Sự tích bài thơ chống tham ô lãng phí của Phùng Quán

14:23 18/11/2008
LÊ GIA NINHNgày 10 tháng 10 năm 1955, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bừng lên niềm vui, ngập trong cờ, hoa và nắng thu. Những chàng trai ngày “ra đi đầu không ngoảnh lại”, trải qua cuộc trường chinh ba ngàn ngày trở về trong niềm vui hân hoan và những dòng “nước mắt dành khi gặp mặt” (Nam Hà).

Sau những giờ phút thiêng liêng, hồ hởi là những ngày tháng gian khổ, cam go. Nước Cộng hòa chiến thắng phải đối đầu với bao thử thách. Tổ quốc mới giành được một nửa, “nửa còn trong lửa, nước sôi” (Tố Hữu).
Ở miền Bắc, sau khi cuốn gói, thực dân Pháp đã để lại cảnh đói nghèo của hơn bảy mươi năm đô hộ và chiến tranh xâm lược; những “cánh đồng quê chảy máu; Dây thép gai đâm nát trời chiều (Nguyễn Đình Thi)”; những lô cốt, boong-ke, bom mìn rình rập trong lòng đất, những nhà máy bị đập phá, tháo gỡ... Tất nhiên là chúng còn để lại chín mươi lăm phần trăm người dân mù chữ, những tệ nạn xã hội khét mùi thực dân và những thế lực thù địch.

Miền Bắc phải gánh chịu trên vai số mệnh lịch sử giao phó: Xây dựng miền Bắc và thống nhất nước nhà. Kế hoạch “Năm năm khôi phục kinh tế”, “thắt lưng buộc bụng”, tích cực lao động xây dựng cuộc sống mới. Những cánh đồng hoang chằng chịt dây thép gai, cỏ dại, ngổn ngang đồn bốt, boong-ke, chiến hào được khai hoang phục hóa. Những nhà máy bị thực dân Pháp tháo gỡ, đặt mìn phá hủy được công nhân lấy máu mình để bảo vệ bắt đầu sản xuất. Trường học đã vang lừng tiếng hát...
Song bên cạnh những “đổi thịt thay da” ấy đã xuất hiện một khoảng tối. Nạn tham nhũng đã manh nha từ trong kháng chiến mà Bác Hồ đã phê chuẩn bản án cao nhất đối với một đại tá chủ nhiệm quân nhu, một thứ trưởng Bộ Nông nghiệp là một bằng cớ, lúc này có điều kiện nảy nòi, sinh sôi và giờ đây đã trở thành “quốc nạn”. Lúc bấy giờ, Phùng Quán đã dự báo “thói dối trá, đạo đức giả, tệ quan liêu tham nhũng, tuy ngày đó chỉ mới manh nha, nhưng tôi đã dự cảm sẽ là hiểm họa khôn lường đang rình phục nhân dân tôi; Đảng tôi; có nguy cơ làm băng hoại những gì thiêng liêng cao quý mà cả triệu người suốt thế kỷ qua không tiếc máu xương để tạo dựng, bảo vệ” (Khai từ - Trăng hoàng cung - PQ.).

“Văn nghệ là một mặt trận. Văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Bác Hồ). Lúc bấy giờ, các chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ được Đảng và Chính phủ yêu cầu đi thực tế “ba cùng với nhân dân” trong những ngày tháng khôi phục kinh tế đầy sôi động và cũng rất gian khổ để mài sắc vũ khí chống lại thù trong, giặc ngoài, ngợi ca “cuộc sống mới, con người mới”. Nhiều nhà văn lên Tây Bắc, Điện Biên đến với những chiến sĩ bạt núi, phá rừng, san bằng lô cốt, boong-ke để xây dựng nông trường, đến với những “chiến sĩ chon von trên chòi canh biên giới” (Lưu Trùng Dương), những chiến sĩ “hải đảo xa xôi đêm ngày sóng bủa”.

Phùng Quán về với những người nông dân Kiến An, Hồng Quảng, Định, Thanh Hóa... Giọt nước mắt nóng hổi của người con miền Nam, người chiến sĩ và nhà văn trẻ thấm ướt bờ vai sần sùi, chằng chịt vết sẹo của những anh hùng bị cực hình tra tấn từ địa ngục Côn Đảo trở về. Phùng Quán đã dâng hiến đứa con tinh thần “Vượt Côn Đảo” cho những người anh hùng vượt ngục, vượt đại dương và cho nhân dân mình. Không ngủ yên trong thành công, Phùng Quán hăm hở “đi với nhân dân thì thơ không thể khác” (Thơ P.Q). Anh về Hồng Quảng, Kiến An, Định... đau xót trước cảnh lúa, khoai, hoa màu bị luộc trên những cánh đồng ướp muối. Anh tham gia lao động cùng với nông dân, cùng với những “bà mẹ già quấn dẻ rách, da đen như củ cháy giữa rừng”, hai bàn tay rớm máu khi mở dây thép gai và san bằng lô cốt, boong-ke, công sự. Bữa ăn của họ toàn củ khoai tím vỏ.
định, nơi các anh thường đi qua có một công trình xây dựng đang bỏ dở. Hỏi ra anh mới biết đó là “Đài xem lễ” (Lễ đài để làm lễ, mít ting, có hội trường để hội họp) ngốn hết mười một triệu đồng rồi nhưng công trình bị rút ruột nên để dầm mưa, giãi gió. Thời ấy, lương của chị công nhân đổ thùng hai mươi bảy đồng tháng “vừa đủ nuôi con”. Nếu tính ra số tiền để dầm mưa, giãi gió ấy có thể cứu hơn bốn mươi vạn người đang ăn vỏ khoai trừ bữa ra khỏi cảnh đói nghèo.

Đi thấy, về thấy, cái “Đài xem lễ” đó như cái đinh chọc vào mắt anh, bắn vào tim anh.
Lệ thường, sau ngày làm việc mệt nhọc, anh thường lang thang với phố phường vừa đi vừa ngẫm nghĩ như đếm từng bước. Anh đã chứng kiến cảnh những chị công nhân vệ sinh trong cơn mưa phùn, gió bấc, rét như cắt da thịt, dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn bão múc từng thùng phân từ những hầm xí bị hư hỏng, xì hơi.
Mấy hôm liền, Phùng Quán bần thần như người ốm nghén. Đến cơ quan, gặp ai anh cũng lặng lẽ. Có người bảo: - “Phùng Quán mới có một “Vượt Côn Đảo” mà đã tự cao rồi”.
Khi chơi thân với nhau, xem tôi như người em ruột, anh mới kể về cái đêm anh viết bài thơ “Chống tham ô, lãng phí”:
- “Sau khi lang thang với phố phường về, mình mặc lại cái áo trấn thủ lính, đội mũ nan bọc vải kết dải ngụy trang, đính quân hiệu, đặt ống điếu thuốc lào như khẩu Bazoka, hướng nòng về phía trước, tay cầm bút, chân gác lên ghế trong tư thế xung phong... viết... viết... viết liên tục, từng chữ, từng câu như trào ra đầu ngọn bút. Ban đầu là những lời “ôn nghèo, kể khổ", rồi lời thề vang lên (“Tôi quyết rời bỏ... Tôi quyết đúc thơ thành đạn...”), rồi lao lên điểm xạ từng tên (“lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, bé, gầy”) rồi hô xung phong (“Trung ương Đảng ơi!...”). - Anh hóm hỉnh - “Mình là xạ thủ cấp kiện tướng trung đoàn mà - Viết xong, mình thiếp đi. Tỉnh dậy, trời đã sáng tự lúc nào”.

Anh định gửi bài thơ “Chống tham ô, lãng phí” cho báo Nhân dân bởi trong bài anh đã viết:
“Đến một ngày Đảng muốn phê bình tất cả
E phải nghìn số báo Nhân dân”.
Suy đi, nghĩ lại thế nào anh lại gửi cho báo Giai phẩm mùa thu (Nhân văn và Giai phẩm (mùa thu, mùa đông) là những tờ báo mới ra không bao lâu đã phải chịu số phận của người sinh ra nó).
Bài thơ ra đời đã gây xôn xao dư luận đặc biệt trong giới học sinh, sinh viên, nhà giáo, văn nghệ sĩ... Có người thuộc từng câu từng chữ. Có nhiều người lo ngại cho Phùng Quán. Một người bạn vỗ vai anh: - “Tuyên chiến sớm thế!”
Trong vụ án Nhân văn, bài thơ “Chống tham ô, lãng phí” không bị đấu tố. Bời bài thơ đã điểm xạ chính xác, không có lý để đánh trả. Khi bài “Lời mẹ dặn” in trên tuần báo Văn nghệ (1957), Phùng Quán mới bị phê phán trên báo chí. Khởi đầu là bài thơ “Lời mẹ dặn có phải là bài thơ “Chân thật” của Trúc Chi. Lời phê phán cũng chỉ bằng thơ, trong đó có câu: “Chúng yêu ai? Yêu đĩ điếm cao bồi”. Trúc Chi là tác giả của tập sách “Một đời văn”. Năm 1978, Phùng Quán tìm ra tập sách “Một đời văn” mới biết Trúc Chi là Hoàng Văn Hoan hồi ấy là ủy viên Bộ Chính trị TW Đảng đã cao chạy, xa bay.

Sau “vụ án chính trị Nhân văn, Giai phẩm”, Phùng Quán bị liệt vào một trong những tên phản động nguy hiểm và bị “cấm bút”. Bài thơ “Chống tham ô, lãng phí” tất nhiên cũng phải chịu số phận cùng tác giả.
Năm 1975, tiếp quản Bộ chỉ huy sư đoàn I ngụy, lục trong đống hồ sơ lộn xộn của ban II (ban An ninh quân đội), tôi bắt gặp tờ báo Tranh đấu của học sinh, sinh viên miền mà Ban II thu giữ để điều tra đàn áp. Trong tờ báo ấy, có in những bài thơ: Cô gái sông Hương của Tố Hữu; Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm; Nhất định thắng của Trần Dần; Màu tím hoa sim của Hữu Loan; Lời mẹ dặnChống tham ô lãng phí của Phùng Quán...
Tôi viết “Sự tích bài thơ Chống tham ô lãng phí của Phùng Quán” lúc Quốc hội khai mạc kỳ họp thứ VIII, khóa XI. Trong chương trình nghị sự có thảo luận và thông qua luật “Chống tham nhũng” sau một thời gian dài dự thảo, thảo luận, trưng cầu ý kiến của nhân dân. Thời gian này, báo Thanh niên mở trang “Tuyên chiến với lãng phí”.

Năm mươi năm về trước, với “Chống tham ô, lãng phí”, Phùng Quán đã tuyên chiến rồi. Và, anh đã bị giáng trả những đòn chí mạng, “đã trả giá cho thơ bằng ba mươi năm tốt đẹp của đời mình” (P.Q). Sau năm mươi năm, lời thỉnh cầu của anh được quan tâm. “Thượng phương bảo kiếm” sẽ được trao tay, đội quân đi trừ diệt tham nhũng sẽ được thành lập, mặt trận mở rộng, không chỉ hàng nghìn số báo Nhân dân mà triệu trang báo của nghìn tờ báo khắp trên đất nước thống nhất đã châm ngòi nổ. Chỉ tiếc rằng: “Đi trong đội ngũ tiền phong” của “đội quân đi trừ diệt” tham nhũng không có anh.
Nhân dịp lần giỗ thứ mười một của Phùng Quán, bài viết này thay nén hương báo tin mừng cho anh.
 L.G.N

(nguồn: TCSH số 203-204 – 01&02 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÊ ĐẠT     Cầm tên em đi tìm

  • VŨ NGỌC KHÁNH        (Trích tham luận: “Thử bàn về minh triết”)

  • LTS: Thế giới đang xuất hiện trào lưu phục hưng minh triết sau một thời gian dài chối bỏ. Ở Việt cũng đã hình thành Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Minh Triết thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt . Tiếp theo cuộc Hội thảo lần thứ I tại Hà Nội “Minh triết - giá trị nhân loại đang phục hưng”, cuối tháng 11.2009 tại Huế, Trung tâm đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “Minh triết Việt trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt”.

  • Giấy dó là sản phẩm thủ công của cha ông ta để lại. Xưa kia làng Bưởi có nghề làm giấy dó nổi tiếng. Giấy dó được dùng vào việc ghi chép văn bản chữ Hán nôm, viết bút lông mực tàu...

  • Sự phát triển của thực tiễn và lý luận nghệ thuật- dù ở đâu, thời kỳ lịch sử nào cũng vậy- thường phụ thuộc vào 3 nhân tố quan trọng và phổ quát nhất: Sự phát triển của khoa học và công nghệ; Những chính sách chính trị (trong đó bao gồm cả những chính sách về văn hóa và nghệ thuật); Những nhà tư tưởng và nghệ sỹ lớn.  

  • TRẦN HUYỀN SÂMClaude Lévi-Strauss là một trường hợp hiếm thấy và khó lặp lại trong lịch sử nhân loại. Lévi chính là một cú sốc đối với nền văn minh phương Tây. Lý thuyết của nhà cấu trúc học vĩ đại này là sự hạ bệ hùng hồn nhất đối với tư tưởng thống ngự và độc tôn của xã hội toàn trị châu Âu; và là sự biện minh sâu sắc cho một mô thức đa văn hóa của nhân loại.

  • LÊ THÀNH LÂNTrong 4 năm liền, Tào Mạt lần lượt cho ra đời ba vở chèo tạo nên một bộ ba chèo lịch sử với tiêu đề chung là Bài ca giữ nước, đều do Đoàn Nghệ thuật Tổng cục Hậu cần dàn dựng và đều được nhận những giải thưởng cao.

  • PHONG LÊĐó là: 1. Từ sự phân cách, chia đôi của hai thế giới - địch và ta, chuyển sang hội nhập, cộng sinh, có nghĩa là nhân rộng hơn các tiềm năng, cũng đồng thời phải biết cách ngăn ngừa, hoặc chung sống với các hiểm họa. 2. Từ cộng đồng chuyển sang cá nhân, cá nhân trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển, nhưng cá nhân cũng sẵn sàng nổi loạn cho các ước vọng thoát ra khỏi các chuẩn mực của cộng đồng. Và 3. Từ phong bế (ở các cấp độ khác nhau) đến sự mở rộng giao lưu, hội nhập với khu vực và quốc tế, với sự lưu tâm hoặc cảnh báo: trong đi tắt, đón đầu mà không được đứt gẫy với lịch sử.

  • ĐỖ HẢI NINH(Nhân đọc tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng. Nxb Phụ Nữ, H, 2009; tác phẩm nhận giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2009)

  • PHẠM QUANG TRUNGHiện nay, vấn đề đổi mới thi pháp đang được nhiều người cầm bút quan tâm. Xin ghi lại cuộc trao đổi mới đây giữa tôi (PQT) với một nhà văn (NV) về vấn đề bức thiết này.

  • (Theo bách khoa thần học New Catholie)THẨM GIÁ PHÊ BÌNH Việc thiết định giá trị phán đoán trong phê bình đã được kiểm thảo một cách nghiêm khắc trong thế kỷ XX. Chẳng hạn, người ta cho rằng phê bình đã vượt lên cả tầm vóc “viên đá thử vàng” trong việc thẩm giá hội họa để dẫn dắt thị hiếu thưởng thức hội họa của công chúng.

  • NGUYỄN ĐĂNG MẠNH(Kỷ niệm 70 năm ngày mất nhà văn Vũ Trọng Phụng 1939 - 2009)Trong lĩnh vực văn chương, tác phẩm không hay, không có giá trị nghệ thuật thì chỉ là con số không, chẳng có gì để nói, để bàn. Người viết ra nó, dù cuộc đời có ly kỳ thế nào, người ta cũng chẳng quan tâm.

  • ĐỖ LAI THÚYHòn đất cũng biết nói năng(Nhại ca dao)

  • HOÀNG CẦMĐang những ngày hè oi ả, mệt lử người thì anh ấy mời tôi viết Bạt cho tập thơ sắp muốn in ra. Ai đời viết bạt cho tác phẩm người khác lại phải dành trang giấy đầu tiên để viết về mình? Người ta sẽ bảo ông này kiêu kỳ hay hợm hĩnh chăng? Nhưng cái anh thi sỹ tác giả tập thơ thì lại bảo: Xin ông cứ viết cho, dẫu là bạt tử, bạt mạng, thậm chí có làm bạt vía ai cũng được - Chết, chết! Tôi có thể viết bạt mạng chứ sức mấy mà làm bạt vía ai được.

  • ĐẶNG ANH ĐÀOTrong tác phẩm nghệ thuật, phân biệt thật rạch ròi cái gì là ý thức, sáng suốt, tự giác với cái gì vô ý thức, tự phát, cảm tính không phải là điều đơn giản. Ngay cả những nhà văn lãng mạn như Huygô, nhiều lúc sử dụng nhân vật chính diện như những cái loa phát biểu lý tưởng của mình, thế mà đã có lúc Kessler bịt miệng lại không cho tán tụng nhân vật Côdet và mắng rằng: Huygô anh chả hiểu gì về tác phẩm ấy hết", đồng thời tuyên bố rằng ông còn thích Epônin gấp bội lần "Côdet, cô nàng điệu đàng đã tư sản hóa ấy".

  • ĐỖ ĐỨC HIỂU…Với tôi, Balzac là Tiểu thuyết, và Tiểu thuyết là Balzac, - tiểu thuyết Balzac là "tiểu thuyết tuyệt đối", tức là nó biểu hiện tất cả sức mạnh sáng tạo của ông, tất cả cái "lực" của ý thức và tâm linh, của khoa học và tôn giáo, từ cấu trúc truyện và thời - không gian (chronotope), đến cấu trúc nhân vật, tất cả phối âm, tương ứng với nhau thành một dàn nhạc hoàn chỉnh…

  • HỮU ĐẠTKhông phải ngẫu nhiên, Trần Đăng Khoa lại kết thúc bài viết về Phù Thăng một câu văn rất là trăn trở: "Bất giác... Tôi nắm chặt bàn tay gầy guộc của Phù Thăng, lòng mơ hồ rờn rợn. Chỉ sợ ở một xó xỉnh nào đó, sau lùm cây tối sầm kia, lại bất ngờ cất lên một tiếng gà gáy..." Ta thấy, sau cái vẻ tếu táo bên ngoài kia lắng xuống một cái gì. Đó là điểm gợi lên ở suy nghĩ người đọc.

  • HÀ QUANG MINHTôi không muốn chỉ bàn tới cuốn sách của ông Khoa mà thôi. Tôi chỉ coi đó là một cái cớ để bàn luận về nền văn học nước nhà hiện nay. Là một người yêu văn học, nhiều khi tôi muốn quên đi nhưng vô tình vấn đề nẩy sinh TỪ "CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI" đã trở thành giọt nước cuối cùng làm tràn ly và lôi tuột cái nỗi đau mà tôi muốn phớt lờ ấy. Phải, tôi thấy đau lắm chứ. Bởi lẽ ai có ngờ mảnh đất trong sáng mang tên văn học sao giờ đây lại ô nhiễm đến thế.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN(góp phần định nghĩa minh triết)         (tiếp Sông Hương số 248)

  • Việc giải quyết thành công mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính hiện đại đã hình thành ra các trường phái âm nhạc như: âm nhạc Nga, Pháp, Mỹ, Trung Hoa . . .