Nhà văn Atiq Rahimi - Ảnh: internet
Hiện ông đang biên tập lại một tiểu thuyết khác của ông “A Thousand Rooms of Dreams and Fear - Một ngàn căn phòng dành cho những Giấc Mơ và Sợ Hãi” để dựng thành phim. Từ 2001 Rahimi đã trở về Afghanistan để tổ chức một Nhà Sáng Tác ở thủ đô Kabul để giúp đỡ và đào tạo các nhà làm phim và nhà văn trẻ Afghanistan. Ông sống tại Paris, Pháp. Truyện ngắn dưới đây nguyên bản tiếng Pháp, được Edward Gauvin dịch sang Anh ngữ và tạp chí WordsWithoutBorders số tháng 4/2010 giới thiệu. Bản dịch tiếng Việt theo Edward Gauvin. “Sự trở về tưởng tượng” gắn với cảm hứng từ lưu đày và quê nhà với nghiệp văn chương. Mô típ “ra đi” và “trở về” , kiểu kể chuyện phân thân song trùng giữa người kể chuyện tôi và nhân vật, chất thơ trong ngôn ngữ tạo nên vẻ đẹp đặc biệt của thiên truyện trong việc phơi tả một khía cạnh của đất nước Afghanistan giữa áp bức, chiến tranh và giấc mơ hòa bình, tự do. ATIQ RAHIMI Sự trở về tưởng tượng Năm 1984 Đêm. Đêm thứ chín. Đêm tịch lặng nhất, ngột ngạt nhất. Dưới màu trắng của tuyết, trong cái tăm tối của thời gian, tứ bề không thể nhận định được. Đêm. Đêm thứ chín. Tay buôn lậu đã nói: - Vào đêm thứ chín, mình sẽ vượt biên giới. Bí mật, lặng thầm, chúng tôi đến gần biên giới. Tất cả những người tị nạn, đang rời đất mẹ. Mỗi người vì một người, một việc, một lời… Đêm. Đêm thứ chín. Chúng tôi đến vị trí cửa ngõ. Tay buôn lậu kêu lên: - Dừng lại. Hãy nhìn lại. Mọi người dừng lại. Mọi người nhìn lại. - Đây là cái nhìn quê hương lần cuối cùng. Đất mẹ, dưới màu trắng của tuyết, trong cái tăm tối của thời gian, đã trở nên không thể nhìn thấy. Không có gì ngoài những bước chân của chúng tôi. Mọi người khóc. Chúng tôi chạy tới biên giới. Một người trong số chúng tôi bị chậm lại. Anh ta dừng lại. Anh là một người nhỏ con. Anh không có túi xách và đã luôn luôn đi chậm hơn, với nhiều khó khăn hơn những người khác. Người đàn ông ngồi dưới chân một tảng đá. Tôi đến giúp anh đứng dậy và chạy theo những người khác đến biên giới. Anh thản nhiên nói: - Để đi tới đâu? - Vượt biên giới! - Để làm gì? - Vậy sao anh còn đi tới đây? - Vì chữ nghĩa. Tôi mang tất cả chữ nghĩa đi cùng tôi trong chuyến này, để mang chúng vượt qua biên giới. Chữ nghĩa? Những chữ nghĩa gì? Tôi đang suy nghĩ thì người đàn ông đáp lại sự hoang mang của tôi. - Đối với thơ ca, tôi giấu sự kinh hoàng và áp bức vô nghĩa trong chiều sâu của cái nhìn của tôi. Như bây giờ, khi người buôn lậu bảo chúng ta nhìn lại - chúng ta nhìn lại và khóc - từ ngữ rớt lại cùng nước mắt của tôi. Chúng chuồi trên đất. Chúng biến trong tuyết. Không có chúng, tôi sẽ là một người nước ngoài ở bất kỳ nơi đâu tôi đến, nước ngoài còn hơn những người nước ngoài. Tôi trở lại chỗ người đàn ông đã khóc. Nước mắt của anh làm tan tuyết và mềm đất. Tôi bốc một nắm đất và trở lại với người đàn ông, anh ta cho tôi một nụ cười cay đắng. Anh nói: - Từ ngữ có thể không còn bị chia rẽ với đất đai. Anh tựa lưng vào tảng đá và ra hiệu anh muốn ở một mình. Nhưng tôi vẫn đứng trước anh, bất động. Người đàn ông vẫn cười. Nụ cười của anh lấn chiếm tôi. Tôi sắp bắt đầu chạy về phía biên giới thì anh nói: - Tên tôi là Atiq. - Atiq! Anh trùng tên với tôi hay là anh em sinh đôi của tôi? - Không trùng tên mà cũng không sinh đôi. Anh chỉ mang tên tôi. Tôi sợ. Tôi bỏ anh ta ở đó và bắt đầu chạy. Vượt qua biên giới tôi thấy một dải đất phủ tuyết, trắng như một tờ giấy. Không một dấu vết. Không một từ ngữ. Lề của nó lạc trong bóng tối của thời gian. Năm 2002 Ngày. Ngày thứ tám mươi mốt. Đất vẫn còn đông cứng. Đất rạn dưới những bước chân của chúng tôi. Ngày. Ngày thứ tám mươi mốt từ khi Đội Quân của Bóng tối - quân Taliban - đã rút khỏi Kabul. Và mỗi ngày, tôi đến phi trường để đón mừng những người trở lại quê hương. Mỗi ngày, chờ đợi một người, một cái nhìn, một lời nói… Ngày. Ngày thứ tám mươi mốt, thì anh ta xuống máy bay. Với vẻ buồn đau anh ta nhìn tất cả những khuôn mặt bất thường, buồn. Tôi đến bên anh. - Mừng anh về, người anh em. Một nụ cười run run trên môi anh. Cái nhìn tò mò của anh chìm trong những túm râu dày sợi đen sợi trắng của tôi, như thể đánh giá tôi. Tôi đỡ túi xách của anh: - Nặng quá! - Đó là đồ nghề nhiếp ảnh. - Anh là nhà báo? - Không. Còn anh? - Tôi giúp đỡ các du khách có hành lý cồng kềnh. Một chiếc xe trung chuyển nhỏ đến đón khách ở chân cầu thang và đưa họ vào ga. Mọi người lên xe. Người lái xe mở một bài ca của Ahmad Zahir. Hãy đến xem, vườn hồng đang nở Hãy đến xem, người tôi yêu đã đến. Đó là một bài thơ của Mawlana và giọng của Ahmad Zahir quyện lấy tiếng thổn thức của người đàn bà bên cạnh tôi. Thành phố sẽ đứng lên khi tiếng đồn lan rộng Rằng con người điên đã bức xích xiềng một lần nữa. Người khách của tôi, buồn hơn bao giờ hết, nhìn những tàn tích phi cơ hoen rỉ rải rác trên mặt đất chung quanh phi trường. Xe trung chuyển dừng. Chúng tôi đang xuống xe thì người khách của tôi dừng ngay cửa xe, bị thu hút bởi câu gì đó viết trên kính chắn gió phía người tài xế. Điều này rồi cũng sẽ trôi qua. Tôi đọc lớn câu đó. Người khách rời những từ ngữ và quay lại tìm cái nhìn của tôi. Tôi tiếp tục: - Ngày xưa có một ông vua. Một ngày nọ, vua ra lệnh cho một nghệ sĩ của vương triều sáng tạo một tác phẩm sẽ làm cho ngài vui khi ngài buồn và buồn khi ngài vui. Người nghệ sĩ làm một chiếc nhẫn trên đó có khắc những từ ngữ này. Điều này rồi cũng sẽ trôi qua. Chúng tôi rời xe trung chuyển. Bối rối hơn bao giờ hết, người khách đăm đăm nhìn tôi tìm một manh mối. Tôi tiếp tục: - Câu này đã đi cùng chúng ta suốt hai mươi ba năm chiến tranh. Niềm vui và nỗi buồn của chúng ta cùng nó đã còn lại. Chúng tôi đến trạm hải quan. Người khách lấy sổ thông hành ra đưa cho người phụ trách, anh ta hỏi: - Tên? - Atiq. - Quốc tịch? - Pháp. Anh ta cho tôi một nụ cười cay đắng. Tôi nói nhỏ vào tai anh: - Tên tôi cũng là Atiq. Khuôn mặt thất sắc của anh ta chợt sáng lên. Anh sắp nói điều gì đó, nhưng tôi chận lại: - Không, anh không trùng tên mà cũng không là anh em sinh đôi của tôi. Anh chỉ mang tên tôi, người ra đi để bị lạc ở bên kia biên giới, trên lề của thời gian. VÕ HOÀNG MINH dịch (Imaginary Return) (259/9-10) |
Tải mã QRCode
TÔN THẮNG LỢI (Trung Hoa)
Nền xi măng phòng làm việc đang còn những vệt ẩm của chiếc giẻ cọ sàn. Như thường lệ mọi buổi sáng, tôi tự dọn dẹp lấy phòng làm việc. Một lối sống giản dị, có phần khắc khổ. Mà không cần phải phô trương, cuộc cách mạng văn hóa đã kết thúc.
RAPHAEN XÔLE (Cu Ba)
Khi con người mở mắt ra (nỗi sợ hãi đã buộc chúng khép lại), thì việc đầu tiên mà anh ta trông thấy là cái hố có đường kính hai mét và một vòng tròn nhỏ màu xanh nằm cao chừng mười mét ở phía trên.
ALICE MUNRO
LGT: Alice Munro sinh ngày 10 tháng bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, với tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là cô giáo.
LGT: Romain Gary tên thật là Romain Kacew, sinh năm 1914 tại Moskva và được nuôi dưỡng bởi một người mẹ đã đặt rất nhiều kỳ vọng nơi con trai mình. Năm 14 tuổi, ông theo mẹ đến Pháp và định cư tại Nice.
IURI BONDAREP
Lần đầu tiên, chúng tôi nhìn thấy cô ta ở cạnh bàn bóng bàn ở sân hành lang nhà an dưỡng. Cô mặc chiếc áo len dài tay màu xanh, chiếc váy thật thẳng nếp, mái tóc màu sáng được cắt ngắn, và cứ mỗi lần vụt rơkét cô lại hất mạnh những sợi tóc vương khỏi trán. Những lúc như vậy, đôi mắt nâu đen của cô lại mỉm cười.
O.HENRY
Rất lâu trước khi bụng dạ lờ đờ của anh nhà quê cảm nhận được hơi xuân thì tay thị dân ấy đã biết rằng bà chúa xanh màu cỏ ấy đã lên ngôi.
LTS: Trong 24 bài trong tập Cỏ dại của nhà văn Lỗ Tấn do GS. Trần Đình Sử dịch, Sông Hương số tháng 10 năm 2011 đã giới thiệu đến bạn đọc 3 bài “Sau khi chết”, “Sự giã từ của cái bóng” và “Sự run rẩy trên đường đồi bại”. Kỳ này Sông Hương xin giới thiệu tiếp với bạn đọc 4 bài chọn lọc từ Cỏ dại.
VILIAM KHÂYNÊXEN (Đan Mạch)
Khi Lêô tỉnh giấc, trong tai anh vẫn còn vang lên những lời của ông giáo sĩ giảng đạo.
LGT: Nhà văn, nhà nghiên cứu sử học và văn hóa Mỹ Jon Holmes sinh ra tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng công nghệ Texas nơi ông từng tham gia phong trào nhân quyền và phản chiến, Jon Holmes chuyển đến New York làm việc cho một tạp chí nhiếp ảnh và phụ trách một chương trình sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ hiện đại cho một đại công ty ở Bos- ton.
KNUT HAMSUN (*)
Do tôi viết. Viết vào ngày hôm nay cho trái tim vơi nhẹ đi. Tôi đã mất chỗ làm ở tiệm cà phê cùng những ngày sung sướng của tôi. Tất thảy mọi thứ, tôi đã mất hết. Và tiệm cà phê ấy là tiệm cà phê Mắcximilăng.
HENRY JAMES
(Tiếp theo Sông Hương số 290 tháng 4/2013)
Một buổi sáng (tôi cho là ở gần La Spezia) Harold đang vẽ bên gốc cây, không xa quán trọ, tôi ngồi cạnh, lớn tiếng đọc Shelley(18) - người có thể chứng tỏ được trìu mến hơn bất cứ ai.
ELENA PUCILLO TRUONG
Nỗi khắc khoải đã kéo dài từ bao lâu?
Có lẽ một năm. Quá nhiều. Lấy cớ đi vào toilette, hai tay tôi nắm chặt chiếc bồn rửa mặt trong nhà hàng như muốn bẻ làm đôi. Bao nhiêu bức bối đang dồn vào trong... bao nhiêu đau đớn... đau đến nỗi tôi không dám ngẩng mặt nhìn bóng mình trong gương.
Henry James (1843 - 1916), nhà văn Mỹ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình văn học; đặc biệt yêu văn học và nghệ thuật Pháp. Ông định cư ở Londres, Anh từ 1876. Tác phẩm: 112 truyện ngắn (1864 - 1910), Toàn tập (1990 - 2009), nội dung thể hiện ở nhiều chủ đề như: ý thức, tâm lý, mơ mộng, tình cảm, vẻ đẹp, chân lý nghệ thuật.
FRANÇOIS CHENG
(Trích từ tác phẩm Khi những linh hồn lang thang trở về)
Dưới gầm trời này, dưới cái gầm trời rất thấp này, tất cả đều có thăng có trầm, tất cả đều bị biến đổi. Tác phẩm về Những đột biến đã chỉ rõ điều đó, tổ tiên chúng ta đã nói: “Cứ năm năm thì có chuyển biến nhỏ, cứ năm trăm năm thì có đại đột biến”.
L.T.S: Sherwood Anderson (1876 - 1941) là nhà văn lớn của Mỹ. Ông có nhiều tư tưởng tiến bộ, và thường tỏ thiện cảm với những lực lượng vô sản cách mạng Mỹ, đặc biệt là trong những năm 1931 - 1935. Truyện ngắn "Những ngọn đèn chưa thắp" (Unlighted Lamps) của ông dưới đây được liệt vào một trong những chuyện ngắn xuất sắc trong nền văn học Mỹ từ trước đến nay. Câu chuyện về bi kịch nội tâm của những con người không phá vỡ nổi bức tường ngăn cách giữa những tình thân và cho đến khi nhắm mắt vẫn chưa kịp thắp lên ngọn lửa thông cảm.
Elena Pucillo Truong là người Ý, Tiến sĩ Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài (Đại học Milano Italia). Cô dạy tiếng Pháp và Văn minh Pháp tại Milano từ năm 1982 và gần đây có dạy tiếng Ý tại Nhạc Viện, tại phòng lãnh sự danh dự Ý và tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM.
LGT: Etgar Keret sinh ngày 20/8/1967 tại Ramat Gan, Israel. Nhà văn nổi tiếng với truyện ngắn và kịch bản phim, có ảnh hưởng lớn tới lớp nhà văn trẻ hiện nay ở Israel.
L.T.S: Narayan là nhà văn miền Nam Ấn Độ, sáng tác bằng tiếng Anh. Sinh 10/10 năm 1906 tại làng Madras (mất 13/5/2001), từng sống ở thành phố Mysore cổ kính của quê hương ông.
Ferit Edgu sinh năm 1936, từng sống sáu năm ở Paris học chuyên ngành gốm. Trong nhiều năm ông là người viết kịch bản quảng cáo và rồi điều hành một nhà xuất bản. Sự vô lý của cuộc đời, những ám ảnh dục tính, sự sa đọa và sự bất hòa của người trí thức là những chủ đề của ông.
HEINRICH BÖLL (CHLB Đức)
(Heinrich Böll sinh 1917, mất 7-85 - giải thưởng Nôbel văn học 1972)