Sự viết: những quy ước và cảnh báo

09:04 21/08/2011
TRẦN THIỆN KHANH Chúng ta sống trong một thế giới đầy những quy ước. Có quy ước công khai, thành văn; có quy ước ngầm, bất thành văn. Quy ước nhiều và có sức mạnh đến mức chúng ta tưởng chính nó làm ra chúng ta.

Nhà phê bình Trần Thiện Khanh - Ảnh: vanhocquenha.vn

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if !mso]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Không thể kiểm soát nổi những quy ước bao bọc, điều chỉnh, chi phối và tiên quyết từ cách nhìn, suy nghĩ đến lời nói, hành động của mọi người. Chúng ta thường xuyên phải đối mặt và buộc phải chấp nhận những quy phạm, những bản “cương lĩnh tinh thần” trong hệ thống xã hội mà mình đang sống, đang hoạt động. Những luật lệ, khoán ước và các cảnh báo cấm kỵ; những quy chế, điều lệ và các phong tục; sự thỏa thuận, những thiết chế, chuẩn mực… tất cả những cái đó tạo thành một phần sự sống, tham gia cấu trúc sự sống. Nó in dấu vào tiềm thức, tạo thành các thói quen - cái “lịch sử tinh thần” chung, những mẫu ứng xử chung mà nhiều khi chúng ta vẫn mặc nhiên tuân theo, thuận theo không do dự.

Chính sự quy ước tạo ra các giới hạn, thực hiện chức năng khu biệt hóa các không gian, ý nghĩa, các giá trị, đẳng cấp, điều chỉnh các mối quan hệ. Chính sự quy chế hóa mọi hoạt động của con người đã tạo ra một thế giới có những nguyên tắc, cơ chế vận hành riêng, có tôn ti, trật tự chặt chẽ. Chúng ta không phải lúc nào cũng được hiện diện trong tư cách một chủ thể tự chủ. Có thể, mỗi chúng ta chỉ là những người nói, mang theo những tiếng nói đại diện đặc biệt nào đó; là những người chức năng, chỉ hành động theo những quy chế mà bản thân mình không có quyền tham gia đặt định nó. Sự viết và sự nói của chúng ta cũng vậy. Những ai được nói, nói cái gì, nói như thế nào, những lời nói của ai có giá trị và trở thành chân lí; những lời nói nào và của ai không đáng tin cậy; những văn bản nào được gọi là văn chương còn cái nào thì không phải văn chương... đều có quy ước cả. Bất kỳ sự viết, sự nói nào, bất kỳ sự tạo thành văn bản nào cũng bị bao bọc trong các quy chế, các quy ước phát ngôn nhất định. Mỗi thời đại, mỗi xã hội, mỗi nền văn hóa, mỗi vùng miền, mỗi cộng đồng hay nhóm người,… đều có những quy chế, những quy ước phát ngôn dành cho nó, và đặc trưng cho nó.

Để hiểu rõ những quy ước phát ngôn chúng tôi dừng lại phân tích một văn bản hành chính. Cách đây không lâu, trong văn bản Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí được công bố rộng rãi, người đứng đầu một cơ quan hành chính và hành pháp đã thiết đặt những quy định cụ thể về việc phát ngôn và cung cấp thông tin. Ở đó, người ta quy định rõ ai được phát ngôn(*). Chẳng hạn người phát ngôn và cung cấp thông tin chính thức của Bộ Tư pháp là Chánh Văn phòng Bộ Tư pháp; người phát ngôn chính thức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là Chánh Văn phòng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch… Như vậy, người phát ngôn trước hết phải là người có thẩm quyền hoặc được trao thẩm quyền nói. Đó là một người nói, có vị trị xã hội nhất định, một người có tên riêng nhưng trong quy ước chung cái tên đó lại được sử dụng như một kí hiệu. Nghĩa là anh ta bị đánh dấu, bị quy chế hóa. Vấn đề đáng chú ý ở đây là người phát ngôn có thể chỉ là một người nói đơn thuần, người mang thông tin vô bản sắc; qua anh ta một nội dung phát ngôn nào đó sẽ được truyền dẫn, sẽ được tiếp nhận, thi hành và có hiệu lực. Chúng tôi cho rằng người phát ngôn không phải lúc nào cũng là chủ thể phát ngôn. Bởi vì nội dung được nói, thời gian được nói, trọng lượng lời nói… không phải trong mọi trường hợp đều do anh ta quyết định. Người phát ngôn có thể chỉ là một chức năng, một kẻ nhân danh, một vai nói, thậm chí là hiện thân của một quan điểm, một cái nhìn, một lập trường nào đó. Anh ta với tư cách là một chủ thể tự chủ đã chết. Người phát ngôn trở thành người đại diện, người nhân danh khi anh ta bị biến thành một phù hiệu, anh ta thuộc về một hệ thống chính trị xã hội văn hóa nào đó, và không có quyết định nội dung, hình thức phát ngôn: anh ta được lựa chọn bởi một quyền thế bên ngoài phát ngôn, anh ta tồn tại phục tùng quyền uy. Người phát ngôn chỉ trở thành một chủ thể phát ngôn khi anh ta có thẩm quyền quyết định nội dung và hình thức phát ngôn của mình, anh ta sinh ra cùng phát ngôn chứ không phải từ trong quyền lực. Đó là một cá nhân tự chủ không bị biến dạng bởi quyền lực, anh ta chủ động xưng danh - xưng tôi mỗi khi xuất hiện chứ không phải chỉ là đáp ứng lại sự đòi hỏi. Chủ thể phát ngôn bộc lộ rõ nhất bản thân nó trong cái tâm thế chống đối (chống đối các quy ước, các quy chế, các thao tác của quyền lực), trong trạng thái hoài nghi (các chân lí, quyền lực,…) trong sự tự ý thức khám phá và xây dựng bản thể của mình, nó tự chịu trách nhiệm đối với bản thân nó và với xã hội, nó đại diện cho chính nó chứ không phải đại diện cho một nhóm xã hội hay một tập thể nào. Chủ thể là kẻ sáng tạo ra thế giới, có tham vọng làm biến đổi những mối liên hệ xã hội mà nó đã sống qua. “Để cho chủ thể cá nhân xuất hiện… phải để cho cá nhân thấy được Cái Mình trong bản thân nó, đồng thời có ý chí trở thành chủ thể” (A. Touraine). Theo quan điểm này, thì chẳng hạn ở Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Thánh tông di thảo của Lê Thánh Tông, Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, Điểu thám kỳ án của Trương Văn Chi,… chỉ có người nói, giọng nói mà không có chủ thể phát ngôn. Các truyện ngắn Chí phèo, Lão Hạc, Dì hảo… của Nam Cao, Hai đứa trẻ, Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam; Số đỏ của Vũ Trọng Phụng… cũng thuộc vào số văn bản chưa có chủ thể phát ngôn. Người kể trong các văn bản tự sự đó chỉ là những đại lý, là một trạm phát thanh, là những người nói được nhà văn và thời đại anh ta bỏ phiếu.

Người phát ngôn là kẻ đại diện cho một hệ thống nhất định. Tính chất cá nhân cá thể của anh ta trong thể loại lời nói công vụ luôn bị quyền lực của hệ thống ấy tái tạo lại, hoặc làm cho nó nhòe mờ đi, những gì là bản sắc trong lời nói của anh ta sẽ bị gột rửa sao cho chúng trở thành trung tính, khách quan ở mức cao nhất, nghĩa là cái bản thể của anh ta bị ý thức hệ nuốt mất. Roland Barthes có lí khi cho rằng văn chương cũng là thứ không gian trung tính, trong đó mọi chủ thể đều mất hút; văn chương như là hố đen nhấn chìm mọi bản thể, trước tiên là bản thể của người cầm bút viết.

Thế giới chúng ta sống được lấp đầy bởi những quy ước. Chúng ta không ngừng đặt ra các quy ước, đưa các quy ước ấy vào cuộc sống, rồi bị ràng buộc bởi chính các quy ước, thậm chí phải bám chặt vào nó để tồn tại, hoạt động. Tên gọi các sự vật hiện tượng và tên của mỗi người có tính quy ước riêng; ngay cả những mã tri thức chúng ta đang dùng trong mỗi lĩnh vực cũng có bản chất quy ước. Chúng đều được hợp pháp hóa, chính thống hóa hoặc quy phạm hóa theo một cách nhất định để có sức mạnh “điều khiển khung cảnh cảm nhận, sự trao đổi, hình thức cảm nhận và tái tạo, các giá trị và các bậc thang” của cả một nền văn hoá. M. Foucault khẳng định “các nhà tự nhiên học, kinh tế học, ngữ pháp học sử sụng những quy tắc giống nhau (mà họ không biết) để xác định đối tượng nghiên cứu của mình, để tạo ra khái niệm, xây dựng các lí thuyết”. Ngôn ngữ được dùng như một quy ước chung. Nhờ có quy ước ngôn ngữ mà chúng ta thông hiểu nhau, trao đổi được với nhau.

Ngôn ngữ mang trong nó những quy ước, những tập tục, nó là một kí hiệu. Nhà văn sáng tác trong thế giới các quy ước, các kí hiệu. Công thức văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí… xét cho cùng là những quy ước phát ngôn. Những quy ước này điều khiển sự tạo thành và diễn giải các diễn ngôn văn chương trung đại. Những định đề như văn học là vũ khí chiến đấu, văn học có tính nhân dân, tính giai cấp… ở thời cận - hiện đại cũng có ý nghĩa tương tự, nó là một cách quy chế hóa phát ngôn văn học, mà công việc “kiểm duyệt văn học” và việc đặt ra các điều luật liên quan đến nó chỉ là một trong những hình thức kiểm tra sự thực thi quy chế phát ngôn, uốn nắn lại các phát ngôn. Thể loại văn học nào cũng có một hệ quy ước của riêng nó. Bất kỳ sự phân chia thể loại nào cũng đều dựa trên những định nghĩa có tính chất quy ước nhất định. Sáng tác theo một thể loại nào đó là một hành động tự động và gần như một bản năng hơn là một sự lựa chọn thể hiện cá tính của tác giả. Nhà văn dễ bị hòa tan ngay trong cái thể loại mà nó cố gắng đặt vào đó những giọng nói không rõ nguồn gốc. Thể loại nằm cùng trên một hàng với sự viết, nó là một nghi thức của sáng tạo văn chương, “là sản phẩm tự nhiên của thời đại” và vì vậy nó mang tính áp đặt, tính khuôn mẫu. Nó ôm chụp lấy nhà văn. “Nhà văn không được quyền lựa chọn cách viết của mình trong một kho chứa phi thời gian của các hình thức văn học” (R. Barthes). Nhà văn sáng tác trong rất nhiều giới hạn, chịu áp lực của “những lối viết vẫn còn đầy ắp ký ức”, chịu sự kiểm soát và quy định của thiết chế văn hóa - chính trị hiện hành. Không phải anh ta thích viết gì thì viết và nói thế nào cũng được. Anh ta phải chọn cách nói như thế nào đó để có thể được chấp nhận, được hợp thức hóa và được hiểu. Nghĩa là anh ta tham gia vào một cuộc chơi có quy tắc, quy ước sẵn. Anh ta không hoàn toàn tự do, anh ta đánh mất tính tự chủ trong sự tự kiểm duyệt, biên tập, phải im lặng. Nói cách khác, anh ta chỉ được tự do trong khuôn khổ đã định sẵn, anh ta luôn đi trong rợp bóng các quy ước, các thiết chế, các đại tự sự. Viết như một hành động vô thức kí tên công nhận các quy ước, quy chế của văn học, của xã hội. Viết là đối mặt với những cảnh báo, những quy định đã và đang trở thành một chế độ bao bọc nó.

Sự thực thi những quy ước, quy chế phát ngôn như trên là một hình thức đưa đến cái chết của tác giả. Cái chết ở đây được hiểu là sự biến mất của chủ thể tự chủ trong các phát ngôn của nó; là sự đánh mất uy lực lớn lao của tác giả trong cái văn bản mà anh ta đương trình tấu trước công chúng; là kết quả của sự khống chế văn bản từ phía các quy chế, các luật lệ đang thịnh hành.

Cũng cần thấy rằng, sự kiện tác giả bị “bức tử” diễn ra chủ yếu ở trung tâm của văn học, còn ở đâu đó bên lề, ở ngoại biên vẫn diễn ra sự hình thành chủ thể phát ngôn tự chủ. Sự vận động của toàn bộ nền văn học Việt Nam 1954 - 1975 chịu ảnh hưởng của cuộc đấu tranh ý thức hệ gay gắt, giữa hai miền Nam Bắc và trong nội bộ mỗi miền. Cuộc đấu tranh của nhóm Nhân văn, Giai phẩm ở miền Bắc, trên thực tế, đã làm xói mòn sức mạnh của ý thức hệ chính thống, đe đọa lật nhào những quy chế phát ngôn đang thống trị, điều khiển sự hoạt động của các văn bản văn chương. Đó là sự chống lại “cái chết của tác giả”; chống lại cái chết của cái tôi chủ thể trước hiện thực bị quy chế hóa và trước các văn bản phi văn học khác; chống lại sức mạnh thống nhất của một lối viết đang trị vì. Phong cách cá nhân ra đời không phải từ sự tuân thủ vô điều kiện những quy ước, mà từ sự chống lại các quy ước, các quy chế phát ngôn chung. Nhà văn có phong cách là người không răm rắp tuân theo những mệnh lệnh và răn cấm của hệ tư tưởng thống trị, anh ta dám “nghi vấn cái lẽ phải của ngôn ngữ lôgíc và liên hệ nhân quả được chấp nhận chung” (M. Foucault). Đọc văn lúc đó trở thành đọc những phá cách, đọc những sự lệch chuẩn, đọc những cuộc phiêu lưu tự do, đọc những kiến tạo chống lại tính hợp nhất của sự quy chế hóa phát ngôn. Đọc văn lúc đó là khoái cảm đi tìm lối viết trung tính, vô sắc.

T.T.K

(270/08-11)



--------------------
(*)
Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước hoặc người được người đứng đầu đó giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin




Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.

  • JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.