Tết ở chiến khu Ba Lòng vào bài hát "Xuân rừng"

15:41 02/07/2009
MẶC HY    Hồi kýThế là tôi và Lê Lự, mấy đêm nay, lại được nằm chỏng khoèo trên mấy tấm ván nóc chuồng trâu nhà mẹ An tại Khe Giữa để đón một cái Tết thứ hai ở chiến khu Ba Lòng.

Chiến khu Ba Lòng hôm nay (Ảnh: SGGP)

Sau trận càn Phong Thu, Phòng Chính trị Phân khu bị tổn thất một số cán bộ bị địch bắt, trong đó có anh Đàm Viết Bằng ở Đoàn Văn công chúng tôi. Họ bị đầy ra Côn Đảo, năm 1954 mới được trao trả. Ở đồng bằng, trận càn Phú Vang, Đội Tuyên truyền tỉnh Thừa Thiên bị địch vây. Các anh Trọng, Thuyên, Ngọc, Chung... bị bắt và cùng bị đầy ra Côn Đảo. Vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Hồng bị Tây bắn chết. Chúng dẫm nát cây đàn ghi ta của anh. Sau trận càn, nhân dân đã chôn mộ cây đàn giữa 2 ngôi mộ vợ chồng nhạc sĩ.

Năm ngoái, ở nhà mẹ An, tổ văn nghệ báo chí còn cùng nhau đón giao thừa. Bấy giờ, anh Nguyễn Khắc Thứ và anh Trần Quốc Tiến cùng anh Văn Tôn được phái vào nhà in Mặt trận, trông nom việc ra báo. Anh Đình Quang và anh Bửu Tiến được cử ra vùng tự do Thanh Nghệ để thành lập đoàn văn công mới. Các anh khác được điều động về đơn vị. Trước đó, tôi và Lê Lự được về công tác ở Trung đoàn 95 dưới đồng bằng, nên thoát được trận càn. Nay lên lại chiến khu, chính thức cầm quyết định về Trung đoàn, thành lập Đội Tuyên truyền Văn nghệ. Trong khi chờ anh Vũ Lân, bí thư chi bộ, hiện đang công tác ở đồng bằng về ký giấy giới thiệu sinh hoạt đoàn thể, chúng tôi được ra ở nhà mẹ An và được phát mỗi người 5 kilôgam "gạo thối". Tây càn quét phá mùa, trận lụt lịch sử năm 1950 như muốn thử thách ý chí của quân dân ta. Thóc chôn dưới đất bị ngập nước, phơi khô, chỉ được xay hết lớp trấu. Gạo nấu lên có mùi thum thủm, phải quạt cho nguội hết mùi mới ăn được. Xin lỗi, khi đi đồng, hạt cơm còn nguyên.

Mấy đêm qua, mưa lạnh, ôm nhau, đặp mấy tấm phông màn làm chăn, rét quá, không ngủ được, nên đêm nay, mệt quá, ngủ thiếp đi từ đầu hôm, không nghe được tiếng súng đón giao thừa ở Phòng Tham mưu.

Sực tỉnh dậy, trời đã sáng. Một ngày nắng đẹp bắt đầu. Ánh nắng từ phía biển, tuy bị rặng núi Trấm che lấp vẫn tràn vào vùng núi chiến khu. Rừng sáng bừng lên. Hai cánh đồng hai bên bờ sông Thạnh Hãn, đồng bào vừa trỉa bắp. Cây bắp đã cao bằng gang tay. Những chiếc lá màu xanh non rung rinh theo gió trên nền cao đất đỏ tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Trong lớp tán cây rậm rạp ở dốc làng Hạ, lũ vượn vẫn kéo dài tiếng hú nghe lảnh lót, đón một ngày nắng đẹp.

Đêm qua, chúng tôi đã cố ý gấp gọn bộ quần báo bằng vải si ta (Liên khu 5) đặt lên gối ở đầu giường, để có được nếp là, diện vào ngày đầu xuân.

Hai chúng tôi chuẩn bị xuất hành, trong túi rủng rỉnh mấy chục đồng phụ cấp mới được phát.

Ra khỏi nhà, định sang cơ quan Tỉnh đội ở ngay sát cạnh, chúng tôi gặp ngay Khánh, người của Tỉnh đội đang giặt dưới bến. Đợi Lự đi trước vài bước, Khánh dúi vào tay tôi mấy chiếc bánh thuẩnn (bánh quả bàng) và mấy chiếc bánh in, bọc giấy xanh đỏ. Khánh đã có người yêu là anh Chẩn cũng ở tỉnh đội. Nhưng đối với anh lính miền Bắc xa nhà là tôi, Khánh vẫn có cảm tình riêng! Sau 1954, Khánh và Chẩn cưới nhau và hình như ở thị xã Đông Hà.

Cán bộ tỉnh đội đi chúc Tết gần hết, chúng tôi gặp anh Nguyễn Viêm. Anh Nguyễn Viêm, sau 1954 ra Hà Nội được cử đi học nhạc ở nước ngoài và về công tác nghiên cứu ở Viện Âm nhạc và đã mất ở Hà Nội.

... Đến Đá Nổi, chúng tôi vào chúc tết đầu tiên nhà anh Bùi Tá Bàng, ty trưởng ty Công an Quảng Trị. Dạo mới vào chiến trường (đầu năm 1949), chưa có nhà cho Đoàn, chúng tôi được chia nhau ở nhà dân tại Đá Nổi. Tôi ở nhà anh Bàng, vợ anh, chị Bốn có 2 cô em là o Năm và o Sáu. Chị mở quán bán xôi thịt hoong, chè hoa cau, chè đậu xanh đánh, kẹo lạc đổ trên bánh đa.. Vì sợ lũ, nhà nào cũng đổ nền cao, muốn lên nhà phải trèo mấy bậc. Anh Bàng trực cơ quan, các anh tiếp chúng tôi miền nở, ân cần mời ăn đủ thứ. Chúng tôi trả tiền, các anh không nhận... Tết mà!...

Chúng tôi ghé Quân y Trung đoàn thăm chị Quý, y tá, người yêu của anh Kinh Kha, cán bộ tiểu đoàn E95. Anh Kha người Huế, hào hoa, tiếng Pháp rất giỏi. Nhớ nhất là bài hát "Bao giờ anh lấy được đồn Tây" (Phạm Duy) anh dịch nguyên văn ra tiếng Pháp và hát rất đúng nhạc" "Mà tanh (matin) căng (quand) rô-dê (rosée) Phờ lù (Floue) mông-ta-nhơ (montagne) - dịch câu:

"Buổi mai khi sương rơi mờ trên núi!"

Anh Kinh Kha sau công tác ở Bộ Ngoại giao, lấy vợ Hà Nội ở phố Tôn Thất Thiệp và đã mất được 6 năm.

Chúng tôi ghé ty thông tin Quảng Trị, gặp anh Lương An đang ngồi một mình.
Anh Lương An khoe với chúng tôi, báo tỉnh vừa in bài "Ba Lòng" của anh. Đến giờ những câu thơ:

"Đò em lên xuống Ba Lòng
Chở người cán bộ lên vùng chiến khu..
... Ai về bến Trấm thì lên,
Về cho sơm sớm, mưa đêm khó chèo...
tôi vẫn nhớ!

Chúng tôi nhắc đến anh Văn Tôn tức Vĩnh Tôn (một hoàng thân). Ba anh là ông Bửu Phu, tri huyện Cam Lộ, sau thăng lên tỉnh trưởng, anh ruột là Vĩnh P. hay làm thơ, lấy bút danh là "Tú bạc nhạc" từng là cán bộ chính quyền ngụy. Chỉ nửa ngày đường về Huế, là Tôn sẽ được sống trong nhung lụa! Anh Tôn vẫn ở với kháng chiến cho đến hoà bình, tập kết ra Bắc ở Hà Nội, công tác ở nhà xuất bản Phổ Thông. Thập kỷ 60, xin ra ngoài biên chế, về sống ở Cảnh Dương (Quảng Bình). Hàng ngày, vị hoàng thân ấy, cởi trần, mặc quần đùi, ra biển câu cá, chiều đem ra chợ bán, lấy tiền đong gạo nuôi thân. Còn nhớ các mẹ thường kêu nhau: "... Ra mua cá của thằng Tôn mà nghe nó đọc thơ!. Tôn! đọc thơ đi mi!". Cho đến khi bài thơ "Cồn Cỏ" được giải thưởng báo Văn Nghệ Trung ương ký tên Hải Bằng, ta mới biết Hải Bằng là Văn Tôn (Vĩnh Tôn) một trong những hội viên đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam. Hải Bằng đã đi xa hơn 5 năm...

Một ngày đầu xuân nắng đẹp cực kỳ, hai chúng tôi làm một cuộc du xuân vòng quanh hai bờ sông Thạch Hãn. Lúc trở về, qua con đò ở Khe Giữa, ánh nắng chiếu trên mặt sông loang loáng. Chúng tôi chúc Tết bác lái đò. Mái chèo đưa nhẹ. Những giọt nắng tranh nhau nhảy múa, hoà tan, chạy nhanh trên mặt sông.

Đã quá trưa, mệt nhưng không muốn nghỉ. Vừa lúc ấy, anh Lân đem quyết định và giấy giới thiệu sinh hoạt, phân công chúng tôi về xây dựng đội tuyên truyền văn nghệ của Trung đoàn 95. Niềm vui bừng lên trong tôi. Nhìn về phía dốc làng Hạ, lũ vượn thôi không hú và cắn nhau riu ríu nữa. Chim trong các vòm cây đua nhau hót. Tôi lấy cây đàn ghi ta và giấy bút, nắn nót viết hai chữ thật to "Xuân rừng":

- "Núi nằm im trong nắng mới xuân về, rừng rung theo làn gió nhẹ lay.
mây lờ trôi lang thang như mang nỗi sầu oán để lãng quên ngày tháng.
Líu líu líu, lo lo chim hót khắp trời hoà cùng tiếng suối reo.
Róc rách, rót đều vào vách đá rêu xanh như muôn tiếng đàn.


Bài hát viết ở giọng Rê thứ, tiết tấu vui, rộn ràng, tôi đệm theo điệu Bô lê rô. Thời gian này, các điệu nhạc khiêu vũ như Fox, Rumba, Cha cha cha... bị cấm kỵ. Nhưng niềm vui trong lòng tôi vào một ngày đầu xuân nắng đẹp thôi thúc tôi không thể làm khác. Lời 2 quay lại:

"Bao ngày, năm với tháng cách xa quê nhà ta yêu dấu mãi từ lâu
Lên rừng ta vui với cây, với lá, cùng với tiếng suối trong ngàn lau..
"

Đoạn 2, chuyển điệu sang Rê trưởng, tươi sáng:

"... Mong sao ngày mai, nhân dân vui trong tiếng hò
Tô bao lòng trai, cùng mừng cuộc đời tự do..
"

Tiếng hát lên cao trào:

"Ta vui ngày mới, phấp phới dưới ánh cờ hồng
Xuân sang tràn lan, Hoà bình vui khắp non sông!
"

Bài hát hoàn thành ngay trong ngày mùng 1 Tết năm ấy. Về đến Trung đoàn, lo xây dựng đội tuyên truyền với các anh Tuyến, anh Xuân Lư, anh Lê Lự, (thời chống Mỹ tham gia đoàn Văn công Giải phóng Trị Thiên, về hưu ở Thanh Hoá và đã mất vì đau tim gần 10 năm) cùng anh Thắng... nên không có điều kiện dựng bài "Xuân rừng". Phần khác, bài hát hơi khó hát, tiết tấu hơi xa lạ, nên anh em cũng không ủng hộ nhiệt tình.

Hoà bình năm 1954, cùng với bài "Gặp nhau dưới trăng" ban ca nhạc Đài TNVN giới thiệu trên sóng. Chị Minh Đỗ và Thanh Hiếu hát "Gặp nhau..", tôi đệm sáo, chị Thái Thị Sâm đệm Pianô. Sau thu đĩa, anh Nguyễn Hữu Hiếu phối âm, chị Thương Huyền và Mai Hanh hát.

Riêng ban nhạc đài có đem hai bài ra phối theo điệu Rumba và Bô lô rô tập chơi vui với nhau.

Ôi! thời gian.. nửa thế kỷ đã qua! Ở cái tuổi gần 80, ngồi nhớ lại những kỷ niệm xưa. Gần đây, xem bộ phim tài liệu về Ba Lòng, tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ về những đồng đội, đồng chí đã đi xa, những người bạn học như anh Nguyễn Quán, anh Lê Thanh Ban, anh Nguyễn Vược, anh Đỗ Xuân Bảng đã nằm lại ở mảnh đất này, một mảnh đất đã từng là "thủ đô" của cuộc kháng chiến chống Pháp gọi là Bình Trị Thiên khỏi lửa.

Xin cho tôi thắp nén nhang nhớ về những đồng đội, những người bạn ấy và cũng mong một ngày nào đó, Ba Lòng sẽ được công nhận là di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp như mảnh đất Củ Chi anh hùng ở miền Nam thời chống Mỹ.

Một đêm mùa thu ở Hà Nội 2003
M.H
(179-180/01&02-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN VIỆT ĐỨC1.Về bản sắc văn hoá dân tộc.Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói riêng, một cốt cách riêng được phản ánh thông qua những giá trị tinh thần và vật chất cụ thể, đó là bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc đó.

  • VĨNH PHÚCNghiên cứu, phê bình, giới thiệu Dân ca Nam Bộ trong giai đoạn này chúng tôi chỉ sưu tập được 15 bài, tuyển chọn và sử dụng 9 bài. Hầu như đều nổi trội lên 2 thể loại chủ yếu là Hò và Lý, kể cả những bài viết mang tính tổng quan về vùng dân ca này.

  • MẶC HY                Hồi ký "Lúa vàng! Lúa vàng trên cánh đồng làng, tang tình tang, tang tình tang... Đêm nay, gặt mà lúa về... ta đập mà ta xay, ta giã mà ta giần..."

  • MAI VYSự sáng tạo nghệ thuật của giới nghệ sĩ biểu diễn xuất phát từ cảm xúc trước tác phẩm, trước cuộc sống. Đó là đặc thù trong quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Mối quan hệ đó bao giờ cũng là mối quan hệ có tính chất cảm tính. Người nghệ sĩ chân chính nào cũng có khả năng cảm xúc rất nhạy bén trước đối tượng được thể hiện. Họ có khả năng lồng trí tưởng tượng vào trong quá trình sáng tạo cốt để thâm nhập sâu hơn vào bản chất của các sự vật.

  • NGUYỄN THỤY KHACó thể nói, khi có loài người là có âm nhạc. Thực ra những âm thanh trong thiên nhiên, vũ trụ có trước loài người. Nhưng loài người không chỉ nghe được nó như loài thú chỉ đạt tới cảm xúc, mà còn nhận thức nó, bắt chước nó để tạo ra những âm thanh của mình. Một cành cây hay một khúc xương, người làm ra cây sáo. Sợi dây cung trở thành dây đàn. Một tấm da thú căng ra là thành cái trống.

  • MAI VYÂm nhạc là một bộ môn nghệ thuật có nhiều loại hình phong phú và đa dạng, từ làn điệu dân ca mộc mạc, từ nét nhạc tấu đơn giản của cây đàn nghiệp dư, đến những bản a-ri-a hết sức phức tạp trong ô-pê-ra hay các hình thức âm nhạc giao hưởng khác nhau như liên khúc giao hưởng, Trường ca giao hưởng.

  • NGUYỄN THỤY KHAVới độ dày gần nửa mét, gồm 7 quyển sách chia làm 5 tập (có tập 2 và tập 5 gồm 2 quyển) và bìa sách trình bày đẹp, trang trọng, bộ sách “Hợp tuyển tài liệu Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX” là bộ sách âm nhạc đồ sộ và công phu nhất của ngành âm nhạc từ trước đến nay do Viện Âm nhạc Việt chủ biên và ấn hành vừa giới thiệu trước công luận gần đây.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã gần một năm, Anh từ biệt trần gian về cõi vĩnh hằng, tâm tưởng tôi vẫn vấn vương với Anh, vẫn luôn mường tượng thấy Anh với nụ cười tươi tắn, rất hồn nhiên, lại nhiều lúc thấy Anh đang mơ màng chìm trong một thế giới riêng tư xa thẳm nào đó.

  • NHẤT LÂMVâng.Ca khúc thời ấy thật hào hùng, sôi sục và đầy lãng mạn.Đó là đêm trước của tháng Tám năm 1945, những năm tháng của phong trào Việt Minh chuẩn bị cho ngày toàn dân vùng lên đánh đổ mọi thế lực thù địch để giải phóng dân tộc, đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Và cái mốc đó, theo tôi là từ ngày cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) năm 1941.

  • VIỆT ĐỨCVề với Trường Sơn, về với kỷ niệm của một thời khói lửa đạn bom là tiếng lòng, là tâm nguyện của nhiều hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30/4/1975. Và sau gần 30 năm, mùa xuân 2004, tâm nguyện ấy đã trở thành hiện thực khi kỷ niệm của một thời chiến tranh cứ ào ạt ùa về theo bước chân các nhạc sỹ trở lại tuyến biên giới miền Tây A Lưới.

  • PHAN THUẬN THẢOGagaku - Nhã nhạc - là loại hình âm nhạc cung đình của Nhật Bản, đối lập với Zokugaku, tức âm nhạc dân gian. Thuật ngữ Gagaku được tiếp thu từ Trung Hoa cùng với sự tiếp nhận một bộ phận các nhạc khí và bài bản từ hệ thống âm nhạc cung đình phong phú và đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn và giàu truyền thống văn hoá.

  • LÊ PHÙNGThế là không còn phút giây mong ngóng, đợi trông - “Ngày em đến đôi mắt long lanh, thơ ngây mơ màng, ngày em đến đôi má hây hây hương thơm nồng nàn...” Bởi chàng nhạc sĩ lãng tử ấy đã ra đi, về với cõi vĩnh hằng. Còn đâu nữa bóng hình của gã si tình say mê, đợi chờ ngày em đến.

  • Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một tên tuổi nổi tiếng như một nghệ sĩ đa tài Cầm Kỳ Thi Họa trong làng văn học nghệ thuật Việt . Ông là Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà Văn Việt Nam, người sáng lập và phụ trách tờ báo Thơ, nay là tạp chí Thơ; ông cũng là một trong những ngưới sáng lập ra Ngày Thơ VN.

  • DƯƠNG BÍCH HÀĐến hẹn lại lên - Festival Huế 2006 đã cận kề. Năm nay, ngoài các loại hình dân ca, dân nhạc, dân vũ; các lễ hội, kịch, tuồng... đặc sắc của Huế, ban tổ chức (BTC) Festival nhấn mạnh một số trọng tâm như: Giao lưu nhã nhạc Việt Nam - Nhật Bản - Hàn Quốc; không gian văn hoá cồng chiêng (nhân cồng chiêng được công nhận là di sản văn hoá); có dàn giao hưởng dân tộc; chương trình thử nghiệm đưa âm nhạc điện tử, nhạc Jar của Pháp kết hợp với âm nhạc truyền thống Huế, âm nhạc Phật giáo; và chương trình âm sắc Việt...

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGCó ngày bỗng dưng thấy lòng thật quạnh hiu. Một nỗi cô đơn nào đó khôn tả xâm chiếm tâm hồn. Tôi đi hoài, lang thang vô định trên những con đường phố Huế xanh xao ánh đèn vàng, bất chợt lòng vang lên giai điệu quen thuộc một ca khúc nào đó của Trịnh Công Sơn. Tự hát cho riêng lòng mình và thấy nỗi buồn vơi đi, lòng cơ hồ bằng an và niềm vui trở lại.

  • NGUYỄN VIỆT ĐỨCQua tiến trình phát triển của lịch sử âm nhạc thế giới, riêng trong lĩnh vực ca khúc chúng ta đều biết có những ca khúc là của mọi thời đại, có những ca khúc chỉ của một thời, có những ca khúc chỉ của một dòng nhạc phục vụ cho nhu cầu của một lớp công chúng riêng nào đó, có những ca khúc lại phù hợp với khá nhiều lứa tuổi và đông đảo công chúng, có những ca khúc chỉ của một vài ngày, có những ca khúc mãi mãi nằm trên giấy...

  • NGUYỄN THỤY KHAĐọc Dòng nước trong (Ca khúc Bích Anh), Nxb Đà Nẵng, 2006

  • HOÀNG DIỆP LẠCCó sự gắn kết nào đó gần như là định mệnh giữa hai con người Trịnh Công Sơn và Nguyễn Xuân Hoàng. Sơn và Hoàng có cùng quê quán ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Và cả hai đã sinh ra ở miền cao nguyên, nơi bụi đỏ và sương mù hoà trộn, tạo thành những hạt huyết dụ trôi chảy theo các mạch máu trong thân thể của những con người xứ bụi mịt mùng.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG(Kỷ niệm 6 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 1/4/2001 - 1/4/2007)Với dòng - sông - Trịnh, đi về biển rộng là một cuộc hành trình trở về với nguồn cội. Dòng sông tìm về biển cả để thấy được sự mệnh mông, hùng vĩ và tuôn trào của biển cả. Tuy nhiên đấy cũng là sự bắt nguồn cho những vết xước trầm tích trong lòng người ở lại - như cọng rễ hoang nay mới đủ sức đâm lên một mầm nhói!

  • NGUYỄN THỤY KHAVào khoảng năm 1962 ở miền Bắc, bỗng rộ lên một bài tình ca ngắn mang tên “Giã từ”. Bài hát được truyền miệng rộng rãi và nếu có ai đó ký âm thành văn bản thì đều ghi là bài hát Liên Xô (CCCP).