Thăm Nhà thờ Tổ nghề Kim Hoàn

15:48 09/09/2009
NGUYỄN QUANG SÁNG                                 Ký Mỗi lần ra Huế về tôi cứ áy náy là chưa đến viếng Nhà thờ tổ nghề Kim Hoàn, vì cha tôi và anh em tôi đều là thợ kim hoàn. Nghề kim hoàn của cha tôi đã nuôi các anh chị em tôi. Cũng với nghề kim hoàn gia đình tôi đã trải qua biết bao thăng trầm. Mãi đến ngày 05/8/2004 này nhờ sự giúp đỡ của Tạp chí Sông Hương (Nguyễn Khắc Thạch, Vũ Bích Đào, Diệu Trang) tôi đã đến Nhà thờ thuộc làng Kế Môn, huyện Phong Điền.

Từ trái sang: Võ Bích Đào - Nguyễn Khắc Thạch - Nguyễn Quang Sáng - Trần Diệu Trang

Nhà thờ uy nghi, vàng rực nhìn ra cánh đồng xanh mướt. Nghe nhiều người kể lại, lúc tôi một hai tuổi, ấy là năm 1933-1934, nhà tôi là nhà giàu. Bà nội tôi là chủ chợ, cha tôi là chủ lò thợ bạc, bây giờ gọi là tiệm kim hoàn, nhà có xe hơi, cha tôi không chỉ nổi tiếng vì giàu, mà còn nổi tiếng là cầu thủ bóng đá. Khi tôi lên bảy tám tuổi, giàu đâu chẳng thấy, cái chiếc xe hơi của cha tôi chỉ còn là cái xác vứt ra một góc sân, dưới cây trứng cá. Thỉnh thoảng tôi leo lên, cầm tay lái, bẻ qua bẻ lại, nổ máy bằng miệng, đám trẻ của tôi, đứa nào cũng sướng, cũng vui. Vinh quang của cha tôi, một cầu thủ, tôi chưa được thấy, chỉ nhớ một buổi chiều, trời chạng vạng, người ta khiêng cha tôi về, cha tôi bị gãy chân. Từ đó cha tôi không đá banh dù chấn thương đã lành, và cũng không ra sân coi nữa. Như có một lời thề! Tôi biết, tôi tin cha tôi là cầu thủ bóng đá là nhờ đôi giày để dưới gầm giường. Có lần tôi tò mò, đọc một quyển sổ của cha tôi. Quyển sổ toàn ghi tên người làm thợ bạc có hàng trăm tên của các nơi. Sau này lớn lên tôi hỏi, mới biết thợ bạc có một công đoàn. Thợ bạc luôn gắn bó và đùm bọc lẫn nhau. Nếu như tôi đi đâu đó, gặp lúc “thất cơ lỡ vận” thì cứ tìm đến lò thợ bạc, xưng tên, xưng họ, là con của thợ bạc thì được sự giúp đỡ ngay. Cái tình đồng nghiệp của người thợ bạc rất keo sơn. Còn nói về chiếc xe hơi, mãi đến năm tôi hơn bốn mươi tuổi, sau ngày 30/4/1975, từ Hà Nội trở về, trong nhiều câu chuyện của bao năm xa cách, cha tôi kể:

- Năm đó có tiền sắm xe chạy chơi, nhưng cha đâu có biết gì máy móc, nay hư cái này, mai hư cái nọ, đi đâu cũng “ban”, chán, cha kêu bán. Con biết ai mua không? Cái thằng tài xế của cha nó mua- Kể xong cha tôi cười.

Người tài xế vẫn còn sống, mỗi sáng cha tôi và ông ta thường ngồi với nhau trong quán café, ông ta vẫn nghèo như xưa. Năm tôi lên tám, chín tuổi, cha tôi đi vắng. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) một số đồng nghiệp của cha tôi bị bắt, bị đày ra Côn Đảo, hội tề trong làng nghi cha tôi có dính dáng, nhưng là người trong dòng họ, họ khuyên cha tôi nên tạm lánh mặt. Cha tôi xuống tàu lên Nam Vang, làm công cho tiệm vàng “Trái tim đỏ”. Hai năm cha tôi đi vắng, hễ tới mùa tôm thì má tôi kho hai thúng giạ tôm kho tàu, đội xuống tàu lên Nam Vang thăm cha tôi. Khi má tôi xuống tàu, tôi mới thấm thế nào là nỗi buồn khi tàu “súp lê một, súp lê hai, súp lê ba”,

Té ra, đất Campuchia nhiều cá nhưng ít tôm càng hơn dòng Tiền và Hậu của An Giang xứ tôi. Má tôi là phụ nữ, gia đình không biết xoay sở, cả nhà tôi sống bằng đồng tiền làm công của cha tôi từ Nam Vang gởi về. Tôi nhớ, nữ trang mà má tôi đeo: bông tai, dây chuyền hoặc vàng vòng, má tôi không đeo được lâu. Má tôi đeo món nào thì người ta hỏi mua món đó. Má tôi nói “cứ ra tiệm mà mua” nhưng họ không chịu, họ cứ mua của má tôi. Họ nghĩ, cái gì của má tôi mới đúng là thứ thiệt và đẹp...

Rất may cho tôi, từ sơ học lên tiểu học, tôi đậu hạng cao, được học bổng. Nhờ đó mà được học tiếp, nếu không thì phải đứng lại ở lớp ba trường làng mà thôi. Nhờ học khá, nên năm nào, ngày hè nhà trường cũng cho đi nghỉ mát ở Mũi Nai, Hà Tiên. Bắt đầu “đi một bước đàng học một sàng khôn”.

Năm 1945, tuổi 13, quân Nhật lấy nhà trường là chỗ đóng quân, tôi bỏ học, về nhà. Từ chợ quận (Chợ Mới) về làng (Mỹ Luông), tôi đi trên chiếc xe ngựa trên con đường rải đá dọc theo bờ sông Tiền, chuyến đi hay chuyến về đều đi qua làng Mộc, làng nuôi tằm dệt vải thật sung túc. Chuyến trở về cuối cùng chấm dứt cuộc đời học trò, làng xóm hai bên đường thật xơ xác. Hình như ai cũng thất nghiệp, không ai thiết đến chuyện làm ăn, cuộc sống bất an trước thời cuộc (Nhật đảo chánh Pháp, máy bay Đồng Minh rà theo sông truy lùng tàu chiến của quân Nhật). Ấy là năm mà người làng nói là năm kinh tế khủng hoảng. Đèn không có dầu thắp, phải thắp bằng mỡ heo, hoặc đốt mù u...

Năm 1945 ấy cũng là năm đại họa của gia đình tôi. Bà nội tôi mất, má tôi mất, thằng em út mới hai tuổi. Cha tôi lên Sài Gòn để mổ mắt. Cảnh nhà thật nheo nhóc. Khi cha tôi ở Sài Gòn trở về, trong nhà có gì có thể bán được, cha tôi đều bán, làm tiền chợ đắp đổi qua ngày. Tôi biết cha tôi đến những người cùng nghề thợ bạc, mượn tiền chợ hàng ngày.

Tôi nghĩ mình phải làm gì tiếp gia đình. Năm ấy thứ gì cũng khan hiếm. Nhiều nhà xoay qua nghề làm thuốc lá. Thay vì nhận thuốc của người khác đi bán, tôi cũng chế thuốc, tự vấn, tự ôm thùng thuốc đi bán. Tôi chế thuốc thơm như thế nào? Lấy thuốc rê tẩm nước cam thảo với nước đường, vừa thơm vừa khét, nhưng không thấy ai chê. Cái bàn vấn thuốc tôi làm bằng cây, vấn một lần ba điếu. Mỗi ngày tôi bán ít nhất hai trăm điếu. Làm nghề bán thuốc lá lời ghê, một lời bốn lời năm. Tôi ham.


Rồi một người bạn của cha tôi, tôi gọi là bác Sáu ghé thăm cha tôi, thấy tôi ngồi vấn thuốc, bác bảo tôi nên theo bác về Tân Châu cùng với bác mở một hãng thuốc lớn hơn. Nghe xuôi tai, thế là tôi xuống tàu đi Tân Châu. Đúng là bác có một hãng thuốc lá, hãng của bác có bốn đứa nhỏ là thợ vấn, thêm tôi nữa là năm. Tôi chờ bác nói chuyện hùn hạp nhưng bác không nói gì, té ra tôi chỉ là một đứa làm công, vấn điếu nào ăn điếu đó.

Tôi buồn. Gặp một người thợ bạc vốn là bạn của cha tôi, chú ấy nói: “Chú muốn chú với cháu cùng mở một hãng thuốc, nhưng phải có vốn. Cháu lên Nam Vang đòi nợ giùm chú, về lấy cái đó làm vốn, được không?”. Nghe đến xứ người, xa xôi quá, tôi chưa đủ sức phiêu lưu, nếu đòi nợ cho cha tôi thì bất cứ thế nào, tôi cũng đi. “Thưa chú, để cháu về cháu hỏi lại cha cháu” – Vài hôm sau, tôi xuống tàu trở về.

Lúc này, cha tôi đã mua một cái nhà của một lò thợ bạc lâu năm. Cha tôi lấy cái đất của nền nhà, đem về đãi vàng. Đất trong lu, móc ra để vào cái chảo lớn hơn một ôm tay, hai quai chảo có hai sợi dây treo ngang lửng lơ, đổ nước vào, cứ vậy mà đào, cuối cùng hốt một bụm cát dưới đáy chảo đem đi nấu, vàng sẽ đọng lại dưới cái dót. Đúng là đãi cát tìm vàng. Tôi khi thì đãi khi thì thụt lò, thấy bụi vàng tôi ham. Tôi không nói với cha tôi chuyện đi Nam Vang, đòi nợ, bỏ luôn nghề bán thuốc lá.

Rồi một hôm, người bạn của cha tôi đang là chủ lò thợ bạc ở chợ Sa Đéc ghé thăm, là một người to lớn, hào sảng nói lớn, cười to, vừa nói chuyện quốc sự, vừa nói chuyện mua bán vàng. Tôi gọi là bác Chín. Nhìn tôi bác nói: “Nè, tao nghe thằng cha mầy nói mầy học thuộc bốn phép toán phải không?” – “Dạ” – “Thôi mầy đi theo bác, tính tiền vàng cho bác”.

Vậy là tôi đi theo bác, xuống Sa Đéc vừa tính tiền vàng, vừa để ý học nghề phân kim của bác. Ông chủ tiệm vàng nầy là ông Bùi Đố, bạn của cha tôi. Năm 1946, trên đường hành quân tôi gặp lại bác – Bác đã bỏ tiệm vàng, là huyện ủy viên huyện Châu Thành tỉnh Sa Đéc. Sau đó mấy tháng tôi nghe bác hy sinh, người anh Sáu và người em út của bác đều là chủ lò thợ bạc đều hy sinh thời đánh Pháp. Người thợ bạc không chỉ góp của mà góp cả tính mạng mình cho sự nghiệp cứu nước.

Ở nhà, sau khi đãi hết đống cát ấy, một người có vốn rủ cha tôi mở lại lò thợ bạc. Người có vốn, người có nghề, lò thợ bạc mở ra ngay ngã ba chợ Mỹ Luông.

Tôi lại quay về. Lò thợ bạc có mười người thợ. Anh tôi cũng làm thợ cho lò.

Tôi vừa làm nghề xi đồ vừa học làm thợ. Với cái đà ấy, tưởng lớn lên tôi sẽ nối nghiệp cha, làm thợ bạc, mở tiệm kim hoàn. Nhưng cuộc đời lại khác. Ấy là năm đầu kháng chiến chống Pháp. Trong không khí sục sôi của dân làng, ai cũng nao nức với lời kêu gọi của Tổ Quốc, bỏ lại tất cả, tôi đi Vệ quốc đoàn, từ đó đi suốt hai cuộc kháng chiến cho đến nay.

Sáu mươi năm qua, nhớ lại cái thời đi kiếm ăn ở tuổi mười ba là một trong cái vốn quý cho cuộc đời viết văn của tôi.

Nhớ những ngày đi đãi cát tìm vàng. Năm mươi năm cầm bút,cũng là năm mươi năm đãi cát tìm vàng trong văn chương.

15/8/2004
N.Q.S
(187/09-04)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    Hội quán Quảng Tri hiểu một cách nôm na ý nghĩa về cái tên của hội quán này là nơi giao lưu, sinh hoạt văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật... nhằm mở rộng sự hiểu biết. 

  • LTS: Trong thời gian qua, báo chí trong nước đã phản ảnh về việc Hội Quảng Tri - nơi diễn ra các hoạt động khai trí ở Huế đầu thế kỷ 20 - được đề xuất phá dỡ, xây mới để làm …trụ sở UBND phường.
    Đề xuất này khiến người dân Huế và những người yêu Huế nói chung, nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ Huế nói riêng lo lắng, nhiều ý kiến đề nghị cần cẩn trọng.

  • ĐỖ XUÂN CẨM

    TƯỞNG HAI LÀ MỘT, NHƯNG MỘT MÀ HAI

    Nhắc tới cây Bồ đề, hầu như đa phần người dân xứ Huế có cảm giác rất thân thuộc.

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Từ năm 1917, tạp chí B.A.V.H đăng bài “Cầu ngói Thanh Thủy” của R.Orban. Trong bài nghiên cứu này ngoài phần khảo tả cầu ngói, tác giả đã công bố bản dịch đạo sắc do vua Lê Hiển Tông ban khen bà Trần Thị Đạo, người có công đóng góp tiền của xây dựng cầu ngói Thanh Thủy.

  • NGUYỄN XUÂN HOA

    Năm 1776, trong sáu tháng làm quan ở Huế, có điều kiện ghi chép những điều mắt thấy tai nghe, đọc kỹ văn thơ ở vùng đất Thuận Hóa để viết tập bút ký Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã đưa ra một nhận định mang tính tổng kết: Đây là vùng đất “văn mạch một phương, dằng dặc không dứt, thực đáng khen lắm!”.

  • Ở thời điểm năm 1987, GS Trần Quốc Vượng là người đầu tiên nêu quan điểm cần đổi mới tư duy lịch sử, nhận thức đúng sự thật lịch sử và thảo luận tự do, dân chủ, rộng rãi, trong đó có vấn đề xem xét lại nhà Nguyễn và thời Nguyễn.

  • ĐỖ XUÂN CẨM 

    Thành phố Huế khác hẳn một số thành phố trên dải đất miền Trung, không chỉ ở các lăng tẩm, đền đài, chùa chiền, thành quách… mà còn khác biệt ở màu xanh thiên nhiên hòa quyện vào các công trình một cách tinh tế.

  • KỶ NIỆM 130 CHÍNH BIẾN THẤT THỦ KINH ĐÔ (23/5 ẤT DẬU 1885 - 23/5 ẤT MÙI 2015)

    LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    Huế, trong lịch sử từng là vùng đất đóng vai trò một trung tâm chính trị - văn hóa, từng gánh chịu nhiều vết thương của nạn binh đao. Chính biến Thất thủ Kinh đô 23/5, vết thương lịch sử ấy ăn sâu vào tâm thức bao thế hệ người dân Cố đô.

  • KIMO 

    Café trên xứ Huế bây giờ không thua gì café quán cốc ở Pháp, những quán café mọc lên đầy hai bên lề đường và khi vươn vai thức dậy nhìn xuống đường là mùi thơm của café cũng đủ làm cho con người tỉnh táo.

  • LTS: Diễn ra từ 10/6 đến 22/6/2015, cuộc triển lãm “Thừa Thiên Huế: 90 năm báo chí yêu nước và cách mạng” do Hội Nhà báo tổ chức tại Huế, trưng bày các tư liệu báo chí hết sức quý giá do nhà báo, nhà nghiên cứu Dương Phước Thu sưu tập, đã thu hút đông đảo công chúng Huế. Nhiều tờ báo xuất bản cách đây hơn thế kỷ giờ đây công chúng được nhìn thấy để từ đó, hình dung về một thời kỳ Huế đã từng là trung tâm báo chí của cả nước. Nhân sự kiện hết sức đặc biệt này, Sông Hương đã có cuộc phỏng vấn ngắn với nhà nghiên cứu Dương Phước Thu.

  • MAI KHẮC ỨNG  

    Một lần lên chùa Thiên Mụ gặp đoàn khách có người dẫn, tôi nhập lại để nghe thuyết minh. Nền cũ đình Hương Nguyện trước tháp Phước Duyên được chọn làm diễn đài.

  • LÊ QUANG THÁI

    Việt Nam giữ một vị thế trọng yếu ở ngã tư giao lưu với các nước của bán đảo Ấn Hoa và miền Viễn Đông châu Á.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
                            Tùy bút

    Mối cảm giao với Túy Vân khởi sự từ sự tạo sinh của đất trời trong lớp lớp mây trắng chảy tràn, tuyết tô cho ngọn núi mệnh danh thắng cảnh thiền kinh Cố đô.

  • PHẠM THÁI ANH THƯ

    Trong giai đoạn 2004 - 2013, nền kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế (TTH) đạt mức tăng trưởng khá cao so với mức bình quân của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lý theo hướng du lịch, dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp. Đồng hành với mức tăng trưởng đó, nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đã đến đầu tư tại Thừa Thiên Huế.

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Một số nhà nghiên cứu đã chú tâm tìm kiếm nơi an táng đại thi hào Nguyễn Du ở Huế, sau khi ông qua đời vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16/9/1820).

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN 

    Sông Hương vừa là cột mốc làm chứng vừa là biểu tượng cho dáng đẹp sương khói, “áo lụa thinh không” của lịch sử thăng trầm về hình bóng Huế.

  • ĐỖ XUÂN CẨM

    1. Đôi điều tản mạn về Liễu
    Người Á Đông thường coi trọng luật phong thủy, ngũ hành âm dương, họ luôn chú trọng đến thiên nhiên, cảnh vật và xem đó là một phần của cuộc sống tinh thần.

  • TRƯỜNG PHƯỚC  

    Đất nước hòa bình, thống nhất, thực hiện công cuộc đổi mới phát triển đã 40 năm. Những thành tựu là có thể nhìn thấy được. Tuy nhiên, muốn phát triển, công cuộc đổi mới cần được thúc đẩy một cách mạnh mẽ có hiệu quả hơn nữa.

  • LƯU THỦY
     
    KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN HUẾ (26/3/1975 - 2015)