Sự thật về cái chết của Edop

10:43 16/09/2008
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Một hôm Edop đang làm việc tại vườn nho của ông chủ và đang ngẫm nghĩ về bài thơ ngụ ngôn sắp tới của mình về con cáo và con cừu non thì các quan chấp chính cho vời đến.
- Nghe này, Edop! – Một vị quan nói.
- Tôi xin nghe – Edop đáp.
- Chúng ta định phong cho nhà ngươi danh hiệu “viện sĩ” và đưa nhà ngươi vào biên chế của Viện hàn lâm khoa học Hy Lạp.
- Tôi không muốn làm viện sĩ – Edop băn khoăn đáp.
- Nhưng chúng ta đã quyết định rồi – các quan chấp chính ngạc nhiên nói.
- Của đáng tội, tôi sẽ làm gì tại Viện hàn lâm? Ai đời một nhà thơ châm biếm lại trở thành viện sĩ bao giờ?
- Chúng ta đã suy nghĩ kỹ về điều này… Nhà ngươi sẽ làm từ điển.
- Tôi ấy à? Từ điển gì?!
- Nhà người có thấy không, những bài thơ ngụ ngôn của nhà ngươi được lan truyền rộng rãi đến mức dân chúng ở khắp nơi đều nói bằng ngôn ngữ của nhà ngươi. Và vì thế mà chúng ta không thể tìm được tiếng nói chung với nhân dân. Nhà ngươi sẽ biên soạn cho chúng ta một cuốn từ điển ngôn ngữ Edop, và chúng ta sẽ biết được mọi người thực sự suy nghĩ gì để ứng xử cho phù hợp với ý muốn và nguyện vọng của nhân dân.
- Thế còn thơ ngụ ngôn?
- Thơ ngụ ngôn à? Ha… ha… ha nhà ngươi cứ việc viết. Không ai ngăn cản nhà ngươi làm việc ấy.
- Thôi được, nếu các ngài muốn đi tìm tiếng nói chung với nhân dân thì đó lại là chuyện khác! Edop bằng lòng và trở thành viện sĩ.
Edop vốn cần cù chăm chỉ và chẳng bao lâu sau đã biên soạn xong mấy tập từ điển ngôn ngữ Edop.

Thứ ngôn ngữ này đã được các quan chấp chính, các nhà quý tộc, các viên quan lại, các vị tư tế và các pháp quan, các vị lãnh chúa và các quan chức khác… quán triệt. Họ đã nắm được thứ ngôn ngữ của Edop và hễ nghe thấy có người nào ở nơi nào đó và vào lúc nào đó nói bằng thứ ngôn ngữ ấy thì họ lập tức hiểu ngay ý nghĩ thầm kín của con người, nỗi đau đầu bí ẩn nào đó đang giày vò họ và đã giải thoát cho con người khỏi nổi khổ ấy. Cùng với cái đầu của họ.
Sau khi một số nửa dân chúng được giải thoát khỏi bệnh đau đầu thì một số nửa dân chúng còn lại tự nguyện xin khước từ thứ ngôn ngữ của Edop.
Và các vị quan chấp chính lại tìm được tiếng nói chung với toàn thể nhân dân.
Sau đó họ lại cho gọi Edop đến:
- Vào thời gian gần đây dân chúng đã quên hẳn thứ ngôn ngữ của Edop. Thứ ngôn ngữ của nhà ngươi, hỡi tên Edop kia, té ra là không vĩnh cửu và chỉ mang tính chất nhất thời, bởi vậy việc tiếp tục biên soạn từ điển là không cần thiết nữa. Nhưng ở giai đoạn này nhà ngươi vẫn còn có ích và chúng ta đã quyết định giữ lại một biên chế cho nhà ngươi. Nhà ngươi hãy cứ tiếp tục viết những bài ngụ ngôn của mình đi…Ha…ha…ha…! Sẽ  không ai ngăn cản nhà ngươi cả… ha…ha…ha.!
Và khi ấy, Edop bèn leo lên một quả núi đá và lao mình xuống vực thẳm.
Sự thật về cái chết của Edop là  như vậy. Còn tất cả những thứ khác đều là những chuyện hoang đường.
LÊ SƠN dịch

(nguồn: TCSH số 227 - 01 - 2008)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HENRI TROYAT

    LTS. Henri Troyat tên thật là Lev Tarassov sinh năm 1911 tại Moskva. Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Giải thưởng văn học đầu tiên với tác phẩm "Faux jours" (1935). Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm tiểu thuyết và truyện ngắn. Những tác phẩm được dư luận đặc biệt chú ý như bộ ba tiểu thuyết "Tant que la terre durera" (1947), "Le sac et la cendre" (1948) và "Etrangers sur la terre" (1950) hoặc như "La lumière des Justes"... Ông còn viết cả kịch bản văn học. Truyện ngắn "Cơn choáng" (Le vertige) lấy từ tập "La Fosse Commune" xuất bản năm 1986.

  • Yamakawa Masao (1930 - 1965), tên thật là Yamakawa Yoshimi, ông sinh ở Tokyo, tốt nghiệp Đại học tư thục Keo (khoa Pháp văn). Yamakawa Masao từng làm biên tập cho Tạp chí văn học Mita Bungaku. Sau đó ông viết và công bố các truyện ngắn như: Cái chết mỗi ngày, Năm ấy, Công viên ven biển… với phong cách tinh tế, miêu tả sự phi lý của cái chết và tuổi trẻ thời kỳ hậu chiến. Ông qua đời năm 34 tuổi do tai nạn giao thông.

  • Nhà văn Ấn Độ (người Hindi), Krishna Baldev Vaid sinh năm 1927. Ông học đại học tại Punjab và Harvard; dạy học tại nhiều trường đại học ở Ấn Độ và Mỹ. Ông viết tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, phê bình và dịch thuật văn học. Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Ba Lan, Nga, Nhật và các tiếng khác ở Ấn Độ.

  • HÁCH XUYÊN THỨ LANG
                          (Nhật)

    Phải dấu việc này không cho anh ấy biết. Lãng Tử nghĩ vậy và nắm chặt bao nhỏ trong tay, tần ngần rảo bước trên cầu. Đêm tối không người với dòng sông lặng lẽ trôi giữa một màn đen kịt, và rồi nó sẽ mang đi điều bí mật của ta.

  • DHUMKETU

    Dhumketu là bút danh của Gaurishankar Govardhauram, là nhà văn Ấn Độ (1892 - 1965), thường được xem như là một trong những người khai sáng loại hình truyện ngắn. Tác phẩm của ông thường có bút pháp gây xúc động, lãng mạn hoặc miêu tả đậm nét những cảm xúc của con người.


  • CORMAC MCCARTHY

  • Rivka Galchen là nhà văn, biên tập viên tờ The New Yorker, với nhiều đóng góp về truyện ngắn và tiểu luận phi hư cấu cho tạp chí này từ năm 2008. Nữ nhà văn thường viết về khoa học và y học.

  • Ray Bradbury (1920 - 2012) là nhà văn lừng danh của Mỹ, tham gia văn đàn và thế giới điện ảnh sôi nổi trong suốt hơn 7 thập kỷ. Ông đã viết 27 tiểu thuyết và hơn 600 truyện ngắn. Truyện ngắn The Veldt (Thảo nguyên châu Phi) là một tiên đoán về mặt trái của công nghệ đang phần nào chạy theo những nhu cầu phi nhân bản của con người.

  • JACK LONDON

    Ngày đã trở nên lạnh lẽo và u ám, rất lạnh và rất u ám khi người đàn ông rẽ sang lối khác từ đường mòn Yukon và đi lên một bờ đất cao nơi có một đường mòn mờ mờ, ít người qua lại dẫn về hướng đông, xuyên qua rừng cây vân sam với những thân cây chắc khỏe.


  • SHIMAZAKI TOSON

  • Hirabayashi Hatsunosuke (1892 - 1931), sinh ra tại làng Fukada, quận Taken, Tokyo, tốt nghiệp Khoa tiếng Anh Đại học Waseda. Ông hoạt động như một nhà lý luận của phong trào vô sản thời kỳ đầu.


  • TED HUGHES

  • ARESS MOHAMED

    Trong lòng con thuyền đang lênh đênh trên mặt biển là 12 người, 7 đàn ông, 4 phụ nữ và 1 đứa trẻ. Đứa bé hình như đang thiếp đi trong vòng tay mẹ nó. Tính đến nay, con thuyền đã trôi được bốn ngày.

  • MACARIO D. TIU (Philippines)

    Hồi đó tôi chỉ có 3 tuổi nhưng tôi nhớ rất rõ đám cưới của anh Peter và chị Linda. Tôi nhớ nhất là được đùa giỡn trên chăn gối tinh tươm của chiếc giường dành cho đôi tân lang và tân giai nhân. Tôi sau đó mới biết là đùa giỡn như vậy sẽ giúp cho họ mau có con trai đầu lòng. Tôi được chọn để đùa giỡn vì tôi tráng kiện và mập mạp.

  • ROGER DEAN KISER (Hoa Kỳ)

    Tôi bước vào nhà hàng Huddle House ở Brunswick, Georgia và ngồi ngay quầy vì hết sạch chỗ. Tôi cầm thực đơn lên và bắt đầu xem những món ăn khác nhau và cố quyết định sẽ ăn sáng hay nhịn tới trưa luôn.

  • IVAN BUNIN

    Ivan Bunin (1870 - 1953), nhà văn Nga đầu tiên được trao giải Nobel, năm 1933. Ông nổi tiếng với ‘một nghệ thuật nghiêm cẩn’, mà với nó ông ‘tiếp tục những truyền thống cổ điển Nga trong sáng tác văn thơ’.