Sứ mệnh kẻ sĩ trước nghĩa Cần Vương

09:36 06/01/2022

LÊ QUANG THÁI

Không hẳn nghĩa Cần Vương phát sinh từ khi kinh thành Huế thất thủ sau ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (5-7-1885). Sở dĩ người ta thường quen gọi phong trào chống Pháp từ khi vua Hàm Nghi xuất bôn và xuống chiếu kêu gọi toàn dân chiến đấu chống thực dân xâm lược từ năm 1885 - 1888 là phong trào Cần Vương, bởi lẽ vua Hàm Nghi là linh hồn của cuộc kháng chiến trong thời cao điểm chống Pháp.

Ảnh: internet

Từ trước cho đến nay, các nhà viết sử đã không thống nhất trong việc định vị phong trào Cần Vương, mỗi người có một cách nhìn không ai giống ai. Có thể nêu lên một vài quan điểm nhìn nhận để minh chứng cho điều đó.

Trước hết giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu, tác giả sách Quc sử tạp lục đã viết:

"Nghĩa Cn Vương còn gọi là nghĩa Văn thân là sự chng cự của cả dân tộc Việt Nam ta, chng đối quân xâm lăng đất nước. Dù cho giới nho sĩ hay giới nông dân lãnh đạo mặc lòng : tôi không tham gia ý kiến gì về vấn đề giai cấp này. Dù sao dân tộc Việt Nam cũng đã đánh Pháp sau khi quân đội chính quy của triều đình thất bại. Nghĩa Văn thân là cuộc chiến tranh du kích của nhân dân; tuy sự ch huy do các nho sĩ, dù là các quan vũ của triều đình hay là các nhà nho đã chưa ra làm quan, tính đại khái nghĩa Văn thân bn mươi ba tháng" (1).

Với cách nhận diện này, tác giả đã quá giới hạn bằng cách gói gọn thời gian chiến đấu của vua quan nhà Nguyễn và quân dân Việt Nam từ khi vua Hàm Nghi ra chiến khu Tân Sở, Cam Lộ (Quảng Trị) cho đến ngày nhà vua bị bắt, và có tính thâm mấy tháng kéo dài cho đến ngày vua Đồng Khánh mất 27 tháng 12 năm Mậu Tý (1888). Thực ra giặc Pháp đã phải vất vả, khổ nhọc trong 38 năm mới đặt được nền bảo hộ trong khi cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn còn sôi sục và tiếp diễn.

Giáo sư Phan Khoang đã đặt mốc thời gian từ lúc phong trào Cần Vương bừng dậy đến hồi kết thúc một khoảng cách rộng hơn :

"Từ khi Gia Định thất thủ, nhiều kẻ thân hào trong sáu tnh Đồng Nai hoặc quan li triều đình đứng ra hiệu triệu qun chúng giúp người, giúp ca để chống đánh kẻ xâm lăng.

Những đoàn nghĩa quân kết thành, hoặc ly danh hiệu "Cn Vương", hoặc "Bình Tây Sát tả", hoặc "Dân chúng tự vệ" đi đánh quân Pháp khắp nơi" (2)

Giáo sư Nguyễn Thế Anh trong tác phẩm "Việt Nam thời Pháp đô hộ" lại nói đến chiến thuật và chiến lược của các chiến sĩ Cần Vương:

"Sự kháng cự mà các sĩ phu chủ trương và do các quan lại chỉ huy gọi là phong trào Cần Vương và được th hiện dưới hai hình thức :

- Sát hại các tín đồ Thiên Chúa Giáo vì những người này đã ng hộ sự xâm lăng của quân Pháp; s người theo đạo Thiên Chúa bị giết ước lượng đến hơn 20.000 người.

- Phục kích các đoàn vận tống và các đồn ải của Pháp" (3)

Do nhận thức lệch lạc, không thoáng rộng tầm nhìn vì cho rằng "Tây là Đạo”, "Đạo là Tây" cho nên tiếc thay đã để xảy ra cái cảnh người Việt giết người Việt, làm suy giảm tiềm năng chiến đấu và làm sứt mẻ tinh thần đoàn kết dân tộc. Những nhà nho chân chính có chủ trương chính trực và vốn học thức uyên bác như Phan Đình Phùng, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu đã không phạm phải sai lầm này.

May là, sự lệch lạc dẫn đến cảnh người Việt tàn sát lẫn nhau đã sớm chấm dứt. Thực tế những người Công giáo như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Mai Lão Bang là những danh nhân lịch sử có chủ trương cải cách hoặc chiến đấu để giữ vững quyền tự quyết dân tộc.

Sau ngày thất thủ kinh thành Huế, lời kêu gọi của vua Hàm Nghi trong chiếu Cần Vương có lời lẽ hết sức bi thiết, động lòng trắc ẩn mọi người, mọi giới :

"Hỡi các trung thn nghĩa sĩ toàn quc!
Hỡi các nghĩa dân hảo hán bn phương
Trước giờ T quc lâm nguy, xã tắc nghiêng đổ, ai là dân, ai là thần, lẽ nào chu khoanh tay ngi chờ chết. Hãy mau mau cùng nhau đứng dậy phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước"(4)

Chiếu Cần Vương rồi hịch Cần Vương được truyền đi khắp nơi. Kẻ sĩ đã sớm ý thức được sứ mệnh của mình bằng cách dựng cờ khởi nghĩa, hô hào dân chúng đấu tranh cứu nước.

Không phải chỉ dưới thời nhà Nguyễn mới có phong trào Cần Vương xuất hiện. Theo lịch sử Trung Quốc, năm 1274 vua Cung đế thời Tống Mạt lệnh chiêu mộ quân Cần Vương vì bị quân Mông Nguyên cướp đất và đoạt ngôi báu. Ở đất Giang Tây có vị trọng thần là tiến sĩ. Văn Thiên Tường gởi hịch Cần Vương kêu gọi thần dân đứng dậy giúp vua, giúp nước.

Họ Văn đánh đâu bại đó rồi phải chạy dài và cuối cùng bị bắt. Mặc dầu được vua Nguyên ưu đãi và dỗ cho hàng nhưng Văn Thiên Tường không chịu khuất phục và đã bày tỏ tâm trạng u uất qua câu nói bất hủ:

"Cn Vương bất thi nhất kỳ Văn Thiên Tường sĩ khí”.

Dịch nghĩa :

"Cộng s Cần Vương chẳng làm một gì cả, Văn Thiên Tường cảm thấy mình rt xấu hổ".

Đó đích thực là sĩ khí, tiết tháo của kẻ sĩ.

Xét trong quốc sử, khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, một số đông cựu thần nhà Lê vì nặng lòng ngưỡng mộ đến công đức của vua Lê Thái Tổ nên đã chiêu mộ binh sĩ chống lại họ Mạc tiếm quyền. Dưới thời chúa Trịnh, Lê Đế Duy Phương bị Trịnh Giang hãm hại, những người trong hoàng tộc như Lê Duy Chúc, Lê Duy Qui và Lê Duy Mật đã cùng các quan văn võ và dân chúng chống lại họ Trịnh đoạt ngôi.

Tầng lớp lãnh đạo là kẻ sĩ. Nhân dân hết lòng tin tưởng vào sứ mệnh của kẻ sĩ bởi lẽ họ sống luôn luôn gắn bó với mọi người trong xã hội, không bao giờ tách rời khỏi thực tế xã hội. Giáo sư Phan Khoang đã phân tích sự kiện ấy một cách trung thực như sau :

"Kẻ sĩ ấy ở trong nông thôn làng mạc mà ra, sut đời sng giữa dân gian, lớp này chết đi thì trong dân gian ai có tri thức, có đức hạnh, có lòng tin ở đạo thng thì hy sinh mà làm k sĩ cũ, già, tr đắp đổi thay nhau, vì vậy mà kẻ sĩ không thành một giai cấp. Quan cũng ở trong dân mà ra; thôi làm quan trở về sng với dân gian, có ai học thức thi đỗ thì làm quan, vì vậy quan cũng không thành một giai cấp. Kẻ sĩ và quan đu ở trong nông thôn mà ra nên chính phủ, giới trí thức ch đạo tinh thn và xã hội dân chúng liên hệ một cách mật thiết, khắng khít, không gì ngăn cách và cảm thông nhau một cách dễ dàng"(5)

Cứu cánh của chương trình hành động của kẻ sĩ giữa thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 20 đều hướng vào những mục tiêu sau đây :

1- Chống Pháp để cứu nước, cứu dân
2- Giúp nhà vua khôi phục lại uy quyền
3- Bảo vệ đạo thống của dân tộc Việt Nam
4- Kiến thiết quốc gia và canh tân xứ sở.

Điểm trọng yếu và cốt lõi được đặt lên hàng đầu là mục tiêu cứu nước. Kẻ sĩ quên thù riêng nhỏ mọn để đặt quyền lợi quốc gia, đất nước lên hàng đầu. Rõ ràng là kẻ sĩ đã đóng vai trò chủ đạo, hướng dẫn dư luận quần chúng đi vào quỹ đạo của phong trào Cần Vương bằng dòng thơ văn yêu nước:

"Đánh Tây ta sẵn có binh đao
Kháng chiến còn thêm đủ mọi điều
Cuốc cày sản xuất kho vô tn
Bút mực đào sâu tác chiến hào"
                              (Đông Tùng)

Theo Từ Nguyên thì "Cần" có nghĩa là giúp, và "Vương" là vua. Cần Vương là giúp vua giúp nước khôi phục lại uy quyền hoặc chiếm lại ngôi báu, quyền lực bị cướp đoạt.

Tứ tự thành ngữ "Cn vu Vương gia" nghĩa là ưa thích làm việc cho nhà vua, cho hoàng gia. Vế từ này để ám chỉ những bậc công thần, quan lại, thân hào hết lòng phụng sự nhà vua theo đúng danh nghĩa của chủ trương "trung quân ái quc" của Nho giáo.

Chủ trương "khắc cn vương nghiệp" được hiểu nghĩa một cách chuẩn mực là giúp nhà vua khôi phục lại ngôi báu. Kẻ sĩ là thần dân, kề cận nhà vua, có sứ mạng cao cả theo giúp nhà vua trong lúc lâm nguy để dựng lại cơ nghiệp.

Những nhà quý tộc, những bậc đại thần, sĩ phu, khoa mục, hào kiệt hết lòng lo việc nhà vua đúng như châm ngôn : "Vương quí kỷ cn vương gia" ở trong Kinh Thư. Kẻ sĩ học tập và thâm nhập kinh sử thì sẽ thấy rõ sứ mạng của mình và càng làm cho nó sáng lên lúc đất nước cần đến. Vì đại nghĩa dân tộc kẻ sĩ sẵn sàng hy sinh tất cả, ngay cả tính mạng cũng xem nhẹ như lông hồng.

Đông phương cũng như Tây phương đều gặp gỡ nhau theo chung cùng quan điểm về nghĩa Cần Vương. Theo Pháp ngữ thì cần vương có nghĩa là "Servir le pays à travers le roi". Hết lòng phụng sự nhà vua tức là yêu nước. Vua là nước, thần dân là con vua. Dân gian thì sống nặng với quan điểm "dân không có mạ như thiên hạ không có vua".

Kẻ sĩ nhập thế cuộc, lãnh sứ mạng cao cả do nhà vua trao phó và do ý thức vai trò của mình trước thực trạng đất nước đòi hỏi phải lãnh trọng trách để gánh vác. Sứ mệnh ấy được gọi là "văn thân". Vì vậy, có nhóm từ "quan đái tn thân". Văn thân không thể nào an hưởng, dửng dưng trước thời cuộc, trước vận nước đỏ đen : khó trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Mục tiêu chính yếu của phong trào Cần Vương thể hiện ý chí chống Pháp của vua quan nhà Nguyễn, ý chí của sĩ phu và dân chúng Việt Nam từ khi thực dân Pháp mở đầu cuộc xâm lược.

Phong trào Cần Vương phát sinh từ cuộc phất cờ khởi nghĩa chống xâm lược của Trương Công Định năm 1861 ở Nam Kỳ cho đến ngày nghĩa binh của Hoàng Hoa Thám hoàn toàn tan rã ở chiến khu Yên Thế năm 1913.

Có thể phân chia phong trào Cần Vương ra làm 3 đoản kỳ :

1- Tiền Cần Vương từ năm 1861 đến 1885

2- Cần Vương từ năm 1885 đến 1888

3- Hậu Cần Vương từ năm 1888 đến 1913.

Khắp nơi trong nước phong trào khởi nghĩa kế tục bùng phát làm cho giặc Pháp phải nhọc công, gian lao vất vả trong việc đánh dẹp để giữ được việc bảo hộ. Cái đòn độc hiểm của thực dân Pháp là chủ trương phân hóa, chia rẽ dân tộc, dùng chính sách người Việt để giết người Việt.

Nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử, sĩ phu nguyện sống chết vì tiết tháo của nhà nho. Xưa cũng như nay, không ít cái nhục nào bằng cái nhục mất nước, "ý chí chiến đấu của dân quân tỉnh Gò Công (quê ngoại của vua Tự Đức) thể hiện rõ nét qua bức thư gửi cho Đô đốc Reveillère khi ông thiết lập bộ máy hành chính năm 1862 ở tỉnh này :

"Chúng tôi cũng gờm khả năng của các ông đấy. Nhưng chúng tôi còn sợ trời hơn sợ sức mạnh của các ông. Chúng tôi thề sẽ chiến đấu vô tận vô cùng.

Ngày mà chúng tôi không còn gì nữa, chúng tôi sẽ bẻ cành lá làm cờ và võ trang binh sĩ bằng đòn, bằng gậy. Đến ngày ấy liệu các ông ở trong chúng tôi được không?" (6)

Nhận và đọc bức thư ấy chính Đô đốc Reveillère cũng phải khâm phục chí khí anh hùng bất khuất của người Việt mà tự thú nhận rằng :

"Thật không phải là những lời trống rng. Chưa có một dân tộc nào đề kháng trong nỗi thng kh như vậy" (7).

Danh tiết của kẻ sĩ làm sáng ngời sử sách, đã hun đúc và tô bồi cho truyền thống yêu nước thương nòi của nhân dân Việt Nam. Tầng lớp trí thức ngày nay tự hào là được vinh dự kế thừa và phát huy phẩm chất cao đẹp ấy trong sự nghiệp giữ vững quyền tự quyết dân tộc và lo chung sao cho đất nước sớm thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu để mọi người được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và dân trí mỗi ngày được nâng cao.

Cao cả và vinh hiển thay sứ mệnh vệ đạo của kẻ sĩ. Sĩ phu Việt Nam đã làm rạng rỡ Tổ quốc và lưu lại tấm gương sáng cho đời sau :

"Nhơn sanh t cổ thuỳ vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
                    (Văn Thiên Tường)

Dịch là :

"Người xưa t c ai không chết,
Lưu lại lòng son tấm sử xanh".

Thiết nghĩ, trí thức ngày nay, ai nấy đều theo gương xưa, cố làm cho nên việc, nhất thiết không muốn làm hư việc, rách việc. Người nào việc nấy hợp với thực chất năng lực, sở tài và phẩm chất đạo đức. Không có chuyện tréo hèo, trái cựa để tạo niềm tin yêu của quần chúng. Đó cũng là một sự phân công của xã hội tiến bộ, trong đó giới trí thức đủ can đảm nhận lấy trách nhiệm về phận mình mà không đổ lỗi cho ai.

Vì chữ "tín" và "tín nhiệm” mà trí thức ngày nay học lấy gương xưa : biết xấu hổ một khi không làm trôi tròn sứ mạng được giao.

Huế, ngày 3 tháng 4 năm 1992
L.Q.T
(TCSH50/07&8-1992)

--------------------------
(1) Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử Tạp lục, Sài Gòn, Khai Trí, 1970, trang 227.
(2) Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Sài Gòn, Khai trí, 1961, tr. 38.
(3) Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ, Sài Gòn, Lửa thiêng 1970, trang 314.
(4) Đông Tùng, Bút Chiến đấu, Sài Gòn, Hội Khổng học Việt Nam, 1957, trang 13.
(5) Phan Khoang, Kẻ Sĩ và Sứ Mệnh Vệ Đạo, Đại học Văn khoa Sài Gòn, tháng 12.1968, trang 165.
(6), (7) Thái Bạch, Bốn vị anh hùng kháng chiến Miền nam, Sài Gòn, Sống Mới, 1957, trang 29.

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN HUYỀN TRÂN

    Có lẽ, Cám dỗ cuối cùng của Chúa là cuốn tiểu thuyết nói về khoái lạc trần tục của Jesus một cách táo bạo nhất?

  • NGUYỄN DƯ

    Hôm ấy bạn bè họp mặt ăn uống. Chuyện nổ như bắp rang. Tôi khoe mình đã từng ba lần đội trời đạp đất trên đỉnh đèo Hải Vân. Một bạn hỏi đèo Hải Vân có gì đặc biệt? Câu hỏi bất ngờ làm tôi cụt hứng. Ừ nhỉ… đèo Hải Vân có gì đặc biệt?

  • PHAN TUẤN ANH

    “Lịch sử như là đem lại ý nghĩa cho cái vô nghĩa”
                                                               (T.Lessing)

  • Ngày nay, nhìn lại chủ trương cách mạng của Phan Châu Trinh cách đây hơn một thế kỷ, một lần nữa chúng ta lại thấy tầm nhìn của một người mang khát vọng Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh.

  • NGUYỄN THỊ TỊNH THY

    Sau khi đọc bài trao đổi của Triệu Sơn trên tạp chí Sông Hương số 10/2013 về bài viết của tôi trên tạp chí Sông Hương số 8/2013, tôi xin có mấy ý trả lời như sau:

  • PHAN NGỌC

    Trong quyển "Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều", tôi có dùng một số thuật ngữ chuyên môn. Trong phạm vi quyển sách tôi không thể trình bày kỹ cách hiểu của mình, cho nên có sự hiểu lầm. Giờ tôi xin trình bày kỹ hơn khái niệm "thức nhận", cơ sở của tác phẩm, để bạn đọc dễ đánh giá hơn.

  • YẾN THANH

    Trong bài viết này, chúng tôi muốn nhìn nhận những cống hiến của GS.TS Lê Huy Bắc trên lĩnh vực khoa học, đây là những thành tựu mà theo chúng tôi, vừa có tính lan tỏa, lại vừa có tính bền vững. Bởi vì, có thể nhiều học viên, nhà nghiên cứu dù không trực tiếp được nhà khoa học giảng dạy, hướng dẫn, nhưng từ những công trình, bài báo khoa học, vẫn được kế thừa và chịu sự tác động từ người thầy đó. 

  • TRIỆU SƠN

    Bài này nhằm trao đổi với tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy về những bất cập của nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay nhân đọc bài “Những bất cập và thái quá trong nghiên cứu văn học hiện nay” của tác giả trên Sông Hương, 294/08-13.

  • PHAN TRỌNG HOÀNG LINH

    Được Bakhtin đề xuất trong công trình nghiên cứu về sáng tác của Frăngxoa Rabơle, thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực nghịch dị (grotesque realism) là sự định danh ước lệ cho một kiểu hình tượng đặc thù (hay phương pháp xây dựng hình tượng đặc thù) của nền văn hóa trào tiếu dân gian, kiểu hình tượng nghịch dị.

  • LTS: Phạm Phú Uyên Châu, bút danh Meggie Phạm, sinh năm 1991, hội viên trẻ nhất của Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, tác giả của bộ truyện dài liên hoàn do Nxb. Trẻ ấn hành: Hoàng tử và em (2011, tái bản 2011), Giám đốc và em (2011, tái bản 2012), Chàng và em (2012, tái bản 2012), Người xa lạ và em (2012) và Tôi và em (đang in).

  • ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

    Trong Điều kiện hậu hiện đại, Jean-Francois Lyotard cho rằng: “Bởi vì người ta không thể biết điều gì xảy ra cho tri thức, tức là sự phát triển và truyền bá nó hiện nay đang gặp phải những vấn đề gì, nếu không biết gì về xã hội trong đó nó diễn ra.

  • ĐANIEN GRANIN

    Năm ngoái, một tai họa xảy ra với tôi. Tôi đi trên đường phố, bị trượt chân và ngã xuống... Ngã thật thảm hại: mặt áp xuống, mũi toạc ra, tay bị tréo lên vai. Lúc đó khoảng bảy giờ chiều, ở trung tâm thành phố, trên đại lộ Kirov, cách ngôi nhà ở không xa.

  • PHẠM QUANG TRUNG

    Bàn về hiệu quả của lý luận trong quan hệ với sáng tác, cần phân tách xu hướng lý luận dành cho tìm hiểu sáng tác của nhà văn (hướng nhiều hơn tới người nghiên cứu) với xu hướng lý luận dành cho sáng tác của nhà văn (hướng nhiều hơn tới người sáng tạo).

  • HÀ VĂN LƯỠNG  

    Trong thể loại tự sự, người trần thuật giữ một vai trò quan trọng, góp phần làm nên giá trị nghệ thuật tự sự của tác phẩm văn học.

  • NGUYỄN THỊ TỊNH THY

    Đời sống văn học không thể thiếu phê bình, nghiên cứu. Nếu xem “tác phẩm văn học như là quá trình”(1) thì phê bình và nghiên cứu là một khâu quan trọng trong chuỗi quá trình đó.

  • PHAN TUẤN ANH

    1. Nguyên tắc thẩm mỹ facebook và lối đọc status - entry
    Những tác phẩm của Đặng Thân như Ma net mà đặc biệt là 3339 [những mảnh hồn trần] từ khi ra đời đến nay đã trở thành những “cú sốc văn hóa” mini trong đời sống văn học Việt Nam.

  • BÙI BÍCH HẠNH

    Cất tiếng như một định mệnh của quyền năng nghệ thuật giữa phố thị thơ miền Nam những năm 50 - 60 thế kỉ XX, người thơ Thanh Tâm Tuyền, bằng tuyên ngôn nghệ thuật khởi từ ca dao sang tự do, đã tham dự vào thi đàn vốn nhiều biến động với tư cách một hữu thể mưu cầu phục sinh.

  • NGUYỄN QUANG HUY

    Phạm Thái (1777 - 1813) là một khuôn mặt khá đặc biệt trong thơ văn Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Đặc biệt trong thời đại ông sinh ra và ứng xử với nó; đặc biệt trong cách thể hiện thế giới nghệ thuật nhiều cá tính, nhiều gương mặt; đặc biệt trong vũ trụ mộng trước cuộc đời; đặc biệt trong cách thế tồn tại tài hoa mệnh bạc của ông; đặc biệt hơn là thơ văn của ông chưa được lưu ý phân tích ở chiều sâu tâm lí, chiều sâu thẩm mĩ.

  • THÁI DOÃN HIỂU

    Thời kỳ còn sống lang thang Kazan, nhà văn trẻ tài năng M. Gorky luôn làm phiền cho trật tự của chính quyền, cảnh sát Nga Hoàng tống lao ông. Trong tù, ông vẫn viết truyện, tuồn ra ngoài in đều đều trên các mặt báo.

  • INRASARA 

    1.
    Ch. Fredriksson trả lời cuộc phỏng vấn, cho rằng: “Ý tưởng dường như có tính tiên quyết, xem người nghệ sĩ làm gì và làm như thế nào với tác phẩm của mình, để làm sao cho tác phẩm ấy có hiệu quả nhất khi đến với công chúng.