VÕ VĂN LUYẾN
Huế trong tôi như một thiên thần
Huế như những sợi tơ vàng óng mượt trên tay em ngày mười sáu
ta rêu phong từ độ giao mùa
con trăng tím cuối trời cất giấu
kỷ niệm vùi sâu trong trái me chua
kể dạo đó không thèm lớn thêm lên chi nữa
nguyệt biều xanh huyền thoại hát vu vơ
nỗi nhớ đi về mòn khuya bậu cửa
thơ làm mây trắng nõn phía ngu ngơ
Huế như con thoi trên khung cửi rộng
một đời ta dệt mãi chẳng nên hình
nhân gian đầy có mấy ai lương đống*
vỗ yên lòng thôi hãy lặng im
ngoài trăm năm chén vàng chén ngọc
Huế khói sương như có như không
núi dang tay đón đưa mời mọc
như tình yêu lót ổ giữa ngàn thông
------------------
* Rường và cột, chỉ người có tài năng làm chỗ dựa cho nước nhà (tự điển).

HUỲNH THÚY KIỀU
Cầm mùa
Lá vàng ruộm cả dấu chân
Mùa nghiêng qua ngõ tần ngần phố vui
Sông chiều mảng tím bùi ngùi
Lục bình đẻ nhánh lại nuôi lục bình
Cửu Long chín khúc linh đinh
Giang hồ tứ chiếng chùng chình tiếng rao
Hừng đông cây bẹo dậy chào
Phong sương vui chỉ cùng nhau mấy mùa
Mái chèo khoan nhặt dạ thưa
Song loan quặn nhịp như vừa chia ly
Hỏi mùa nghiêng nữa mà chi?
Phố vui mấy bận... ừ thì phố vui
Vầng trăng tròn khuyết gãy đôi
Bờ khuya trút cạn những lời tri âm
Ai nghiêng nhịp nhớ thì thầm
Sông giăng nước mắt tháng năm đợi người
Cầm mùa
Mùa lạc
Giấc trôi
NGUYÊN NHƯ
Mất lối
Âm ẩm vạt mây
sợi mưa thô kệch cuộn tròn dãy phố
ai vót mũi giáo chói lòa?
lao thẳng phía mảnh mai hư thực
Đêm của những vì sao rách
gật gù khuya
cột đèn
đường sân ga
men theo dấu chân lòa nhòa
chưa nỡ...
Đêm của những vụn lá lâng lơ meo mốc
em ảo ảnh cánh sen
câu thơ chẳng thể bật cười nơi cóng buốt
ngổn ngang nằm
Đêm của hai hàng mi ướt
mặn dấu son môi từ lâu dành dụm
Anh bẻ mảnh trăng mờ nhắm tạm
một mình bấu trĩu vành đêm...

NGUYỄN THỊ LIÊN TÂM
Chiều trên đồi tắt nắng
Phả một chút tím vào mây trắng bay ngang
Chợt nhớ một thời áo trắng
Đạp xe chạy vội lên đồi thông
Cứ sợ Huế chiều tắt nắng
Nhưng lao xao nắng cười
Và giấu bóng mình vào bóng lá
Mùa này gió và mây lạ quá
Cứ giận hờn nhau run rẩy cả bầu trời
Em ôm vào lòng chút nắng đang rơi
Rồi chợt nhận ra nắng hình như cũng tím
Đồi Thiên An lại ngỡ đồi Golgotha
đang rền vang tiếng chuông cầu nguyện
Áo nữ tu nhập nhoạng bóng chiều!
Mùa hạ ngập ngừng trút lá vàng rêu
Em trút tím vào đâu khi nhớ về ngôi giáo đường xa lắc
Có một giấc mơ đã bay đi mất
“Người và ta sẽ quỳ trước Chúa lòng lành”
Chiều đã trôi rất nhanh
Áo tím nhòa trong khung trời tịch lộ
Và ngọn đồi đã mất hút bóng xanh
Lại vội vàng đạp xe về Phố.
(TCSH437/07-2025)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh