.
Ba tháng trước, làng tôi xảy ra chuyện động trời. Bé Thuỷ , em họ tôi, lớ quớ thế nào lại đi yêu cậu trai đánh cá làng bên. Chúng nó thề non, hẹn biển, sống chết có nhau. Gia đình và cả người làng hai bên ra tay can ngăn quyết liệt. Cùng quẫn, nó lấy thuyền bơi ra xa bờ, nhảy ùm xuống biển. Dân làng kịp phát hiện, chèo thuyền vớt lên. Chưa hề hấn gì, mới chỉ uống no bụng nước. Mẹ tôi thương cháu, xót đời, chửi toáng: "Con Thuỷ làm thế là điên. Nhưng nếu cứ sống mãi thế này thì tôi cũng nuốn chêt quách cho xong". Cả làng lặng câm. Hình như bé Thuỷ làm mọi người bị sốc. Làng họp một ngày, quyết định giao cho bố tôi tìm người tu sửa tượng. Chủ yếu là lắp cho được đôi bàn tay. Kinh phí làng lo.
Tôi đưa Sĩ về làng. Sĩ vào hang, đốt đuốc ở lỳ trong ấy. Đến ngày thứ ba mới mò ra, mặt mày phờ phạc, nhưng đôi mắt sáng long lanh. Đêm uống rượu, Sĩ ngồi nhìn ra phía biển, ngây người. Trông Sĩ thật xuất thần. Sĩ nói: "Tuyệt tác. Người tạc tượng là một nghệ sĩ tài năng: Khuôn mặt tượng bí ẩn một cách kỳ thú. Nó thay đổi theo tâm trạng người xem. Đôi cánh tay vươn ra với cách tạo dáng bất thường cùng độ nghiêng làm cho tượng như muốn bay lên. Bức tượng biểu hiện sự khát khao vô bờ. Người nghệ sĩ đã gửi gắm trọn vẹn tâm sự lớn của đời mình". Tôi là kẻ ngoại đạo, nghe Sĩ nói chỉ biết ậm ừ, nhưng trong lòng cũng thấy lâng lâng điều gì đấy. Bố tôi hỏi: "Còn yêu cầu của dân làng, cháu tính sao?". Sĩ nói: "Không thể đụng chạm một tý nào vào bức tượng ấy. Sẽ hỏng hết. Cháu làm cho làng bức tượng khác bằng xi măng, cốt thép làng lập miếu mới để thờ". Sĩ đưa phác thảo cho bố tôi xem. Bố tôi thích chí: "Cũng là bức tượng ấy, nhưng khuôn mặt có nét cười vui vẻ. Đôi cánh tay bình thường như thế là được rồi". Bố tôi lại rầu rĩ: "Làm mới tốn kem, không biết dân làng có chịu góp thêm?". Sĩ cười: "Xi măng, cốt thép không nhiều đâu! Cháu sẽ giúp cho làng". Mẹ tôi rơm rớm nước mắt: "Quý hoá quá. Dân làng biết ơn cháu nhiều lắm". Tôi vỗ vai Sĩ: "Cậu là cứu tinh của làng tớ". Sĩ nghiêm mặt: "Ông đừng nói năng nhì nhằng. Tôi làm để tỏ lòng tri ân người nghệ sĩ vô danh". Nghe nói sắp đến, vùng quê tôi có khu chế xuất. Biết đâu, dân làng tôi sẽ được đổi đời từ đây?...
M.D.H
(nguồn: TCSH số 161 - 07 - 2002)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.

  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.

  • PHAN TUẤN ANHLớp Lý trong một chiều nhốn nháo. Vài đứa con gái ngồi sụt sùi cho nhân vật nữ trong phim trên ti vi chết sớm và nguyền rủa đạo diễn như một tay giết người. Những đứa con trai thì tiếc rẻ cho một vài pha bóng hụt tối qua, để lại hậu quả là mất hẳn một "tháng lương" mà nhẽ ra đã có thể lĩnh sáng nay tại... chủ quán.

  • NGUYỄN VIỆT HOÀLGT: Khi ánh sáng phản chiếu từ mặt trái đồng tiền ùa vào cánh cửa làng mở rộng, “sức nóng” của nó gần như thiêu rụi mọi nền tảng đạo đức một bộ phận không nhỏ đám thượng lưu gồm cả quan viên hương lý. Căn bệnh mà tác giả Nguyễn Việt Hoà mổ xẻ trong truyện ngắn dưới đây, dẫu chưa cao tay để diệt bằng hết những vi-rút-làng, song việc ngăn chặn một đại dịch bắt đầu là có thể...S.H

  • TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…

  • NGUYỄN NGỌC LỢITôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

  • THÁI BÁ TÂN…Con chim hung dữ màu đen là trọng tâm của bức tranh, được ông giành hết tâm sức miêu tả rất sống động. Trong tranh, nó đang bám chân vào ngực Prômêtê, xoè hai cánh giữ thăng bằng, chiếc mỏ khoặm ngậm một miếng tim vừa moi từ lồng ngực khổng lồ của chàng…

  • NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNMọi người đến Huế với những lí do khác nhau. Riêng các văn nghệ sĩ thì thường đến để tìm cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên ý tưởng của mỗi người thì mỗi khác, chẳng ai giống ai. Họa sĩ Vĩnh Trung và nghệ sĩ Hải Lý là một trong những trường hợp như vậy.

  • XUÂN ĐÀIChuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

  • PHẠM THỊ XUÂNChị Xoan trở mình nhè nhẹ, sợ làm đứa cháu giật mình thức giấc. Chị quay mặt  vào tường như cố tránh cái ánh sáng xanh dịu phát ra từ ngọn đèn ngủ. Chị nhắm kín mắt nhưng vẫn không sao ngủ được. Đầu óc chị rối bời bao ý nghĩ. Có một cái gì day dứt, một cái gì tiếc nuối, một cái gì hẫng hụt vừa đi vào cuộc đời chị. Chị bỗng thấy lòng mình trống trải đến vô vị...

  • PHẠM THỊ XUÂNLGT: Ấn tượng của một nữ tác giả mới lần đầu tiên gửi tác phẩm đến cho TCSH thật khá đậm đà. Ấy là Phạm Thị Xuân, một phụ nữ ở độ tuổi đã qua thời thanh xuân, đang công tác tại một đơn vị y tế huyện Quảng Điền.

  • QUÝ THỂCó ai đến nhà chơi, bà cụ Tuần chỉ mép tấm phản gỗ mời ngồi, bà nói:- Giang sơn của "bầy choa" (chúng tôi) chỉ có chừng ni. Không ghế bàn, xa lông, sập gụ tủ chè chi cả, chịu khó ngồi đỡ, ông bà mô áo quần trắng trẻo sạch sẽ sợ dơ, thì ngồi lên đây. Bà cụ xoè cái quạt giấy cũ đã rách, lộ ra mấy cái nan tre lót cho khách ngồi. Nhưng không ai nỡ ngồi lên cái quạt giấy của cụ.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO...Sáng hôm ấy bà con xóm đạo đi lễ rất đông. Người ta nhìn thấy một vệt sao băng vào lúc trời tảng sáng. Họ cho rằng Chúa thấu hiểu được nỗi đau đang dày xéo trên thân thể Xoan. Nhưng cũng chính vì thế mà bố cô lại quay về làm chính con người liêm khiết hồi xưa. Thiên đường cũng có những con đường riêng để người ta sám hối.

  • XUÂN ĐÀI 1. Mỗi lần từ quê trở về Sài Gòn, sống bên chồng và hai đứa con, tôi không nguôi nhớ đến chị. Năm nay chị đã ngoài bốn mươi, không chồng, không con, lủi thủi ra vào trong ngôi nhà một gian hai chái. Ngôi nhà vừa được xây dựng cách đây gần ba năm bằng số tiền chị tằn tiện, chắt bóp mười mấy năm và tiền vợ chồng tôi phụ giúp chút đỉnh. Vài ba năm, vợ chồng con cái chúng tôi mới về thăm chị một lần. Chị mừng, chị vui, trò chuyện với các cháu suốt ngày. Chị quấn quýt lũ trẻ, lũ trẻ cũng quấn quýt chị.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNGNgày trăng tròn lẻ. Tháng Trung Thu năm Đại Bảo thứ 3.Người hai lưỡi bảo là ngày Sao Thổ phạm vào Thái Âm.Người ngắn lưỡi nói Sao Chổi mọc ở phương Tây.Người dài lưỡi bảo có tinh vượn đen ăn mặt trời, ngày Nhật thực, nếu không yểm kỹ sông Nhị đang nảy vàng ròng sẽ ngừng.Động đất.

  • VIỆT HÙNGTrước đây, anh là người lừng danh, một tay "cua - rơ khét tiếng" trên xa lộ. Đã một thời anh chỉ biết chiến thắng. Người ta từng mệnh danh, anh là người sinh ra để đua xe đạp, anh không hề có đối thủ. Anh xem thường sự chiến thắng của mình, cho nó là điều hiển nhiên. Anh coi ánh hào quang của vòng nguyệt quế chỉ có tác dụng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mình mà thôi. Bởi, không có nó, anh vẫn là một thần tượng chẳng gì "khuất phục nổi".

  • NGUYỄN THÁNH NGÃĐêm nay trăng nhão, không biết là đêm trăng gì. Ở xa nhìn về đồi Kà Mạ vẫn một khối đen sì. Nếu có ai nhướn mắt nhìn thật kỹ sẽ thấy cái khối đen sì ấy nhô lên như một cái đầu người đôi mắt lấp láy đom đóm. Thỉnh thoảng gió hất cái đầu tóc rối bù xù bay về phía ruộng. Tiếng chim cú kêu mỗi lúc một thê lương, ớn lạnh từng đốt xương sống...

  • THÁI BÁ TÂNTháng trước, ở phường B. thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm, nơi tôi về nghỉ hưu mấy năm nay, đã xẩy ra một vụ trọng án có nhiều tình tiết rất kỳ lạ, có thể nói bí ẩn không sao giải thích nổi, đến mức cuối cùng người ta quay sang cho rằng nhất định phải có yếu tố thần linh ma quỷ trong vụ này.

  • PHẠM THỊ ANH NGA                  Truyện ngắn...trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể nào biết được...