Khi Wolfgang mới lẫm chẫm biết đi, cô bé Nannerl bốn tuổi rưỡi đã là thần tượng của em mình. Theo nhà nghiên cứu Maynard Solomon, “lên ba tuổi, Mozart đã hứng thú học nhạc vì trông thấy cha dạy đàn cho chị; cậu bé muốn được như chị."
Maria Anna Mozart thời nhỏ (1763) – bức chân dung được cho là do họa sĩ Lorenzoni (1721–1782) vẽ.
Maria Anna Walburga Ignatia Mozart, còn gọi là Marianne hay Nannerl, sinh năm 1751 tại Salzburg, lớn hơn Wolfgang năm tuổi. Lên bảy tuổi, cô bắt đầu được cha dạy chơi đàn harpsichord.
Ông Leopold Mozart đã đem theo Nannerl và Wolfgang trong các chuyến lưu diễn ở nhiều thành phố như Vienna và Paris để giới thiệu tài năng của các con. Trên yết thị quảng cáo những ngày đầu, tên của cô đôi khi còn nổi bật hơn cả tên cậu em trai sau này sẽ rất nổi tiếng của mình. Người ta chú ý đến cô bởi tài năng chơi harpsichord và piano xuất sắc. Tuy nhiên theo từ điển âm nhạc New Grove, “từ năm 1769 trở đi cô đã không còn được thể hiện tài năng nghệ thuật của mình trong những chuyến đi với em trai vì đã đến tuổi kết hôn.”
Có bằng chứng cho thấy Nannerl có soạn nhạc vì vẫn còn những lá thư do Wolfgang viết khen ngợi tác phẩm của chị. Nhưng vô số thư từ do người cha viết lại chẳng bao giờ nhắc đến bất kỳ tác phẩm nào của cô con gái và cũng chẳng có tác phẩm nào trong đó còn được lưu giữ đến ngày nay.
Ngược lại với em trai mình, người đã tranh cãi và rốt cục không vâng theo mong muốn của cha trong vấn đề sự nghiệp và hôn nhân, Nannerl hoàn toàn phụ thuộc vào cha. Cô yêu Franz d’Ippold, một đại úy và gia sư riêng, nhưng bị cha buộc phải khước từ lời cầu hôn. Wolfgang đã giúp Nannerl đứng lên đấu tranh cho ý nguyện của bản thân nhưng không kết quả. Cuối cùng Nannerl kết hôn với thẩm phán Johann Baptist Franz von Berchtold zu Sonnenburg vào năm 1783 và cùng chồng định cư ở St. Gilgen, một ngôi làng cách nhà cha mẹ đẻ khoảng 29km. Berchtold đã hai lần góa vợ và có năm đứa con từ hai cuộc hôn nhân trước. Nannerl giúp chồng nuôi các con riêng và cũng sinh ba con.
Khi Wolfgang mới lẫm chẫm biết đi, cô bé Nannerl bốn tuổi rưỡi đã là thần tượng của em mình. Theo Maynard Solomon1, “lên ba tuổi, Mozart đã hứng thú học nhạc vì trông thấy cha dạy đàn cho chị; cậu bé muốn được như chị. Hai đứa trẻ rất thân thiết và đã phát minh ra một thứ ngôn ngữ bí mật. Chúng tưởng tượng ra ‘Vương quốc của Bach’ trong đó chúng là vua và hoàng hậu. Thư từ giữa hai chị em những ngày đầu đầy trìu mến và thân tình.”
Wolfgang đã viết một số tác phẩm cho Nannerl biểu diễn trong đó có Prelude và Fugue giọng Đô trưởng K. 394 (1782). Wolfgang cũng gửi cho chị đang ở St. Gilgen bản sao các piano concerto của mình (từ bản số 21 trở về trước, tính đến năm 1785).
Các nhà âm nhạc học có nhận định khác nhau về mối quan hệ giữa hai chị em ở tuổi trưởng thành. Theo New Grove, Wolfgang “vẫn gắn bó thân thiết với chị”. Ngược lại, Maynard Solomon cam đoan rằng về cuối đời Wolfgang và Nannerl bị dòng đời xô đẩy đến chỗ ly tán hoàn toàn. Ông nhận thấy sau chuyến Mozart tới thăm Salzburg vào năm 1783 cùng người vợ mới cưới Constanze, thì hai chị em không tới thăm nhau lần nào nữa. Họ cũng chưa từng gặp con cái của nhau, thư từ thì chỉ còn lác đác và cuối cùng là ngưng hẳn vào năm 1788.
Sau khi Wolfgang qua đời một năm, Nannerl bắt gặp cuốn tiểu sử do Franz Xaver Niemetschek viết năm 1798 về cuộc sống của Mozart ở Vienna và theo quan điểm của Constanze, có nhiều nội dung mới mẻ đối với Nannerl. Trong một bức thư năm 1800, cô viết: “Cuốn tiểu sử do Niemetschek soạn đã làm hồi sinh trong tôi những tình cảm của người chị dành cho cậu em trai vô vàn yêu quý đến mức tôi thường tan chảy thành nước mắt, bởi vì chỉ đến bây giờ tôi mới hiểu rõ cảnh ngộ đáng buồn mà em tôi lâm vào.”
Chồng của Nannerl mất năm 1801. Cô mang theo các con chung và riêng của chồng trở về Salzburg sống bằng nghề dạy nhạc. Về già, Nannerl gặp lại Constanze và giúp người chồng mới của Constanze là Georg Nikolaus von Nissen hoàn thành cuốn tiểu sử Mozart bằng cách cho mượn bộ sưu tập thư từ của gia đình.
Nguồn: Tia Sáng
-------
1 Nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc, đồng sáng lập hãng thu âm Vanguard Records.
Tải mã QRCode
NGUYỄN VIỆT ĐỨC1.Về bản sắc văn hoá dân tộc.Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói riêng, một cốt cách riêng được phản ánh thông qua những giá trị tinh thần và vật chất cụ thể, đó là bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc đó.
VĨNH PHÚCNghiên cứu, phê bình, giới thiệu Dân ca Nam Bộ trong giai đoạn này chúng tôi chỉ sưu tập được 15 bài, tuyển chọn và sử dụng 9 bài. Hầu như đều nổi trội lên 2 thể loại chủ yếu là Hò và Lý, kể cả những bài viết mang tính tổng quan về vùng dân ca này.
MẶC HY Hồi ký "Lúa vàng! Lúa vàng trên cánh đồng làng, tang tình tang, tang tình tang... Đêm nay, gặt mà lúa về... ta đập mà ta xay, ta giã mà ta giần..."
MAI VYSự sáng tạo nghệ thuật của giới nghệ sĩ biểu diễn xuất phát từ cảm xúc trước tác phẩm, trước cuộc sống. Đó là đặc thù trong quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Mối quan hệ đó bao giờ cũng là mối quan hệ có tính chất cảm tính. Người nghệ sĩ chân chính nào cũng có khả năng cảm xúc rất nhạy bén trước đối tượng được thể hiện. Họ có khả năng lồng trí tưởng tượng vào trong quá trình sáng tạo cốt để thâm nhập sâu hơn vào bản chất của các sự vật.
NGUYỄN THỤY KHACó thể nói, khi có loài người là có âm nhạc. Thực ra những âm thanh trong thiên nhiên, vũ trụ có trước loài người. Nhưng loài người không chỉ nghe được nó như loài thú chỉ đạt tới cảm xúc, mà còn nhận thức nó, bắt chước nó để tạo ra những âm thanh của mình. Một cành cây hay một khúc xương, người làm ra cây sáo. Sợi dây cung trở thành dây đàn. Một tấm da thú căng ra là thành cái trống.
MAI VYÂm nhạc là một bộ môn nghệ thuật có nhiều loại hình phong phú và đa dạng, từ làn điệu dân ca mộc mạc, từ nét nhạc tấu đơn giản của cây đàn nghiệp dư, đến những bản a-ri-a hết sức phức tạp trong ô-pê-ra hay các hình thức âm nhạc giao hưởng khác nhau như liên khúc giao hưởng, Trường ca giao hưởng.
NGUYỄN THỤY KHAVới độ dày gần nửa mét, gồm 7 quyển sách chia làm 5 tập (có tập 2 và tập 5 gồm 2 quyển) và bìa sách trình bày đẹp, trang trọng, bộ sách “Hợp tuyển tài liệu Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX” là bộ sách âm nhạc đồ sộ và công phu nhất của ngành âm nhạc từ trước đến nay do Viện Âm nhạc Việt chủ biên và ấn hành vừa giới thiệu trước công luận gần đây.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã gần một năm, Anh từ biệt trần gian về cõi vĩnh hằng, tâm tưởng tôi vẫn vấn vương với Anh, vẫn luôn mường tượng thấy Anh với nụ cười tươi tắn, rất hồn nhiên, lại nhiều lúc thấy Anh đang mơ màng chìm trong một thế giới riêng tư xa thẳm nào đó.
NHẤT LÂMVâng.Ca khúc thời ấy thật hào hùng, sôi sục và đầy lãng mạn.Đó là đêm trước của tháng Tám năm 1945, những năm tháng của phong trào Việt Minh chuẩn bị cho ngày toàn dân vùng lên đánh đổ mọi thế lực thù địch để giải phóng dân tộc, đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Và cái mốc đó, theo tôi là từ ngày cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) năm 1941.
VIỆT ĐỨCVề với Trường Sơn, về với kỷ niệm của một thời khói lửa đạn bom là tiếng lòng, là tâm nguyện của nhiều hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30/4/1975. Và sau gần 30 năm, mùa xuân 2004, tâm nguyện ấy đã trở thành hiện thực khi kỷ niệm của một thời chiến tranh cứ ào ạt ùa về theo bước chân các nhạc sỹ trở lại tuyến biên giới miền Tây A Lưới.
PHAN THUẬN THẢOGagaku - Nhã nhạc - là loại hình âm nhạc cung đình của Nhật Bản, đối lập với Zokugaku, tức âm nhạc dân gian. Thuật ngữ Gagaku được tiếp thu từ Trung Hoa cùng với sự tiếp nhận một bộ phận các nhạc khí và bài bản từ hệ thống âm nhạc cung đình phong phú và đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn và giàu truyền thống văn hoá.
LÊ PHÙNGThế là không còn phút giây mong ngóng, đợi trông - “Ngày em đến đôi mắt long lanh, thơ ngây mơ màng, ngày em đến đôi má hây hây hương thơm nồng nàn...” Bởi chàng nhạc sĩ lãng tử ấy đã ra đi, về với cõi vĩnh hằng. Còn đâu nữa bóng hình của gã si tình say mê, đợi chờ ngày em đến.
Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một tên tuổi nổi tiếng như một nghệ sĩ đa tài Cầm Kỳ Thi Họa trong làng văn học nghệ thuật Việt . Ông là Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà Văn Việt Nam, người sáng lập và phụ trách tờ báo Thơ, nay là tạp chí Thơ; ông cũng là một trong những ngưới sáng lập ra Ngày Thơ VN.
DƯƠNG BÍCH HÀĐến hẹn lại lên - Festival Huế 2006 đã cận kề. Năm nay, ngoài các loại hình dân ca, dân nhạc, dân vũ; các lễ hội, kịch, tuồng... đặc sắc của Huế, ban tổ chức (BTC) Festival nhấn mạnh một số trọng tâm như: Giao lưu nhã nhạc Việt Nam - Nhật Bản - Hàn Quốc; không gian văn hoá cồng chiêng (nhân cồng chiêng được công nhận là di sản văn hoá); có dàn giao hưởng dân tộc; chương trình thử nghiệm đưa âm nhạc điện tử, nhạc Jar của Pháp kết hợp với âm nhạc truyền thống Huế, âm nhạc Phật giáo; và chương trình âm sắc Việt...
NGUYỄN XUÂN HOÀNGCó ngày bỗng dưng thấy lòng thật quạnh hiu. Một nỗi cô đơn nào đó khôn tả xâm chiếm tâm hồn. Tôi đi hoài, lang thang vô định trên những con đường phố Huế xanh xao ánh đèn vàng, bất chợt lòng vang lên giai điệu quen thuộc một ca khúc nào đó của Trịnh Công Sơn. Tự hát cho riêng lòng mình và thấy nỗi buồn vơi đi, lòng cơ hồ bằng an và niềm vui trở lại.
NGUYỄN VIỆT ĐỨCQua tiến trình phát triển của lịch sử âm nhạc thế giới, riêng trong lĩnh vực ca khúc chúng ta đều biết có những ca khúc là của mọi thời đại, có những ca khúc chỉ của một thời, có những ca khúc chỉ của một dòng nhạc phục vụ cho nhu cầu của một lớp công chúng riêng nào đó, có những ca khúc lại phù hợp với khá nhiều lứa tuổi và đông đảo công chúng, có những ca khúc chỉ của một vài ngày, có những ca khúc mãi mãi nằm trên giấy...
NGUYỄN THỤY KHAĐọc Dòng nước trong (Ca khúc Bích Anh), Nxb Đà Nẵng, 2006
HOÀNG DIỆP LẠCCó sự gắn kết nào đó gần như là định mệnh giữa hai con người Trịnh Công Sơn và Nguyễn Xuân Hoàng. Sơn và Hoàng có cùng quê quán ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Và cả hai đã sinh ra ở miền cao nguyên, nơi bụi đỏ và sương mù hoà trộn, tạo thành những hạt huyết dụ trôi chảy theo các mạch máu trong thân thể của những con người xứ bụi mịt mùng.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG(Kỷ niệm 6 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 1/4/2001 - 1/4/2007)Với dòng - sông - Trịnh, đi về biển rộng là một cuộc hành trình trở về với nguồn cội. Dòng sông tìm về biển cả để thấy được sự mệnh mông, hùng vĩ và tuôn trào của biển cả. Tuy nhiên đấy cũng là sự bắt nguồn cho những vết xước trầm tích trong lòng người ở lại - như cọng rễ hoang nay mới đủ sức đâm lên một mầm nhói!
NGUYỄN THỤY KHAVào khoảng năm 1962 ở miền Bắc, bỗng rộ lên một bài tình ca ngắn mang tên “Giã từ”. Bài hát được truyền miệng rộng rãi và nếu có ai đó ký âm thành văn bản thì đều ghi là bài hát Liên Xô (CCCP).