Trí óc con người thật là thông minh và tuyệt vời, nhưng ta vẫn chưa thể hiểu nổi nó một cách tường tận. Đôi khi trí óc có thể làm được những điều đáng kinh ngạc.
Ảnh: tư liệu
Edgar Cayce là một người có trí óc kỳ lạ. Anh là con một nông dân ở Kentucky, và biết rất ít (hầu như không biết gì) về khoa học và những vấn đề về y học cả. Hồi còn bé, Edgar bị lâm bệnh nặng và nằm bất tỉnh. Các bác sĩ cố gắng hết sức chữa chạy để làm anh tỉnh lại nhưng anh vẫn nằm bất tỉnh một thời gian dài. Rồi một hôm đột nhiên anh bắt đầu nói một cách rành mạch, rõ ràng mà vẫn không tỉnh lại.
Anh mô tả nguyên nhân căn bệnh của mình và giải thích tất cả những thứ cần phải làm để chữa cho anh khỏi bệnh. Anh đưa ra các tên thuốc mà anh cần uống, và một vài thứ thuốc để dán lên lưng. Mọi người rất đỗi ngạc nhiên. Làm sao mà con của một người nông dân lại biết được những chuyện như thế này được?
Các bác sĩ làm theo lời Edgar và chẳng bao lâu sức khỏe của anh trở nên khá hơn rõ rệt.
Có một điều ngạc nhiên nữa là làm thế nào mà anh biết được những tên thuốc trong khi đang mê man bất tỉnh? Từ trước đến nay anh chưa bao giờ đọc một quyển sách nào về y học và ở trang trại Kentucky cũng làm gì có nhiều sách y học mà đọc.
Những khả năng kỳ lạ của Edgar Cayce chẳng bao lâu lan ra khắp vùng Kentucky. Các bác sĩ để ý thấy rằng anh gọi những tên thuốc dài dằng dặc trong lúc đang ở trạng thái bất tỉnh, nhưng khi tỉnh dậy anh lại chẳng hiểu gì cả. Anh có vẻ biết rất nhiều điều có giá trị về cách chữa bệnh. Cho nên người ta cho rằng cần phải cho anh bất tỉnh trở lại. Lúc đó các bác sĩ có thể hỏi anh một số câu hỏi đặc biệt và có lẽ nhận được những câu trả lời có ích. Nhưng Edgar không thích làm như vậy và không muốn tham gia vào chuyện đó.
Rồi một hôm bạn anh bị ốm nặng. Edgar lại mô tả một loại thuốc công hiệu bằng tiếng Latinh, thứ tiếng mà anh chưa hề học. Thứ thuốc đó được điều chế và đưa cho người bệnh uống, và sau một tuần bệnh tình của bạn anh trở nên đỡ hẳn.
Sau một loạt những sự kiện kỳ lạ này, câu chuyện của Edgar vốn đã làm cho giới y học phải ngạc nhiên bị rơi vào quên lãng. Nhưng khi Edgar Cayce lặp lại chuyện này lần thứ hai, một số bác sĩ Mỹ đã họp nhau lại để xem xét hiện tượng này. Edgar chưa bao giờ học y và các tên bệnh. Liệu có ai đó truyền những ý nghĩ này vào đầu anh khi anh bất tỉnh không? Nếu có thì ai làm chuyện đó và điều này diễn ra như thế nào? Ý nghĩ có thể truyền qua không gian từ trí óc này sang trí óc khác được không? Các bác sĩ không tin rằng điều này có thể xảy ra được.
Một hôm, anh nghe tin một người đàn ông giàu có bị bệnh nặng và anh nói rằng người ốm phải uống một loại thuốc đặc biệt. Nhưng loại thuốc này chẳng tìm đâu ra, và không một thầy thuốc nào biết loại thuốc đó cả. Những lời thông báo được đăng trên báo chí yêu cầu bất cứ ai có vị thuốc đó thì gởi cho Edgar Cayce.
Cuối cùng một bác sĩ ở Paris viết rằng ông biết thứ thuốc đó, bố ông trước đây có điều chế nó nhưng bây giờ thì không còn viên nào.
Một vài ngày sau, Cayce nhắc đến một loại thuốc đặc biệt khác, nhưng anh ta lại còn biết cả tên thành phố nơi có thể tìm thấy thuốc đó. Thành phố ở rất xa, nhưng có người gọi điện thoại đến đó. Người ta cho biết thuốc đó thực tế đang được điều chế, chưa có sẵn để bán trên thị trường.
Chẳng ai có thể giải thích được những chuyện lạ lùng trên đây, nhưng một điều không thể phủ nhận được là Cayce chữa khỏi được rất nhiều người. Cho nên sự giúp đỡ của anh ngày càng được nhiều người bệnh cần đến. Mỗi ngày anh phải tiếp bệnh nhân hai buổi để trả lời những câu hỏi về các bệnh khác nhau và anh phải trả lời trong lúc ở trạng thái bất tỉnh. Nhưng sau khi tỉnh lại anh chẳng nhớ gì về các cuộc tiếp xúc với mọi người cả.
Người ta hỏi anh làm sao anh có thể trả lời những câu hỏi về y học như thế. Anh trả lời là anh bước vào trí óc của những người khác. Anh có thể đi vào trí óc bệnh nhân và thấy được nguyên nhân gây bệnh. Sau đó anh tìm một bác sĩ tài năng và đi vào trí óc ông ta. Anh có thể hỏi trí óc đó cần phải làm gì và sau đó anh có thể cho mọi người những lời khuyên tốt nhất. Bản thân anh hầu như chẳng biết gì về công việc của bác sĩ cả, nhưng anh có khả năng kỳ lạ là đi được vào trí óc người khác.
Có một người khác có thể làm được một điều tương tự như vậy. Anh ta tên là Hurkos, sống tại Nijmegen, Hà Lan. Anh đã từng giúp cảnh sát nhiều lần.
Một đêm hồi tháng 8 năm 1951, Hurkos đang đi chơi với bạn, đột nhiên anh đứng lại và nói: "Sắp sửa có một đám cháy!" Bạn anh ngạc nhiên nhưng sẵn sàng tin anh ngay, mặc dù không hiểu sao Hurkos lại biết được điều đó.
Hai người vội vã đến đồn cảnh sát. Nhưng khi đến nơi họ biết là có ai báo tin cho cảnh sát biết rồi. Hurkos giải thích rằng anh đã biết có đám cháy đó trước khi nó được đốt lên, nhưng tất nhiên cảnh sát khó có thể tin anh được. Hurkos bèn đòi gặp viên trưởng đồn và mô tả tất cả những gì mà ông ta có ở trong túi. Thậm chí anh còn nói được tên in trên một mẩu bút chì trong túi của ông. Tất nhiên anh không thể nhìn xuyên qua vải được, nhưng anh đúng. Điều này làm cho cảnh sát lắng nghe anh chăm chú hơn, và họ bắt đầu tin anh. Anh muốn giúp cảnh sát và họ nhận lời.
Anh được dẫn đến một tòa nhà bị đám cháy thiêu hủy. Trong những vật còn vương lại sau đám cháy, anh tìm thấy vài thứ bị cháy dở. Anh lấy tay sờ nắn vật đó rồi nói: "Thủ phạm là một cậu bé học sinh".
Trước đó cảnh sát nghĩ đám cháy do một người đàn ông gây ra. Nhưng bây giờ họ liền đi tìm những bức ảnh chụp học sinh các trường học khác nhau ở Nijmegen và đem về đồn cảnh sát. Hurkos xem ảnh và ngay lập tức lấy ra một bức và kêu lên: "Chính chú này! Đây là cậu bé đã gây ra đám cháy đó".
Người sĩ quan cảnh sát cười phá lên vì cậu bé 17 tuổi này là con trai một người giàu có. Cậu ta không phải là loại người đi lang thang trong thành phố và nổi lửa đốt nhà của người khác. Anh ta giải thích điều này cho Hurkos nghe, nhưng Hurkos vẫn không thay đổi ý kiến.
Cậu học sinh được dẫn đến đồn cảnh sát, nhưng cậu nói rằng cậu chẳng biết gì về đám cháy cả. Hurkos liền bảo cậu cho xem vết xước trên chân trái lúc này được quần áo che đi.
"Vết xước nào cơ ạ?" - Cậu bé hỏi.
"Có vài vết xước trên chân đó" - Hurkos trả lời. - "Cậu bị xước trong lúc bỏ chạy sau khi gây ra đám cháy?". Cậu bé sững người và đưa chân ra cho mọi người xem. Quả thật trên chân cậu có vết xước đỏ, và cậu bé phải cúi đầu nhận tội. Lúc đó người ta mới biết là cậu bị bệnh tâm thần không ổn định và được bác sĩ điều trị.
Một lần khác, có một người đàn ông bị bắn chết ngay trên ngưỡng cửa nhà mình. Hurkos được mời đến hiện trường và lấy tay sờ quần áo nạn nhân. Sau đó, anh báo cho cảnh sát biết tên sát nhân là một người đàn ông có một chiếc chân gỗ. Anh cũng nói là sau khi giết người thủ phạm vứt súng lên nóc nhà.
Khẩu súng được tìm thấy và dấu tay cho biết thủ phạm là bố vợ của nạn nhân. Điều đó hoàn toàn đúng vì người này có một chiếc chân gỗ. Những chuyện lạ lùng trên đây đã xảy ra? Giải thích chúng là nhiệm vụ đang đặt ra trước các nhà khoa học.
Đặng Xuân Thu dịch
(Theo quyển Mysteries của G.C. Thornley)
(TCSH54/03&4-1993)
Tải mã QRCode
VALENTIN HUSSON
Trước hết, ta phải hướng sự chú ý đến động từ “cách ly” khi mà với tư cách là một ngoại động từ, nó có nghĩa là sự vứt bỏ ra khỏi một giới hạn; trong khi với tư cách là một nội động từ, nó hướng đến sự ràng buộc để ở lại trong một vài giới hạn nhất định. Nó vừa nói lên cả sự vứt bỏ lẫn sự rút lui; vừa hiện diện vừa vắng mặt.
HIỀN LÊ
Hiroshi Sugimoto (sinh năm 1948 tại Tokyo) là nhà kiến trúc sư, nhiếp ảnh gia người Nhật.
Palomar là tác phẩm hư cấu cuối cùng của Italo Calvino (1923 - 1985), một trong những nhà văn lớn nhất của Ý ở thế kỉ 20, xuất bản tháng 11 năm 1983.
TRẦN KIÊM ĐOÀN
Nếu bình thường thì giờ nầy chúng tôi đang ở “hộp đêm” trong bụng máy bay Eva trên đường về Quê hương và đang vượt nửa sau Thái Bình Dương.
JEAN-CLET MARTIN
Trong thời điểm cách ly và tự cách ly này, thế giới tái khám phá ra chiều kích mang lại cho nó một phương hướng nhất định.
Slavoj Žižek, nhà triết học người Slovenia, được mệnh danh là “nhà triết học nguy hiểm nhất ở phương Tây” hiện nay. Ông nổi tiếng với tác phẩm Đối tượng trác tuyệt của ý thức hệ (The Sublime Object of Ideology, 1989), ở đó ông đã kết hợp quan niệm duy vật Marxist và phân tâm học Lacan để hướng đến một lý thuyết về ý thức hệ.
MARKUS GABRIEL
Trật tự thế giới bị lung lay. Một loại virus đang lây lan trên quy mô vô hình của vũ trụ mà ta không hề biết được những chiều kích thực sự của nó.
ĐỖ LAI THÚY
M. Bakhtin (1895 - 1975), nhà nghiên cứu văn học Nga - Xô viết có tầm ảnh hưởng bậc nhất ở Việt Nam. Ông là nhà lý luận tiểu thuyết. Người phát hiện/minh ra tiểu thuyết đa âm, tính đối thoại, nguyên tắc thời-không, tính nghịch dị và văn học carnaval hóa…
THÁI THU LAN
Émile Zola là một nhà văn hiện thực lớn nhất đồng thời cũng phức tạp nhất của nước Pháp ở cuối thế kỷ thứ 19, là người sáng lập lý luận về chủ nghĩa tự nhiên, là một tấm gương lao động không mệt mỏi, là một chiến sĩ có tinh thần chiến đấu dũng cảm chống chiến tranh phi nghĩa, chống quyền lực tàn bạo và bênh vực quần chúng lao động nghèo khổ.
NGUYỄN TÚ ANH - TRẦN KỲ PHƯƠNG
Trong nghệ thuật Ấn Độ cũng như nghệ thuật Chàm, hình tượng con chuột luôn mang ý nghĩa tốt đẹp, đó là con chuột nhà hay chuột nhắt (mouse), chứ không phải chuột cống.
ANĐRÂY GOCBUNỐP (Tiến sĩ ngôn ngữ học Liên Xô)
Gần đây đã có những khám phá rất có ý nghĩa ở Washington và London, trong những cuốn sách đã yên nghỉ trên các kệ sách thư viện trong cả bốn thế kỷ nay.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Jen học trước tôi hai năm, đàn chị. Cô là thường trú, PGY- 4, tôi là PGY- 2. Trong nghề chúng tôi, hơn nhau một năm đã là tình thầy trò, huống gì hơn hai.
LƯU TÂM VŨ
hồi ký
LTS : Nhà văn Lưu Tâm Vũ sinh năm 1942, tốt nghiệp sư phạm Bắc Kinh năm 1961, sau đó dạy học nhiều năm ở Bắc Kinh. Truyện ngắn đầu tay Chủ nhiệm lớp đoạt giải thưởng truyện ngắn ưu tú toàn quốc 1978, được coi là tác phẩm mở đầu cho văn học thời kỳ mới.
Cách đây 40 năm khi nhà xuất bản Morrow and Avon chi 5 triệu đô la cho James Clavell, tác giả những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như Hồng Kông ngày ấy, Đại tướng quân, Whirlwind, giới xuất bản ở Mỹ choáng váng. Nhưng bây giờ tiền nhuận bút đã vượt xa kỷ lục ấy.
ALAN BURNS
William Carlos Williams cũng như bất cứ người nào, đến rất gần với việc nhận thức ra lý tưởng mới của chủ nghĩa hình tượng, nhất là trong những bài thơ như “The Great Figure” và “The Red Wheelbarrow”.
Đây là một câu chuyện về di dân được viết theo chương trình “Dự án chiếc giày” (The Shoe Project) được khởi xướng thành lập bởi tiểu thuyết gia Katherine Govier, Toronto, Canada. Chương trình này bao gồm việc giúp các phụ nữ di dân viết một câu chuyện 600 từ về kinh nghiệm di dân của mình và lên một sân khấu nhỏ để trình diễn (đọc) câu chuyện đó trước những khán giả trong vùng. “Dự án chiếc giày” được thực hiện ở Antigonish với sự giúp đỡ của tiểu thuyết gia Anne Simpson và nhà biên kịch Laura Teasdale.
NHƯ QUỲNH DE PRELLE
Tôi đã từng mơ ước về quê nhà để đọc thơ tiếng Việt, để thổn thức cùng thi ca tiếng Việt. Thế mà, ở nơi này, giữa trái tim châu Âu và trong lòng bạn bè quốc tế, tiếng Việt của tôi ngân lên giữa những nhịp điệu, những giọng nói hoàn toàn khác. Và tôi đi đọc thơ, tự bao giờ tôi cũng tự chuyển ngữ những bài thơ của chính mình với bạn đọc ở đây. Đi đọc thơ, bao điều thú vị và những mới mẻ.
HÂN QUY
(Phỏng vấn nhà báo lão thành LÉO FIGUÈRES)
PATRICIA HIGHSMITH
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Một người bạn cũ ở Mỹ kể với tôi rằng gần mười năm nay anh không đi du lịch xa, cũng không về Việt Nam, mặc dù nhớ. Tôi hỏi lý do, anh bảo vì sợ nỗi buồn chán khi phải ngồi trên máy bay mười mấy giờ.