Sóng trên mặt cát

15:57 10/06/2010
VŨ DUY THÔNG        (Thơ - Nghiêm Huyền Vũ, Nxb Trẻ 2000)Khác với bên ngoài, Nghiêm Huyền Vũ trong thơ là người trầm tư, cái trầm tư nhuốm vị triết học.Vây bọc quanh anh là không gian, thứ không gian cô liêu.

Ảnh: Internet

Đó là bầu trời mênh mông không có nơi trú ngụ dù chỉ cho ý nghĩ. Là biển với bãi bờ xa vắng. Là màn sao linh hồn oan khuất. Là đổ nát con đường, ngọn gió vô định. Với một không gian như thế, con người dễ rợn ngợp trước cái vô cùng, hư vô trước cái hữu hạn.

Quanh anh là thời gian, thứ thời gian đầy ắp quá khứ, ngổn ngang buổi chiều và run rẩy, mong manh như số phận. Như một ngày chưa bình minh đã hoàng hôn. Như khoảnh khắc vụt đến không từ quá khứ, không từ tương lai, rồi lại vụt đi trước khi ta kịp nhận. Thời gian trong cảm nhận của Nghiêm Huyền Vũ là thời gian tự tan rã, thời gian chỉ tồn tại trong con người.

Vật vã trong không gian hoang vu, trong thời gian phi nhiên đó, con người thơ trong anh luôn thảng thốt, luôn chới với giữa sự tự tin và mặc cảm như vừa để mất, để trôi đi một phần sống của mình. Bao giờ anh cũng cảm thấy như đã muộn, đã lỡ. Lỡ không hái kịp bông cúc vàng, lỡ hẹn với mùa xuân, lỡ hẹn với tình yêu và lỡ hẹn với chính mình. Và buồn xa xót:

Chợt nhớ, sương giăng mờ trước mặt
Lặng lẽ ngày đang tắt trong cây


Anh bây giờ sóng trên mặt cát
Nỗi khát khô gợn đến chân trời
Biển đã cạn từ lâu đáy mắt
Ảo ảnh buồn ám ảnh khôn nguôi


Nhưng nếu chỉ có vậy thì cùng lắm, cũng chỉ đủ để thông cảm với anh. Thất vọng, cô đơn kể cả đau vờ khóc giả đang hoành hành thơ như một thứ mốt, một kiểu tán. Nghiêm Huyền Vũ làm ta đồng cảm được là ở chỗ sau nỗi đau thật là niềm khát sống cũng rất thật. Hành trình của nhà thơ là những dặm dài đau đớn và hoang vắng nhưng cuộc hành hương đó phải dẫn đến sự sống và tình yêu. Nghiêm Huyền Vũ chưa bao giờ mất tin vào con người, vào cuộc đời. Con người trong anh vật vã trong đêm, nhưng niềm khát khao hạnh phúc của họ vẫn đang cộng hưởng trong tiếng gió cồn cào. Anh tin con người có rất nhiều ước mơ cần đánh thức. Và sau mỗi thảm họa:

Dẫu phải xây tượng đài nước mắt
Sự sống không ngơi nghỉ bao giờ

Đặt đối diện trái tim và thảm họa
Con người thêm lần nữa nhận ra mình.


Vì thế, anh trân trọng người làm vườn tình ái, người đã đốt tim mình thành ngọn lửa để thắp sáng tình yêu và soi tỏ những trang thơ. Anh tin vào cuộc sống như dòng sông vẫn chảy trong đêm giữa đôi bờ lở sạt. Anh tin từ vết thương trai ngọc vẫn âm thầm làm ngọc. Anh nói với người yêu.

Cuối tháng ba, Hà Nội
Em chọn áo màu gì
Mùa hạ còn đang tới
Mùa xuân còn đang đi


và với chính mình, như một cam kết với cuộc đời:

Để tôi đi xa viết cho em câu hát
Câu hát dòng sông vẫn hát
Cả khi không có tôi về
Và không có em.


Tôi yêu cách cảm nhận tinh tế, giọng thơ của người có học, cảm xúc chân thành và ấm nóng trong thơ Nghiêm Huyền Vũ. Tôi tin anh có thể đi xa hơn.

V.D.T
(142/12-00)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRUNG SƠN

    100 NĂM NGÀY SINH BÁC SĨ NGUYỄN KHẮC VIỆN (1913 - 2013)

  • Các tạp chí văn nghệ ở các địa phương trong những năm qua đã đóng góp rất nhiều vào dòng chảy văn học Việt Nam. Đó là nơi góp sức hình thành tên tuổi của nhiều tác giả, tác phẩm từ các địa phương trước khi soi vào gương mặt chung của nền văn học nước nhà, là nơi giữ gìn bản sắc văn hóa văn nghệ của mỗi vùng đất, là nơi khởi thủy của những khuynh hướng sáng tạo mới...

  • NINH GIANG THU CÚC

    Tôi đọc Tim Tím Huế của Bùi Kim Chi bằng tâm trạng, và tâm cảm mình là một kẻ đang được dự phần trong cuộc hành hương về vùng trời hạnh phúc, về thiên đường của tuổi măng tơ, về lứa tuổi mà ai đó đã rất tự hào và trân quý khi họ viết.

  • NINH GIANG THU CÚC

    Tôi đọc Tim Tím Huế của Bùi Kim Chi bằng tâm trạng, và tâm cảm mình là một kẻ đang được dự phần trong cuộc hành hương về vùng trời hạnh phúc, về thiên đường của tuổi măng tơ, về lứa tuổi mà ai đó đã rất tự hào và trân quý khi họ viết.

  • THÁI KIM LAN

    Đầu năm 1999, nhà Văn hóa Thế giới ở Berlin gửi xuống Muenchen cho tôi ngót chục bài thơ, nhờ chuyển ngữ sang tiếng Đức cho tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Berlin vào cuối tháng 3 năm ấy. Như thường lệ không đắn đo, tôi sốt sắng nhận lời.

  • LÊ MINH PHONG

    Đừng đặt tên cho họ…
    Có thể họ còn vô vàn những cuộc phiêu lưu khác nữa.

                               (Robbe - Grillet)

  • PHAN TRẦN THANH TÚ

    “Chính anh là người đã nhẫn tâm với bản thân mình khi tôn thờ chỉ có một điều duy nhất” (Đoản khúc số 97)

  • KỶ NIỆM 123 NĂM NGÀY SINH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

    TRẦN HIẾU ĐỨC

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG 

    Chữ Quốc Ngữ (Q.N) viết theo dạng 24 chữ cái ABC xuất xứ từ các Thầy Dòng truyền giáo Tây Phương mang vào nước ta, cho đến nay gọi là được phổ biến trên dưới trăm năm, gói gọn vào thế kỷ 20.

  • THỤY KHỞI

    Lần hồi qua những trang thơ Lê Vĩnh Thái mới thấy chất liệu thơ từ Ký ức xanh (2004), Ngày không nhớ (2010) cho đến nay Trôi cùng đám cỏ rẽ(*) (2012) hẳn là sự hối hả của dòng chảy ký ức miệt mài băng qua những ghềnh thác thời gian, mà ở độ tuổi của anh có thể bị ăn mòn.

  • Hoàng Minh Tường

    Nhà văn, nhà báo Lê Khắc Hoan xuất hiện và gây ấn tượng trên văn đàn khá sớm: Năm 1959, khi đang là giáo viên trường Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, Lê Khắc Hoan đã có truyện ngắn đầu tay Đôi rắn thần trong hang Pa Kham đoạt giải Khuyến khích báo Thống Nhất (Nguyễn Quang Sáng giải Nhất với truyện ngắn Ông Năm Hạng).

  • LÊ HUỲNH LÂM  

    Khi thơ như một tấm gương phản chiếu tâm hồn của tác giả, phản ánh nhận thức của người sáng tạo với cuộc sống quanh mình, chiếc bóng trong tấm gương ấy là một phần của sự thật. Đôi khi sự thật cũng chưa được diễn đạt trọn vẹn bằng ngôn ngữ của nhà thơ.

  • HOÀNG ANH 

    (Bài viết này, là nén hương lòng tôi thắp dâng lên linh hồn của anh Đơn Phương thân quý!)

  • LGT: Cho đến nay văn học Hậu hiện đại ở Việt Nam vẫn đang là một hấp lực đối với người sáng tạo lẫn phê bình, nhất là giới viết trẻ. Sông Hương đã từng có một chuyên đề sớm nhất về vấn đề này vào số tháng 7/2011.

  • BÙI VIỆT THẮNG  

    Bản thảo tập truyện Nhiệt đới gió mùa tôi nhận được từ nhà văn Lê Minh Khuê qua email cá nhân, in ra 115 trang A4, co chữ 12, đọc phải hết sức chăm chú vì mắt mũi có phần kém sút khi tuổi đã ngoại lục tuần.

  • VĂN GIÁ

    NHÀ VĂN VÕ THỊ XUÂN HÀ - Sống và làm việc tại Hà Nội. Quê gốc: Vỹ Dạ, Huế. Hiện là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 8). Trưởng Ban Nhà văn Trẻ, Tổng Biên tập Tạp chí Nhà văn. Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm (khoa Toán Lý). Tốt nghiệp thủ khoa khóa 4 Trường viết văn Nguyễn Du.

  • HỒNG NHU 

    Tạp chí Thơ số tháng 10 năm 2012 in bài “Hiểu và dịch bài thơ Đường Khúc Lương Châu như thế nào” của Phạm Thức. Tôi liền đọc ngay vì nói chung về Đường thi hàng nghìn bài nổi tiếng và nói riêng về tác giả là một nhà thơ tài danh: Vương Hàn.

  • THƯ PHÙNG QUÁN GỬI TÔ NHUẬN VỸ

    Sự thay đổi, tiến bộ của Việt Nam sau năm 1975 là to lớn và rõ rệt, đặc biệt trên lãnh vực đặc thù như Văn học, nếu nhìn lại những “vết sẹo” của một thời quá khứ để lại trên cơ thể nền Văn học, mà tiêu biểu là đối với nhà thơ Phùng Quán.

  • GS. VŨ KHIÊU 

    Lần này Vạn Lộc cho in trên 72 bài thơ Đường luật. Đối với Vạn Lộc, đây là một sự táo bạo và cũng là một thử thách với chính tài năng của mình.

  • TRẦN NGHI HOÀNG 

    “mảnh|mảnh|mảnh”, chỉ nhìn tập thơ, chưa cần đọc gì hết, đã thấy là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình với bố cục táo bạo và vững vàng. Không offset bảy màu, không chữ nổi giấy tráng glassy, chỉ đơn giản hai màu đen và trắng. Đơn giản, nhưng rất công phu với khuôn khổ 12,5 x 26.