Sứ mệnh kẻ sĩ trước nghĩa Cần Vương

09:36 06/01/2022

LÊ QUANG THÁI

Không hẳn nghĩa Cần Vương phát sinh từ khi kinh thành Huế thất thủ sau ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (5-7-1885). Sở dĩ người ta thường quen gọi phong trào chống Pháp từ khi vua Hàm Nghi xuất bôn và xuống chiếu kêu gọi toàn dân chiến đấu chống thực dân xâm lược từ năm 1885 - 1888 là phong trào Cần Vương, bởi lẽ vua Hàm Nghi là linh hồn của cuộc kháng chiến trong thời cao điểm chống Pháp.

Ảnh: internet

Từ trước cho đến nay, các nhà viết sử đã không thống nhất trong việc định vị phong trào Cần Vương, mỗi người có một cách nhìn không ai giống ai. Có thể nêu lên một vài quan điểm nhìn nhận để minh chứng cho điều đó.

Trước hết giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu, tác giả sách Quc sử tạp lục đã viết:

"Nghĩa Cn Vương còn gọi là nghĩa Văn thân là sự chng cự của cả dân tộc Việt Nam ta, chng đối quân xâm lăng đất nước. Dù cho giới nho sĩ hay giới nông dân lãnh đạo mặc lòng : tôi không tham gia ý kiến gì về vấn đề giai cấp này. Dù sao dân tộc Việt Nam cũng đã đánh Pháp sau khi quân đội chính quy của triều đình thất bại. Nghĩa Văn thân là cuộc chiến tranh du kích của nhân dân; tuy sự ch huy do các nho sĩ, dù là các quan vũ của triều đình hay là các nhà nho đã chưa ra làm quan, tính đại khái nghĩa Văn thân bn mươi ba tháng" (1).

Với cách nhận diện này, tác giả đã quá giới hạn bằng cách gói gọn thời gian chiến đấu của vua quan nhà Nguyễn và quân dân Việt Nam từ khi vua Hàm Nghi ra chiến khu Tân Sở, Cam Lộ (Quảng Trị) cho đến ngày nhà vua bị bắt, và có tính thâm mấy tháng kéo dài cho đến ngày vua Đồng Khánh mất 27 tháng 12 năm Mậu Tý (1888). Thực ra giặc Pháp đã phải vất vả, khổ nhọc trong 38 năm mới đặt được nền bảo hộ trong khi cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn còn sôi sục và tiếp diễn.

Giáo sư Phan Khoang đã đặt mốc thời gian từ lúc phong trào Cần Vương bừng dậy đến hồi kết thúc một khoảng cách rộng hơn :

"Từ khi Gia Định thất thủ, nhiều kẻ thân hào trong sáu tnh Đồng Nai hoặc quan li triều đình đứng ra hiệu triệu qun chúng giúp người, giúp ca để chống đánh kẻ xâm lăng.

Những đoàn nghĩa quân kết thành, hoặc ly danh hiệu "Cn Vương", hoặc "Bình Tây Sát tả", hoặc "Dân chúng tự vệ" đi đánh quân Pháp khắp nơi" (2)

Giáo sư Nguyễn Thế Anh trong tác phẩm "Việt Nam thời Pháp đô hộ" lại nói đến chiến thuật và chiến lược của các chiến sĩ Cần Vương:

"Sự kháng cự mà các sĩ phu chủ trương và do các quan lại chỉ huy gọi là phong trào Cần Vương và được th hiện dưới hai hình thức :

- Sát hại các tín đồ Thiên Chúa Giáo vì những người này đã ng hộ sự xâm lăng của quân Pháp; s người theo đạo Thiên Chúa bị giết ước lượng đến hơn 20.000 người.

- Phục kích các đoàn vận tống và các đồn ải của Pháp" (3)

Do nhận thức lệch lạc, không thoáng rộng tầm nhìn vì cho rằng "Tây là Đạo”, "Đạo là Tây" cho nên tiếc thay đã để xảy ra cái cảnh người Việt giết người Việt, làm suy giảm tiềm năng chiến đấu và làm sứt mẻ tinh thần đoàn kết dân tộc. Những nhà nho chân chính có chủ trương chính trực và vốn học thức uyên bác như Phan Đình Phùng, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu đã không phạm phải sai lầm này.

May là, sự lệch lạc dẫn đến cảnh người Việt tàn sát lẫn nhau đã sớm chấm dứt. Thực tế những người Công giáo như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Mai Lão Bang là những danh nhân lịch sử có chủ trương cải cách hoặc chiến đấu để giữ vững quyền tự quyết dân tộc.

Sau ngày thất thủ kinh thành Huế, lời kêu gọi của vua Hàm Nghi trong chiếu Cần Vương có lời lẽ hết sức bi thiết, động lòng trắc ẩn mọi người, mọi giới :

"Hỡi các trung thn nghĩa sĩ toàn quc!
Hỡi các nghĩa dân hảo hán bn phương
Trước giờ T quc lâm nguy, xã tắc nghiêng đổ, ai là dân, ai là thần, lẽ nào chu khoanh tay ngi chờ chết. Hãy mau mau cùng nhau đứng dậy phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước"(4)

Chiếu Cần Vương rồi hịch Cần Vương được truyền đi khắp nơi. Kẻ sĩ đã sớm ý thức được sứ mệnh của mình bằng cách dựng cờ khởi nghĩa, hô hào dân chúng đấu tranh cứu nước.

Không phải chỉ dưới thời nhà Nguyễn mới có phong trào Cần Vương xuất hiện. Theo lịch sử Trung Quốc, năm 1274 vua Cung đế thời Tống Mạt lệnh chiêu mộ quân Cần Vương vì bị quân Mông Nguyên cướp đất và đoạt ngôi báu. Ở đất Giang Tây có vị trọng thần là tiến sĩ. Văn Thiên Tường gởi hịch Cần Vương kêu gọi thần dân đứng dậy giúp vua, giúp nước.

Họ Văn đánh đâu bại đó rồi phải chạy dài và cuối cùng bị bắt. Mặc dầu được vua Nguyên ưu đãi và dỗ cho hàng nhưng Văn Thiên Tường không chịu khuất phục và đã bày tỏ tâm trạng u uất qua câu nói bất hủ:

"Cn Vương bất thi nhất kỳ Văn Thiên Tường sĩ khí”.

Dịch nghĩa :

"Cộng s Cần Vương chẳng làm một gì cả, Văn Thiên Tường cảm thấy mình rt xấu hổ".

Đó đích thực là sĩ khí, tiết tháo của kẻ sĩ.

Xét trong quốc sử, khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, một số đông cựu thần nhà Lê vì nặng lòng ngưỡng mộ đến công đức của vua Lê Thái Tổ nên đã chiêu mộ binh sĩ chống lại họ Mạc tiếm quyền. Dưới thời chúa Trịnh, Lê Đế Duy Phương bị Trịnh Giang hãm hại, những người trong hoàng tộc như Lê Duy Chúc, Lê Duy Qui và Lê Duy Mật đã cùng các quan văn võ và dân chúng chống lại họ Trịnh đoạt ngôi.

Tầng lớp lãnh đạo là kẻ sĩ. Nhân dân hết lòng tin tưởng vào sứ mệnh của kẻ sĩ bởi lẽ họ sống luôn luôn gắn bó với mọi người trong xã hội, không bao giờ tách rời khỏi thực tế xã hội. Giáo sư Phan Khoang đã phân tích sự kiện ấy một cách trung thực như sau :

"Kẻ sĩ ấy ở trong nông thôn làng mạc mà ra, sut đời sng giữa dân gian, lớp này chết đi thì trong dân gian ai có tri thức, có đức hạnh, có lòng tin ở đạo thng thì hy sinh mà làm k sĩ cũ, già, tr đắp đổi thay nhau, vì vậy mà kẻ sĩ không thành một giai cấp. Quan cũng ở trong dân mà ra; thôi làm quan trở về sng với dân gian, có ai học thức thi đỗ thì làm quan, vì vậy quan cũng không thành một giai cấp. Kẻ sĩ và quan đu ở trong nông thôn mà ra nên chính phủ, giới trí thức ch đạo tinh thn và xã hội dân chúng liên hệ một cách mật thiết, khắng khít, không gì ngăn cách và cảm thông nhau một cách dễ dàng"(5)

Cứu cánh của chương trình hành động của kẻ sĩ giữa thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 20 đều hướng vào những mục tiêu sau đây :

1- Chống Pháp để cứu nước, cứu dân
2- Giúp nhà vua khôi phục lại uy quyền
3- Bảo vệ đạo thống của dân tộc Việt Nam
4- Kiến thiết quốc gia và canh tân xứ sở.

Điểm trọng yếu và cốt lõi được đặt lên hàng đầu là mục tiêu cứu nước. Kẻ sĩ quên thù riêng nhỏ mọn để đặt quyền lợi quốc gia, đất nước lên hàng đầu. Rõ ràng là kẻ sĩ đã đóng vai trò chủ đạo, hướng dẫn dư luận quần chúng đi vào quỹ đạo của phong trào Cần Vương bằng dòng thơ văn yêu nước:

"Đánh Tây ta sẵn có binh đao
Kháng chiến còn thêm đủ mọi điều
Cuốc cày sản xuất kho vô tn
Bút mực đào sâu tác chiến hào"
                              (Đông Tùng)

Theo Từ Nguyên thì "Cần" có nghĩa là giúp, và "Vương" là vua. Cần Vương là giúp vua giúp nước khôi phục lại uy quyền hoặc chiếm lại ngôi báu, quyền lực bị cướp đoạt.

Tứ tự thành ngữ "Cn vu Vương gia" nghĩa là ưa thích làm việc cho nhà vua, cho hoàng gia. Vế từ này để ám chỉ những bậc công thần, quan lại, thân hào hết lòng phụng sự nhà vua theo đúng danh nghĩa của chủ trương "trung quân ái quc" của Nho giáo.

Chủ trương "khắc cn vương nghiệp" được hiểu nghĩa một cách chuẩn mực là giúp nhà vua khôi phục lại ngôi báu. Kẻ sĩ là thần dân, kề cận nhà vua, có sứ mạng cao cả theo giúp nhà vua trong lúc lâm nguy để dựng lại cơ nghiệp.

Những nhà quý tộc, những bậc đại thần, sĩ phu, khoa mục, hào kiệt hết lòng lo việc nhà vua đúng như châm ngôn : "Vương quí kỷ cn vương gia" ở trong Kinh Thư. Kẻ sĩ học tập và thâm nhập kinh sử thì sẽ thấy rõ sứ mạng của mình và càng làm cho nó sáng lên lúc đất nước cần đến. Vì đại nghĩa dân tộc kẻ sĩ sẵn sàng hy sinh tất cả, ngay cả tính mạng cũng xem nhẹ như lông hồng.

Đông phương cũng như Tây phương đều gặp gỡ nhau theo chung cùng quan điểm về nghĩa Cần Vương. Theo Pháp ngữ thì cần vương có nghĩa là "Servir le pays à travers le roi". Hết lòng phụng sự nhà vua tức là yêu nước. Vua là nước, thần dân là con vua. Dân gian thì sống nặng với quan điểm "dân không có mạ như thiên hạ không có vua".

Kẻ sĩ nhập thế cuộc, lãnh sứ mạng cao cả do nhà vua trao phó và do ý thức vai trò của mình trước thực trạng đất nước đòi hỏi phải lãnh trọng trách để gánh vác. Sứ mệnh ấy được gọi là "văn thân". Vì vậy, có nhóm từ "quan đái tn thân". Văn thân không thể nào an hưởng, dửng dưng trước thời cuộc, trước vận nước đỏ đen : khó trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Mục tiêu chính yếu của phong trào Cần Vương thể hiện ý chí chống Pháp của vua quan nhà Nguyễn, ý chí của sĩ phu và dân chúng Việt Nam từ khi thực dân Pháp mở đầu cuộc xâm lược.

Phong trào Cần Vương phát sinh từ cuộc phất cờ khởi nghĩa chống xâm lược của Trương Công Định năm 1861 ở Nam Kỳ cho đến ngày nghĩa binh của Hoàng Hoa Thám hoàn toàn tan rã ở chiến khu Yên Thế năm 1913.

Có thể phân chia phong trào Cần Vương ra làm 3 đoản kỳ :

1- Tiền Cần Vương từ năm 1861 đến 1885

2- Cần Vương từ năm 1885 đến 1888

3- Hậu Cần Vương từ năm 1888 đến 1913.

Khắp nơi trong nước phong trào khởi nghĩa kế tục bùng phát làm cho giặc Pháp phải nhọc công, gian lao vất vả trong việc đánh dẹp để giữ được việc bảo hộ. Cái đòn độc hiểm của thực dân Pháp là chủ trương phân hóa, chia rẽ dân tộc, dùng chính sách người Việt để giết người Việt.

Nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử, sĩ phu nguyện sống chết vì tiết tháo của nhà nho. Xưa cũng như nay, không ít cái nhục nào bằng cái nhục mất nước, "ý chí chiến đấu của dân quân tỉnh Gò Công (quê ngoại của vua Tự Đức) thể hiện rõ nét qua bức thư gửi cho Đô đốc Reveillère khi ông thiết lập bộ máy hành chính năm 1862 ở tỉnh này :

"Chúng tôi cũng gờm khả năng của các ông đấy. Nhưng chúng tôi còn sợ trời hơn sợ sức mạnh của các ông. Chúng tôi thề sẽ chiến đấu vô tận vô cùng.

Ngày mà chúng tôi không còn gì nữa, chúng tôi sẽ bẻ cành lá làm cờ và võ trang binh sĩ bằng đòn, bằng gậy. Đến ngày ấy liệu các ông ở trong chúng tôi được không?" (6)

Nhận và đọc bức thư ấy chính Đô đốc Reveillère cũng phải khâm phục chí khí anh hùng bất khuất của người Việt mà tự thú nhận rằng :

"Thật không phải là những lời trống rng. Chưa có một dân tộc nào đề kháng trong nỗi thng kh như vậy" (7).

Danh tiết của kẻ sĩ làm sáng ngời sử sách, đã hun đúc và tô bồi cho truyền thống yêu nước thương nòi của nhân dân Việt Nam. Tầng lớp trí thức ngày nay tự hào là được vinh dự kế thừa và phát huy phẩm chất cao đẹp ấy trong sự nghiệp giữ vững quyền tự quyết dân tộc và lo chung sao cho đất nước sớm thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu để mọi người được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và dân trí mỗi ngày được nâng cao.

Cao cả và vinh hiển thay sứ mệnh vệ đạo của kẻ sĩ. Sĩ phu Việt Nam đã làm rạng rỡ Tổ quốc và lưu lại tấm gương sáng cho đời sau :

"Nhơn sanh t cổ thuỳ vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
                    (Văn Thiên Tường)

Dịch là :

"Người xưa t c ai không chết,
Lưu lại lòng son tấm sử xanh".

Thiết nghĩ, trí thức ngày nay, ai nấy đều theo gương xưa, cố làm cho nên việc, nhất thiết không muốn làm hư việc, rách việc. Người nào việc nấy hợp với thực chất năng lực, sở tài và phẩm chất đạo đức. Không có chuyện tréo hèo, trái cựa để tạo niềm tin yêu của quần chúng. Đó cũng là một sự phân công của xã hội tiến bộ, trong đó giới trí thức đủ can đảm nhận lấy trách nhiệm về phận mình mà không đổ lỗi cho ai.

Vì chữ "tín" và "tín nhiệm” mà trí thức ngày nay học lấy gương xưa : biết xấu hổ một khi không làm trôi tròn sứ mạng được giao.

Huế, ngày 3 tháng 4 năm 1992
L.Q.T
(TCSH50/07&8-1992)

--------------------------
(1) Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử Tạp lục, Sài Gòn, Khai Trí, 1970, trang 227.
(2) Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Sài Gòn, Khai trí, 1961, tr. 38.
(3) Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ, Sài Gòn, Lửa thiêng 1970, trang 314.
(4) Đông Tùng, Bút Chiến đấu, Sài Gòn, Hội Khổng học Việt Nam, 1957, trang 13.
(5) Phan Khoang, Kẻ Sĩ và Sứ Mệnh Vệ Đạo, Đại học Văn khoa Sài Gòn, tháng 12.1968, trang 165.
(6), (7) Thái Bạch, Bốn vị anh hùng kháng chiến Miền nam, Sài Gòn, Sống Mới, 1957, trang 29.

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THANH HÀTrong giới học thuật, Trương Đăng Dung được biết đến như một người làm lý luận thuần tuý. Bằng lao động âm thầm, cần mẫn Trương Đăng Dung đã đóng góp cho nền lý luận văn học hiện đại Việt đổi mới và bắt kịp nền lý luận văn học trên thế giới.

  • PHẠM XUÂN PHỤNG Chu Dịch có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào. Riêng hai quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn, mỗi quẻ có thêm một hào.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNPhan Đăng Dư, thân phụ nhà cách mạng Phan Đăng Lưu là người họ Mạc, gốc Hải Dương. Đời Mạc Mậu Giang, con vua Mạc Phúc Nguyên lánh nạn vào Tràng Thành (nay là Hoa Thành, Yên Thành, Nghệ An) sinh cơ lập nghiệp ở đó, Phan Đăng Dư là hậu duệ đời thứ 14.

  • HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.

  • TRẦN HUYỀN SÂM1. Tại diễn đàn Nobel năm 2005, Harold Pinter đã dành gần trọn bài viết của mình cho vấn đề chiến tranh. Ông cho rằng, nghĩa vụ hàng đầu của một nghệ sĩ chân chính là góp phần làm rõ sự thật về chiến tranh: “Cái nghĩa vụ công dân cốt yếu nhất mà tất cả chúng ta đều phải thi hành là... quyết tâm dũng mãnh để xác định cho được sự thật thực tại...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG"HỘI CHỨNG VIỆT NAM"Trong lịch sử chiến tranh Mỹ, thì chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mà người Mỹ bị sa lầy lâu nhất (1954-1975), và đã để lại những hậu quả nặng nề cho nước Mỹ. Hậu quả đó không chỉ là sự thất bại trong cuộc chiến, mà còn ở những di chứng kéo dài làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống Mỹ, mà người Mỹ gọi đó là "Hội chứng Việt Nam".

  • BÍCH THUNăm 2005, GS. Phong Lê vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu biểu (Nxb ĐHQG, H, 2001, 540 trang); Một số gương mặt văn chương - học thuật Việt hiện đại (Nxb GD, H, 2001, 450 trang); Văn học Việt hiện đại - lịch sử và lý luận (Nxb KHXH. H, 2003, 780 trang). Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học say mê, tâm huyết và cũng đầy khổ công, vất vả của một người sống tận tụy với nghề.

  • THÁI DOÃN HIỂU Trong hôn nhân, đàn bà lấy chồng là để vào đời, còn đàn ông cưới vợ là để thoát ra khỏi cuộc đời. Hôn nhân tốt đẹp tạo nên hạnh phúc thiên đường, còn hôn nhân trắc trở, đổ vỡ, gia đình thành bãi chiến trường. Tình yêu chân chính thanh hóa những tâm hồn hư hỏng và tình yêu xấu làm hư hỏng những linh hồn trinh trắng.

  • NGUYỄN THỊ MỸ LỘCLà người biết yêu và có chút văn hóa không ai không biết Romeo and Juliet của Shakespeare, vở kịch được sáng tác cách ngày nay vừa tròn 410 năm (1595 - 2005). Ngót bốn thế kỷ nay Romeo and Juliet được coi là biểu tượng của tình yêu. Ý nghĩa xã hội của tác phẩm đã được thừa nhận, giá trị thẩm mĩ đã được khám phá, hiệu ứng bi kịch đã được nghiền ngẫm... Liệu còn có gì để khám phá?

  • NGUYỄN VĂN HẠNH1. Từ nhiều năm nay, và bây giờ cũng vậy, chúng ta chủ trương xây dựng một nền văn nghệ mới ngang tầm thời đại, xứng đáng với tài năng của dân tộc, của đất nước.

  • HỒ THẾ HÀ(Tham luận đọc tại Hội thảo Tạp chí văn nghệ 6 tỉnh Bắc miền Trung)

  • LÊ GIA NINHNgày 10 tháng 10 năm 1955, Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bừng lên niềm vui, ngập trong cờ, hoa và nắng thu. Những chàng trai ngày “ra đi đầu không ngoảnh lại”, trải qua cuộc trường chinh ba ngàn ngày trở về trong niềm vui hân hoan và những dòng “nước mắt dành khi gặp mặt” (Nam Hà).

  • THANH TÙNGChống tham nhũng, đục khoét dân lành không chỉ là công việc của nhà chức trách mà còn ở tất cả mọi người dù ở chế độ xã hội nào. Các thi sĩ không chỉ làm thơ ca ngợi cuộc sống tình yêu, đất nước con người mà còn dùng ngọn bút thông qua nước thi phẩm của mình để lên án, vạch mặt bọn quan tham này.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNTrong lịch sử các nhà khoa bảng ở Việt , ít có gia đình nào cả ba ông cháu, cha con đều đỗ Trạng nguyên. Đó là gia đình Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở Kẻ Cuồi, Tam Công, Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊN1. Trước hết ta phải bàn với nhau về chữ hay, tức thế nào là một tác phẩm hay. Bởi cái hay không bất biến trong không gian và thời gian, nó vận động và biến đổi tùy theo hoàn cảnh, với những tiêu chí cụ thể khác nhau.

  • TRẦN HUYỀN SÂMRuồng bỏ - Disgrace (1) là một cuốn tiểu thuyết mang phong cách giản dị. Nhưng đó là sự giản dị của một bậc thầy về thể loại roman. Giới lý luận văn học và các chính trị gia phương Tây (2) đã đặt ra những câu hỏi có tính hoài nghi. Điều gì ở cuốn sách có độ trang khiêm tốn này đã mang lại giải Nobel cho Coetzee: Vấn đề kỹ thuật tiểu thuyết, nỗi điếm nhục về nhân cách con người, hay là bi kịch lịch sử hậu Apartheid?

  • NGUYỄN THÀNHLịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX đánh dấu bởi nhiều khuynh hướng phê bình hiện đại: phê bình ấn tượng, phê bình phân tâm học, phê bình xã hội học, phê bình mác xít, phê bình thi pháp học...

  • TRẦN LỘC HÙNG“NỒI HƠI NGUYÊN TỬ” NGĂN NGỪA THẾ CHIẾN THỨ BAChuyện kể rằng sau cuộc thử nghiệm thành công của trái bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1949, cha đẻ của nó - Igor Vaxilevich Kurchatov - đã khóc nức nở.

  • HÀ VĂN THỊNHSố 7 là một con số huyền thoại. Nếu như tính xuất xứ xa nhất, công đầu về việc “tìm ra” số 7, thuộc về người Ai Cập, cách nay ít nhất 5.000 năm. Khi hiểu được rõ ràng việc con sông Nil chia làm 7 nhánh trước lúc đổ ra Địa Trung Hải, người Ai Cập vận “lý” để tin là nó nhất định phải hàm chứa nghĩa bí ẩn nào đó phản ánh cái “tư tưởng” triết lý của Đấng Tạo hóa.

  • TRẦN VIẾT THIỆNNăm 1987, người ta từ ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến sững sờ trước sự trình làng của một cây bút đã vào độ tứ tuần. Tuổi bốn mươi lại là thời kỳ son sắt nhất của cây bút này, nói theo quan niệm của ông: “Đời viết văn cũng giống như đời người đàn bà”.