Thanh Hải - “Một nốt trầm xao xuyến”

14:54 10/02/2010
Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn. Anh sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930, quê ở xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà thơ mất ngày 15 tháng 12 năm 1980, tại thành phố Huế.

Nhà thơ Thanh Hải - Ảnh: lucbat.com

Những năm kháng chiến chống Pháp, Thanh Hải công tác ở đoàn văn công. Những năm chống Mỹ, anh tiếp tục làm công tác văn hoá - tuyên huấn ở chiến khu Trị Thiên. Sau 1975, Thanh Hải từng làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Uỷ viên Thường vụ Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Anh đã xuất bản các tập thơ: Những đồng chí trung kiên (1962); Huế mùa xuân (tập 1 năm 1970, tập 2 năm 1975); Dấu võng Trường Sơn (1977); Mùa xuân đất này (1982); Thanh Hải thơ tuyển (1982). Anh được Hội Văn nghệ Giải phóng trao Giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu năm 1965 và được Chính phủ truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, đợt 1, năm 2001.


MAI VĂN HOAN


Thanh Hải - “Một nốt trầm xao xuyến”


Từ những năm 1960 đến 1965 hầu như những người yêu thơ ở miền Bắc ai cũng biết và thuộc lòng một số bài thơ “vượt tuyến” của nhà thơ Thanh Hải. Cùng với Giang , Thanh Hải là một hiện tượng thơ rất được chú ý lúc bấy giờ. Nếu Giang nổi tiếng với bài thơ Quê hương thì Thanh Hải được mọi người biết đến với bài Mồ anh hoa nơ. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Thanh Hải vẫn một lòng kiên trung với cách mạng, chung thuỷ với thơ ca.

Thơ Thanh Hải chân chất, bình dị, đôn hậu như con người của anh. Hầu hết thơ anh là thơ “trữ tình công dân”. Thanh Hải tiếp nối mạch nguồn thơ ca cách mạng của Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu… Sau hiệp nghị Giơ ne vơ, anh được giao nhiệm vụ ở lại miền Nam, sát cánh với nhân dân Trị Thiên Huế gây dựng phong trào, tổ chức đấu tranh đòi thống nhất đất nước. Nhà thơ đã tận mắt chứng kiến những cuộc đàn áp vô cùng dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với những người bị chúng tình nghi là “Cộng sản”: Hôm qua chúng giết anh/ Xác phơi đầu ngõ xóm. Bọn chúng “trừng mắt” ra lệnh: Thằng này là Cộng sản/ Không được đứa nào chôn! Nhưng bất chấp lời đe doạ của chúng, nhân dân vẫn chôn cất những chiến sĩ Cộng sản hết sức chu đáo: Lũ chúng vừa quay lưng/ Chiếc quan tài sơn son/ Đã đưa anh về mộ/ Đi theo sau hồn anh/ Cả làng quê, đường phố/ Cả lớn nhỏ gái trai/ Đám càng đi càng dài/ Càng dài càng đông mãi… Đó là những câu thơ trong bài Mồ anh hoa nở mà tôi đã học thuộc lòng khi còn là một cậu học trò lớp sáu trường làng. Những câu thơ dung dị ấy cứ đi thẳng vào lòng người, chẳng cần hoa hoè, hoa sói. Trải qua mưa nắng thời gian những bông hồng trên mộ người Cộng sản vẫn toả hương ngào ngạt. Bởi đó là những bông hồng nở từ máu của các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh vì sự nghiệp thống nhất đất nước. Hình ảnh: Bông hồng đỏ và đỏ/ Như máu nở thành hoa là một hình ảnh hết sức ấn tượng, hết sức ý nghĩa mà không phải bất cứ nhà thơ nào cũng có thể viết được.

Cũng vào thời còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đã thuộc lòng những câu thơ viết về Bác của Thanh Hải: Đêm nay bên bến Ô Lâu/ Cháu ngồi cháu nhớ chòm râu Bác Hồ… Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ/ Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn. Những câu thơ này đã đi vào tâm thức của nhiều thế hệ người Việt . Nó tồn tại như những câu ca dao lưu truyền trong dân gian. Nhà thơ Thanh Hải kể rằng khi anh đọc bài thơ Cháu nhớ Bác Ho cho Bác nghe, đến câu Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn, quá xúc động, anh dừng lại giữa chừng. Bác bèn ôm lấy anh, vừa hôn vừa nói: “Đây, hôm nay Bác hôn thật đây!”. Đó là một kỷ niệm không bao giờ quên trong cuộc đời làm thơ của anh. Vào ngày 19/10/1962, đoàn đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu ra thăm miền Bắc đặt chân đến Hữu Nghị quan. Trong đoàn có cả nhà thơ Thanh Hải. Anh phải lặn lội từ Trị Thiên vào tận Tây Ninh, qua Căm pu chia, bay sang Trung Quốc rồi đi tàu về biên giới Lạng Sơn. Nhà thơ nghẹn ngào: Cách nhau chỉ một mái chèo/ Mà đi trăm núi, vạn đèo đến đây! Khi nghe nghệ sĩ Trần Thị Tuyết ngâm bài Tám năm nay mới gặp nhau của anh trong chương trình Tiếng thơ, Đài Tiếng nói Việt , rất nhiều người đã không cầm được nước mắt. Bao nhiêu vui sướng, bao nhiêu hờn tủi, bao nhiêu căm giận... chất chứa trong hai câu thơ giản dị này. Thời đó, Trị Thiên và Quảng Bình đều là những tỉnh ở “tuyến đầu Tổ quốc” nên tình cảm hết sức keo sơn, gắn bó. Thanh Hải đã thay mặt đồng bào Trị Thiên bày tỏ tình cảm sâu nặng ấy với nhân dân Quảng Bình qua những vần thơ rất đỗi chân thành: Quảng Bình ơi, chín năm xưa đánh giặc/ Vui khổ cùng chung mảnh đất miền Trung/ Xa cách mười năm, mười năm thầm nhắc/ Lòng hẹn lòng qua đôi bến Hiền Lương…


Thanh Hải có bài thơ Sang đò đêm mưa khá cảm động viết về mối quan hệ tình cảm sâu nặng giữa đồng bào miền với các chiến sĩ cách mạng nằm vùng (thời 1954 - 1965). Người lái đò cho các chiến sĩ bí mật qua sông ngay cạnh đồn bốt của địch là một mẹ già. Hôm ấy trời mưa rất to. Tác giả băn khoăn không hiểu sao mẹ cứ cho đò trôi “lơ lửng, lửng lơ” trên sông làm “ướt cả thân già” mà không cập bến. Má rằng: con ở trong mui/ Cứ ngồi cho ấm để rồi lại đi/ Má ướt một bữa can chi/ Chỉ lo con ướt lấy gì mà hơ. Người chiến sĩ thì thương trời mưa làm “ướt cả thân má”. Mẹ thì lo để các anh lên bờ trong khi trời đang mưa “lấy gì mà hơ”. Bởi: Bên kia những bụi cùng bờ/ Không tơi, không nón đụt nhờ vào đâu? Phải máu mủ ruột thịt mới quan tâm, lo lắng đến nhau như thế. Chỉ một từ “đụt” cũng đủ cho người đọc biết quê hương, bản quán của mẹ. “Đụt” là từ địa phương có nghĩa là trú ẩn. Lời thơ bình dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Phải chờ đến khi trời tạnh mưa, mẹ mới đưa đò vào bến. Khi buộc con đò, “vì dầm mưa lạnh má ho từng hồi”. Tiếng ho của mẹ làm tác giả tràn đầy thương cảm: Má ơi! Đi đã xa rồi/ Mà con vẫn mãi nhìn lui bến đò/ Vẫn còn vọng mãi tiếng ho/ Mỗi khi vượt bốt sang đò đêm mưa…

Tôi tin là những lời thơ bình dị này của Thanh Hải “vẫn còn vọng mãi” cùng năm tháng.

Khoảng thời gian từ 1965 đến 1975 Thanh Hải hoà lẫn vào trong dòng thơ chung, hoà lẫn vào bản anh hùng ca chống Mỹ cứu nước vô cùng sôi nổi, vô cùng hào hứng. Bên cạnh thế hệ làm thơ trước cách mạng như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư… thế hệ trẻ đầy tài hoa như Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Phạm Ngọc Cảnh, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Duy… Thanh Hải vẫn “lặng lẽ” làm “một nốt trầm” góp vào bản “hoà ca” bằng tập thơ: Huế mùa xuân. Sau 1975, anh vẫn trăn trở với đề tài chiến tranh. Tập thơ Dấu võng Trường Sơn (1977) ghi lại cảm xúc của anh về những năm tháng “không thể nào quên” ấy. Từ 1978, thơ anh bắt đầu chuyển sang những tâm sự đời thường. Tôi nhớ mãi buổi nói chuyện của anh với các em học sinh chuyên văn Hai Bà Trưng Huế. Cuối buổi nói chuyện, anh đọc cho thầy trò chúng tôi nghe những bài thơ mới viết của anh. Giọng anh nhỏ nhẹ, trầm lắng. Anh sẻ chia với cuộc sống còn nhiều khó khăn, vất vả của những người lính vừa đi qua chiến tranh, của những người dân lao động: Mùa đông còn se lạnh/ Áo chưa đủ hai mùa/ Cơm mỳ với canh chua/ Sốt rét rừng chưa dứt… (Xa em giữa mùa mưa lũ); Lúc hạn hán, lúc mưa rào/ Lúc úng, lúc bão, lúc đào mương phai… (Ngủ đêm ở hợp tác xã). Tiếc là vào đúng thời điểm này anh lại bị căn bệnh ung thư cổ trướng hành hạ.

Mặc dù thế, trước khi mất, Thanh Hải vẫn kịp để lại cho đời bài thơ Mùa xuân nho nhỏ viết vào những ngày cuối cùng trên giường bệnh. Thông qua Mùa xuân nho nhỏ tác giả bày tỏ khát vọng dâng hiến tài năng và sức lực của mình cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc, trở thành một trong những ca khúc quen thuộc, thân thiết cứ mỗi độ xuân về. Màu sắc trong bức tranh xuân của Thanh Hải hết sức dịu dàng. Màu xanh của dòng sông làm nền cho màu tím của bông hoa. Màu tím vốn là màu đặc trưng của Huế. Chọn bông hoa tím để tả mùa xuân, phải chăng nhà thơ muốn ca ngợi vẻ đẹp riêng của quê hương mình, xứ sở mình? Mùa xuân không chỉ được thể hiện qua màu sắc mà còn được thể hiện qua âm thanh: Ơi, con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời? Nhà thơ hỏi chim chiền chiện hay đang hỏi chính cõi lòng rạo rực của mình? Tiếng chim hóa thành “những giọt long lanh” chẳng khác gì những viên ngọc. Nhà thơ hứng tiếng chim với tất cả niềm sung sướng hạnh phúc. Đó là niềm vui trước mùa xuân mới, cuộc sống mới.

Thanh Hải miêu tả không khí khẩn trương, sôi nổi, hồ hởi của đất nước vào xuân: Tất cả như hối hả/ Tất cả như xôn xao… “Lộc giắt đầy quanh lưng”, và “lộc trải dài nương mạ” càng làm tăng thêm sức sống mãnh liệt của mùa xuân, của đất nước. Nhịp thơ nhanh, gấp gáp đã thể hiện phần nào không khí khẩn trương, sôi nổi ấy. Đang háo hức, sôi nổi… tác giả đột ngột hạ giọng: Một mùa xuân nho nhỏ/ Lặng lẽ dâng cho đời/ Dù là tuổi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc… Trong mùa xuân chung, Thanh Hải chỉ xin làm “một mùa xuân nho nhỏ”. Nhưng chính “mùa xuân nho nhỏ” đã góp phần làm nên mùa xuân đất nước. “Mùa xuân nho nhỏ” là những bông hoa, những con ong lặng lẽ dâng cho cuộc đời hương sắc của mình, mật ngọt của mình. Một sự hiến dâng “lặng lẽ”, không phô trương. Đức tính ấy là đức tính quý báu của con người Việt “biết hi sinh nên chẳng nhiều lời”, là đức tính của những người mẹ “nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng”. Từ mùa xuân quê hương tác giả liên tưởng đến mùa xuân đất nước, từ mùa xuân mọi người tác giả nghĩ đến “mùa xuân nho nhỏ” của mình. Bài thơ kết thúc trong niềm vui hòa nhập: quê hương, đất nước, riêng - chung: Mùa xuân - ta xin hát/ Câu ai, bình/ Nước non ngàn dặm mình/ Nước non ngàn dặm tình/ Nhịp phách tiền đất Huế”. Mùa xuân nho nhỏ không chỉ là một trong những bài thơ hay của Thanh Hải, mà còn là một trong những bài thơ hay viết về mùa xuân của thơ ca đương đại.

Trong bản “hoà ca” chung của thơ Việt , Thanh Hải tự nhận mình chỉ là một “nốt trầm”. Nhưng cái “nốt trầm” ấy đã làm “xao xuyến” bao nhiêu trái tim bạn đọc. Nhà thơ đã hiến dâng tất cả cuộc đời mình cho nhân dân, cho cách mạng, cho đất nước. Nhớ về anh là tôi nhớ về một con người có nụ cười hiền lành, có đức kiên trung, lòng lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống. Nhà thơ ra đi mới đó mà đã gần ba mươi năm. Trên lăng mộ khiêm nhường của anh ở nghĩa trang Phan Bội Châu, thành phố Huế, ngày ngày:

Hoa hồng nở và nở
Hương thơm bay và bay…

M.V.H
(252/02-2010)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO        (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.

  • NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...

  • MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ       (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này:                Biết rằng trong cõi nhớ thương                Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi

  • MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG   (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.

  • TRẦN THUỲ MAI            (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!

  • MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận                  (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

  • TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.

  • NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

  • Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.

  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".