Thái Vũ với nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử "Biến động"

15:30 02/12/2011
TÔN THẤT BÌNH "Biến động" là tập đầu trong bốn tập kể lại "một giai đoạn đấu tranh của nhân dân ta trước biến động của lịch sử khi giặc Pháp sang xâm lược nước ta, khi vua quan nhà Nguyễn đầu hàng giặc Pháp, chăm lo cuộc sống riêng mình" (Lời Nhà xuất bản. tr.5).

Ảnh: sachxua.net

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Hai cuộc khởi nghĩa của Hng Tập và Đoàn Trưng trong tác phm nhằm vào trung tâm chính trị đầu não Huế, đứng đầu là vua Tự Đức và các quan đại thần theo nhóm chủ hòa: Phan Thanh Giản và Trn Tiễn Thành.

Dựa trên một khối lớn tư liệu về v
ăn và sử có liên hệ nhiều mặt đến giai đoạn đó, Thái Vũ đã đựng nên một toàn cảnh sống động về lịch sử, văn hoá, xã hội dưới triều Tự Đức vào những năm cuối thế kỷ XIX, từ những sinh hoạt chốn cung đình đến ngoài dân gian, tác giả đều miêu tả một cách khá xác thực và đầy hấp dẫn. Sự am hiểu về sinh hoạt văn hóa Huế của tác giả (cảnh chọi gà, đua thuyền trải, t chức vui chơi trong ngày lễ thu hưởng kinh đô, lễ tết, thi đ thơ, sinh hoạt ký thưng viên của Tùng Thiện Công v.v…) làm người đọc vừa thích thú, vừa ngạc nhiên. Nếu không chịu khó bỏ công tìm tòi và tra hỏi, chắc chắn tác giả không thể viết được những trang như vậy. Thái Vũ đã có những hiểu biết sâu rộng và khá sắc sảo trong những lĩnh vực về văn hóa Huế cuối thế kỷ XIX, nhất là về văn học viết và sinh hoạt dân gian.

Nhân vật lịch sử
, và ngay những nhân vật vô danh trong đám quần chúng đông đảo đã được tác giả trình bày một cách thuyết phục. Đó là những con người có những tâm trạng riêng tư đầy phức tạp, khá phong phú mà với khả năng một nhà văn, Thái Vũ đã trình bày đúng mực, không rơi vào giả tạo hoặc phóng đại nhân vật theo ý muốn chủ quan. Hình tượng nhân vật đưc khắc họa đậm nét, nhất là Đoàn Trưng - Trúc Lâm Thanh Nhãn, đó là một con người phóng khoáng, tài hoa, hào hiệp lẫn ngang tàng. Anh là ngưi đã viết chữ "phụng" lên không để tỏ tình với Thể Cúc, gây tranh luận cho các nữ sĩ ni tiếng đt thn kinh. Anh cũng là người giải đề thơ hắc búa phủ Tuy Lý Công một cách thông minh, là đội trưởng thuyền trải xut sắc của làng An Truyền, kẻ đương đầu Đông sơn thi tửu hội, chủ mưu đánh vào Đại Nội lật đ vua Tự Đức. Bị tht bại, đã ngang nhiên, ngạo nghễ nhận tội xử lăng trì sau khi để lại cho đời tập "Trung nghĩa ca" đầy tráng khí!

Thái Vũ đã dành nhiều c
ông sức để tái tạo một Đoàn Trưng hào hùng, nghĩa hiệp, đầy nhân đạo, hành động vì nghĩa lớn cứu dân, cu nước, đó là lòng trung nghĩa theo quan niệm của anh.

Ngược lại là vua Tự Đức, một người
chỉ lo hưởng lạc riêng, bản chất nhẫn tâm được che dấu dưới bộ mặt ưu tư và tâm hồn khắc khoải. Tác giả đã cố minh chng bản chất ấy qua vụ bức tử Hồng Bảo, giết toàn bộ tám mạng gia đình Đinh Đạo sau vụ "Chày vôi" tht bại, và giết luôn con gái của Đoàn Trưng, em Xuân Lan xinh xắn bé bng, vô tội. Lời dụ của Tự Đức ghi rõ: "Trừ ác phải trừ tận gc! Điều gì nên cắt đứt phải cắt đt ngay. Trẫm thà chịu tiếng tàn bạo mà trừ được cội rễ ác nghiệt, không để ni lo cho con cháu"…

Ở các nhân vật khác như Tùng Thiện Công, Hồng Tập, Thể Cúc, Nguyễn Tường Tộ, Phạm Lương, Trương Trọng Hòa, Nguyễn Đình Tứ, nhà sư Nguyễn Văn Quý Thái Vũ cũng đã có một thái độ khách quan khi mô tả họ. Mỗi nhân vật có một tính cách riêng. Có thể nói tác giả đã rt nghiêm túc và có tinh thần trách nhiệm khi nhận định bản chất mỗi con người để sáng tạo ra những nhân vật đin hình của thời đại.

Tác gi
cũng rất chú trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ địa phương và phong cách diễn đạt của người xứ Huế. Đây là một điều khó khăn cho các nhà văn không sinh trưng Huế khi phải viết li đi thoại giữa các nhân vật hoàng phái vào thế kỷ XIX. Buổi nói chuyện giữa Thể Cúc và công chúa Mai Am (chương 4) và buổi nói chuyện giữa Đoàn Trưng với vợ và mẹ quê nhà (Chương 1) là nhng dẫn chng cụ thể về li nói chuyện "rt Huế". Nhưng nếu tác giả am hiểu sâu sắc hơn chút nữa về cung cách xưng hô cung đình thì các đoạn đối thoại giữa vua Tự Đức với quý nhân Nguyễn Thị Bích, cũng như với các quan trong triều sẽ nhuần nhuyễn chính xác hơn. Dưới triều Nguyễn, các vợ vua dùng tiếng "phưng đúc" là tiếng nửa Huế, nửa Nam.

Tác phẩm sẽ gây được ấn tượng mạnh và hấp d
n nếu tác giả mô tả trận tấn công của quân khi nghĩa "Chày vôi" vào kinh thành Huế kỹ càng hơn. Hầu như tác giả chủ yếu dựa trên sự tường thuật của một số sử liệu dưới triều Nguyễn, hư cu sáng tạo chưa nhiều. Chúng tôi thiết nghĩ, với khả năng của tác giả, đây là một chương có thể vận dụng trí tưởng tượng để hư cấu các tình tiết sống động, tăng thêm phn hấp dẫn cho tác phm. Tôn trọng sự chân thật của lịch sử trong một tiu thuyết lịch sử không có nghĩa là trung thành một cách bị động vào các chi tiết khô khan trong sử. Người viết có quyền sáng tạo miễn sao đừng làm sai lệch, bóp méo các dữ kiện lịch sử. Nếu có giới hạn thì có lẽ nên dè dặt khi hư cấu các sự kiện chung quanh cuộc đời một nhân vật đã đi vào lịch sử, mối tình tuyệt vọng giữa Hồng Tập và Công nữ Nhu Trang thiết nghĩ là một trường hp hư cấu chưa đúng chỗ. Vì Hồng Tập đã trở thành một nhân vật lịch sử của dân tộc nên cn tôn trng đời tư để giữ tính chân xác của lịnh sử.

Tác giả đã b
công nhiều khi nghiên cứu những đin lệ tập tục nghi lễ chốn cung đình, vì vậy cần chú tâm thêm khi hư cấu. Trường hợp bà quí nhân Nguyễn Thị Bích cùng thái giám Nguyễn Phượng ra khỏi nội cung tìm Mân lý để thuyết phục nàng làm vợ vua dưới hình thức gia nhập đoàn múa hát tnh Quang viện là một trường hợp không thể có dưới triều Nguyễn, vì nghi lễ cung đình buộc vợ vua không thể rời Đại Nội đ tiếp xúc với thường dân một cách dễ dàng như vậy.

Duyệt Thị Đường là một nhà hát chỉ
dành cho vua, các thân vương và quan lại cao cấp xem. Thường trong những ngày đại lễ, nhà vua cho dựng rạp lộ hiên Phu Văn Lâu cho dân chúng xem múa bông và hát tuồng. Thái Vũ đã đẩy tưởng tượng mình đi hơi xa khi cho thường dân được phép vào Đại Nội xem hát để nhân tiện xem mặt vua! Thực tế nếu có vào được Duyệt Thị Đường vẫn không thể nào thấy vua được, vì nhà vua và cung tần được che bằng một tấm đố nhẹ, mỏng dù là khi cùng ngồi xem tuồng với các đại thn nước ngoài.

Mộ
t vài chi tiết nhỏ trên mong chỉ b sung cho tác phẩm hoàn hảo hơn, cũng như khi đề cập đến các trò chơi dân gian, ghi lại các bài đồng dao. Thái Vũ đã ghi khá chính xác các bài trẻ em thường hát, đã chú ý rất sắc sảo tiếng chưởi đổng "ông nội" vốn quen miệng của người Huế, duy chỉ kể lầm tên một con vật trong trò bài vụ. Đó là con heo, thay vì con cua, vốn là một con trong trò chơi "bầu cua nai", được ph biến trong dân gian vào đầu thế kỷ XX đến nay.

Để x
ác định nguyên nhân và mục tiêu tranh đấu của quân khởi nghĩa "Chày vôi", tác giả đã dùng lời của Đoàn Trưng nói với Sư Quý:

"Như vậy, sau này nếu luận tội, bàn công, hẳn con cháu đất nước này phải thấy rằng: Khởi từ giặc Tây Dương
đến cướp nước, vua Tự Đức là k đầu tiên đầu hàng giặc, còn Phan Thanh Giản là kẻ đu tiên dâng nước cho giặc. Ta đánh vào Đại Nội là trong cơ nguyên đó".

Mục đích chiến đấu của Đoàn Trưng đã rõ ràng. Lá c "ngũ đại hoàng tôn" chỉ là một chiêu bài để tập hợp lực lượng kháng chiến, để cho cuộc khởi nghĩa được "chính danh" trong ý thức hệ phong kiến. Suy tôn Đinh Đạo chỉ là một cơ hội để thực hiện mộng cứu dân, cứu nước ra khỏi him họa xâm lược của Tây Dương. Cho đến cuối đời, Đoàn Trưng vẫn nhấn mạnh đến động lực và ý nghĩa của cuộc chiến đấu của mình qua "Trưng nghĩa ca" dài 498 câu lục bát hùng tráng. Đó là một bản cáo trạng chế độ phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng thực dân, phản ánh sự phẫn nộ của toàn dân trước sự áp bức, bóc lột của vua quan nhà Nguyễn, tiêu biu nht là việc xây Khiêm lăng, đồng thời cũng chĩa mũi nhọn vào bọn thực dân Pháp:

Trong
trừ tđạo cho thanh
Ngoài cùng Tây tặc tranh hành một phen


Xác định đúng hướng mục đích của cuộc khởi nghĩa trong "Biến động
", đó là một đim son của Thái Vũ.

Sẽ thiếu sót lớn nếu không nêu ra những đoạn gây cho người đọc sự hưng phấn, bồi hồi. Khi đoàn quân "chày vôi" try về kinh đánh vào Đại Nội, ngọn bút đy thi t của tác giả đã vẽ lại được cảnh rộn rịp của một đoàn quân chính nghĩa, tự nhân dân mà ra được nhân dân ủng hộ... Đây là bài ca ra trận bừng bừng hào khí của những người bị áp bức, bóc lột, giờ đã vùng lên:

"Lệnh xuất quân mọi người phải
im lặng. Không ánh đuốc, không trống chiêng,

Quân
trẩy như nước

Sông Hương!

Sông Hương
, phải chăng cách trở đôi bờ? Không! Đò đã dàn từ bến Trường súng xuống Trường Tiền. Đò đón từ b Nam đưa quân qua bờ Bắc! Đò An Truyền, đò Mậu Tài, đò Dương Nỗ, bên Kim Luông, tại Vạn Xuân, từ Bãi Dâu, Cồn Hến... Cám ơn Lê Chí Trực, người đặc trách việc qua sông, cám ơn bà con An Truyền, Mậu Tài, Dương Nỗ… Ôi, phải chăng từ buổi đưa thuyền năm đó, bạn trao nhớ lại tình xưa? Ông già đội trưng thuyền Dương Nỗ trước đây đón Đoàn Trưng xuống thuyền mình:

- Anh Trưng.

Lời nói nghẹn lại trong cổ ông khi Đoàn Trưng đến cầm tay, ông ra hiệu lặng yên:

- Bác! Cm ơn bác...

Và Sông Hương con nước xuôi về hướng Đông, sóng nào tr
lại - Thảm mặc hi ba - nay sóng đó, trở lại ngược dòng chăng để đưa ngưi qua sông đánh vào Đại Nội" (tr. 313).

Đêm Đoàn Trưng phải th lộ cùng người vợ thân yêu mưu đồ đại sự, ngưi đọc khó ngăn được sóng xúc cảm trào dâng:

- Mình, tôi muốn bàn tí chuyện.

- Dạ...

Thể Cúc nhẹ nhàng lót con ngủ rồ
i quay người về phía chồng. Anh đang ngồi đó, đèn không thắp, nhưng Thể Cúc thấy dường như anh đang còn nghĩ mung lung về một chuyện gì đó. Hơn nữa tiếng "mình" để gọi vợ, anh rất ít dùng, cứ một "nàng", hai "nàng" hoặc tinh nghịch thì gọi là "ờng". Đêm nay, sao lại thế? Có chuyện gì, chuyện gì? Cô đang phân vân như vậy thì Đoàn Trưng đã ấp đầu vào vai vợ, đưa tay s nhẹ, thoa thoa lên ngực vợ.

- Mình hẳn phải hiểu và sẽ hiểu điều tôi cần nói rõ với mình. Người mẹ có con và đất nước cũng có những ngưi con. Bàn tay ngón ngắn ngón dài, con năm đứa, đâu phải đứa nào cũng giống đứa nào. Nay đất nước đang lâm vào cảnh hết sức nguy khốn, cứu dân đâu phải một sớm một chiều, mà kẻ nắm quyền tối thượng của đt nước hiện nay thì như thế (...)

Thể Cúc càng nghe chồng nói, nước mắt càng chảy đầm đìa. Cô muố
n quì xuống phủ phục dưới chân chồng, thấy chồng lồng lộng như vì sao sáng chói trên trời cao, còn mình thì...

(.....)

- Vậy còn mạ?

- Mạ ta?

- Dạ...

- Mạ thì nàng biết rồi đó! Không một người mẹ nào chịu lùi trước cái chết khi cần quên mình vì đại nghĩa, mà đạt nghĩa đây là cứu dân, cứu nước.

- Anh Trưng

- Chính nàng, nàng cũng là một người Mẹ" (tr. 430 - 433)

Đó là hai trong những trang "THƠ" hay nhất của tác ph
m.

"Biến động" trở thành một bản anh hùng ca, d
t dào tính chiến đấu trữ tình. Chủ nghĩa nhân đạo chan hòa với chủ nghĩa yêu nước lan tỏa khắp những trang sôi bỏng nhiệt tình cứu nước của tác phm.

Thái Vũ xứng đáng được người đọ
c tin tưng nghệ thuật viết tiu thuyết lịch sử của mình.

3 -1986
T.T.B
(18/4-86)








Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO        (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.

  • NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...

  • MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ       (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này:                Biết rằng trong cõi nhớ thương                Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi

  • MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG   (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.

  • TRẦN THUỲ MAI            (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!

  • MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận                  (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

  • TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.

  • NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

  • Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.

  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".