Sống mãi những trang ‘Nhật ký Đặng Thùy Trâm’ và ‘Mãi mãi tuổi 20’ của Nguyễn Văn Thạc

14:55 30/04/2020

Kỷ niệm 45 năm ngày thống nhất Đất nước (30/4/1975 - 30/4/2020)

PHONG LÊ

Ảnh: Internet

30 năm đã qua, tính từ 30 tháng Tư năm 1975 đến 2005 là năm hai cuốn nhật ký của Nguyễn Văn Thạc(1) và Đặng Thùy Trâm ra đời(2), cùng trước đó là 30 năm trong chiến tranh (1945 - 1975), chúng ta đã có một nền văn học viết về chiến tranh của một đội ngũ người viết - dẫu chuyên hoặc không chuyên, đều có chung một tâm nguyện là viết sao cho vừa chân thực, vừa có đóng góp tích cực cho cuộc chiến đấu đòi hỏi tận cùng những nỗ lực và hy sinh của toàn dân tộc. Và với hai cuốn nhật ký này, chúng ta lại có dịp thử nghiệm lại tính chân thực của nền văn học ấy; một thử nghiệm cho thấy độ tin cậy cao nhất về những gì đã được viết; và cả độ tin cậy về sự đón nhận, sự bàn luận và đánh giá của các thế hệ đến sau khi chiến tranh đã lùi vào lịch sử.

Đây là hai cuốn nhật ký người viết chỉ viết cho riêng mình, và giá có một mong mỏi xa xôi nếu mình còn sống, hoặc nếu cuốn nhật ký còn lưu giữ được thì cũng chỉ là cho người thân của mình. Như vậy có nghĩa là nó đã được viết với sự trung thực tuyệt đối với bản thân, và tuyệt không bị chi phối bởi bất cứ áp lực nào khác - áp lực của sự in ra, sự phổ biến để có một lượng người đọc nào đấy ngoài bản thân mình. Cả hai, Thạc và Thùy - nhân vật chính trong hai cuốn nhật ký đương nhiên là không có chủ định làm văn; và trong khi viết, họ cũng không nghĩ là sẽ có một ai đó, ngoài người thân đọc mình. Đây là mấy dòng trong trang cuối nhật ký Nguyễn Văn Thạc: “Ngày mai, ngày kia… Phải để lại tất cả ở đằng sau. Tôi không thể để cho ai đọc những dòng suy nghĩ này. Trừ khi tôi không còn sống mà gìn giữ nữa”. Vậy đây là một tấm gương soi trung thành tuyệt đối của chỉ một người. Thế nhưng khi hai cuốn nhật ký đã trở thành cuốn sách cho công chúng, cho sự đọc của cả nước, thì những gì được ghi trong đó bỗng trở thành tấm gương trung thực cho cả một thời, của cả một thế hệ.

Với Mãi mãi tuổi 20 của Nguyễn Văn Thạc, đó là tấm gương soi tâm hồn của một thế hệ dấn thân, không ngại gian khổ, hy sinh. Một thế hệ tìm được sự thể hiện khát vọng và mơ ước của mình trong những vần thơ lửa cháy của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Trần ĐăngKhoa… Và tình yêu (lúc nào mà chẳng thế!) nó là sợi giây, là mạng lưới bền chặt gắn anh với hậu phương, qua đó, làm nổi lên màu sắc trữ tình và chất lãng mạn của một thời, không thể thiếu, như một điều cần thiết của cuộc sống để cho con người có thể đi vào chiến trường và đối mặt với cái chết.

Bấy giờ là những năm sau Mậu Thân 1968 và chiến trường Quảng Trị đang nóng rẫy trong một cuộc đối đầu quyết liệt giữa địch và ta. Cuốn nhật ký đã được gửi ra Hà Nội từ Kỳ Anh (Hà Tĩnh); và chàng trai Nguyễn Văn Thạc đã không còn thời gian và hoàn cảnh để ghi tiếp, sau những dòng này: “Kẻ thù không cho tôi ở lại. Phải đi. Tôi sẽ gửi về cuốn nhật ký này, khi nào trở lại, khi nào trở lại tôi sẽ viết nốt những gì lớn lao mà tôi đã trải qua từ khi xa nó, xa cuốn nhật ký thân yêu của đời lính.

Ừ, nếu như tôi không trở lại? Ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng sau này? Tôi chỉ ao ước rằng, ngày mai, những trang giấy còn lại đằng sau sẽ toàn là những dòng vui vẻ và đông đúc. Đừng để trống trải và bí ẩn như những trang giấy này.

(...)

Kính chào Hậu phương - Chào gia đình và người tôi yêu. Đêm nay tôi đi. Nhất định có ngày trở về Thủ đô yêu quý của lòng tôi”.

Ngày ghi và địa chỉ dòng cuối nhật ký là 3-6-1972 - Ngã Ba Đồng Lộc. Trước mặt anh tân binh Hà Nội lúc này là mùa hè đỏ lửa của Quảng Trị…

Khi Thạc viết trong nhật ký: “Liệu mình có thể làm được gì cho văn học chống Mỹ hay không? Biết bắt đầu từ đâu, và đi theo con đường nào? Làm sao có được một bàn tay dẫn dắt của người đi trước?”; tôi rất tin là nền văn học Việt Nam chống Mỹ đã mất đi một cây bút kế tiếp hoặc ở bên cạnh Phạm Tiến Duật, Ca Lê Hiến, Bế Kiến Quốc, Hoàng Nhuận Cầm…

Và chắc chắn trong thế hệ những người vào chiến trường có không ít những người như Nguyễn Văn Thạc...

Với Nhật ký Đặng Thùy Trâm - đó là chân dung một con người có đủ tầm vóc một anh hùng trong lực hấp dẫn tuyệt vời của nó - ở lý tưởng sống, ở các quan hệ sống, và ở một thế giới tâm hồn tôi cho là chưa có một hình tượng nào trong văn học viết về chiến tranh của ta đạt được. Và cái đẹp ở chị, cái cao thượng ở chị, cái tuyệt vời ở chị là cái thực 100%, cho đến tận ngày chị hy sinh. Và sau khi chị hy sinh, sau khoảng lặng 30 năm, cho đến khi cuốn nhật ký được in ra, chị lại vẫn sống tiếp một cuộc sống thiêng liêng trong lòng bao nhiêu người sống. Nếu nói đến tính chân thực trong sự sống lan tỏa và vĩnh cửu của nó - đó là hình ảnh Đặng Thùy Trâm trong nhật ký. Nếu có một con người trong trọn vẹn của cái Đẹp vừa là trần gian, vừa như huyền thoại; vừa khát khao tìm đến người thân và đồng chí như một điểm tựa, vừa lại là điểm tựa vững chãi cho bao người; vừa kiên cường mạnh mẽ như một hiệp sĩ, lại vừa mềm mại, tinh tế như một nhành hoa, trong những cảm nhận về thơ, văn, nhạc, họa… thì đó là Đặng Thùy Trâm. Con người ấy, ở tuổi ngoài 25, với những gì chị để lại qua nhật ký, đã làm vinh quang cho Đảng khi chị nói đến cái nguyệnvọng luôn luôn bị cản trở mà không sớm được kết nạp - trong một lá thư gửi về gia đình: “Ai đâu có thể vì tiền tài, danh vọng mà ra đi, còn con, ngoài Đảng chắc không ai có thể làm con xa với gia đình!” Và cũng qua nhật ký của chị, ta hiểu Đảng có một sức hút thiêng liêng. Chị cũng làm vinh quang cho nhà trường xã hội chủ nghĩa, nơi đã cho chị một khát vọng cống hiến để vào chiến trường; và một tri thức cùng tay nghề để phụ trách một bệnh viện huyện, trong 3 năm - nơi phải chịu những khó khăn và hy sinh nhiều nhất, so với bất cứ ai, ở bất cứ vị thế hoặc vị trí nào nơi chiến trường. Chị cũng đã góp phần tôn vinh những câu thơ của Bác Hồ, của Tố Hữu và nhiều người viết khác vốn đã hòa được vào bầu khí quyển một thời của dân tộc. Chị cũng đã tôn vinh chính cái chất gọi là “tts” (tiểu tư sản) mà một thời rất dài bị kỳ thị; và chính chị, cũng như Nguyễn Văn Thạc, từng là nạn nhân, nó là những giây phút chị mở Đài để được gội trong các giai điệu nhạc cổ điển; được ngắm trăng trong yên ắng tuyệt đối của bệnh viện vừa sau một trận càn; được trở về với kỷ niệm hậu phương, trong đó có một tình yêu chị muốn quên đi nhưng không sao quên được; được mơ về Hà Nội - một thời tuổi trẻ... Và nhất là được tự do trong một nỗi cô đơn, và buồn - những nỗi buồn làm thanh sạch và tôn cao con người. Để từ đó ta hiểu vì sao mà những “nỗi buồn chiến tranh” đã trở thành một nhu cầu tự nhiên và cần thiết ở con người, trong và sau khi chiến tranh đã kết thúc, dẫu với bất cứ khoảng cách nào của thời gian.

Bởi, cớ sao lại không thể buồn? Đây là một đoạn nhật ký: “Thêm một tuổi đời, vậy là cái tuổi ba mươi đâu còn xa nữa. Vài năm nữa thôi mình sẽ trở thành một chị cán bộ già dặn, đứng đắn. Nghĩ đến đó mình thoáng thấy buồn. Tuổi xuân của mình đã qua đi trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuổi trẻ. Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi? Nhưng… tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại nhiều ước mơ hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có”.

Với Nhật ký Đặng Thùy Trâm buồn choán nhiều trang lắm. Ngay vào đầu nhật ký đã thấy buồn. Không phải vì gian khổ và hiểm nguy, trong đối mặt với nhiệm vụ rất nặng và với kẻ thù lúc nào cũng rình rập; với pháo bầy, rốc két, trực thăng… Không phải vì cái im vắng của núi rừng, và lầm lội của mưa lũ. Cũng không phải chỉ vì xa quê hương Hà Nội, xa người thân. Cũng không phải chỉ vì một mối tình sau 8 năm trắc trở. Mà còn là vì quan hệ giữa con người - những người tốt và không tốt, hoặc quá xấu; những ganh tỵ và ghen ghét, những hẹp hòi và đố kỵ đối với cách sống, cách nghĩ được gọi là… tiểu tư sản. Cũng có nghĩa là do một đời sống nội tâm quá phong phú và quá nhạy cảm ở Thùy. Cuộc sống nơi chiến trường ở Thùy cố nhiên có nhiều niềm vui trong kết quả công việc, trong tình thương yêu của đồng bào, đồng đội, nhưng niềm vui ít khi trọn vẹn. Vào Đảng, trong nhật ký 27-9-1968 là một ngày vui, nhưng “sao nhỏ quá so với ý nghĩa của ngày vui. Vì sao vậy hở Thùy? Phải chăng như hôm nào Thùy đã nói: như một đứa con khát sữa mẹ khóc đã mệt rồi, miếngsữa nuốt vào không còn nguyên hương vị thơm ngon và cái thú vị của nó”. Biết bao đồng đội đã dành cho Thùy những tình cảm thân thương nhất. Nhưng trong mọi mối quan hệ đó vẫn cứ để lại cho Thùy không ít dằn vặt, băn khoăn, bởi Thùy luôn luôn đòi hỏi ở nó rất cao, luôn luôn Thùy đặt nó trong một soi xét rất nhiều chiều, nơi một cuộc sống thử thách con người nghiệt ngã nhất.

Buồn gắn với nhớ thương; vì Thùy khao khát sống tận cùng với người; và cũng đòi hỏi người sống tận cùng với mình; nhưng đó là điều không dễ lúc nào cũng đáp ứng được - do hoàn cảnh. Buồn còn gắn với cô đơn. Những trang trải trên mặt giấy cho thấy con người này luôn phải chống chọi với bản thân, thầm lặng mà quyết liệt. Nhật ký 22-7-69: “Chiều mưa xa nhà. Buồn nhớ mênh mông dày nặng như màn mưa đang che phủ quanh chân trời (…) thực ra không phải vì mưa đang rơi, không phải vì nếp nhà tranh không đủ che mưa với cảnh nhà cô đơn hiu quạnh này làm mình cảm thấy buồn, mà từ mấy bữa nay về sống ở đồng bằng, mình thấy cô đơn kỳ lạ. Những buổi sáng mặt trời lên trên mặt biển, những buổi chiều hoàng hôn trên cánh đồng xa và những đêm trăng rực rỡ trên bờ cát trắng, tất cả đều là cảnh đẹp nhưng mà nào có thấy vui”.

Con người trong phận sự làm người, sao cho xứng đáng với chất người - đó là khao khát, là ao ước xuyên suốt nhật ký Đặng Thùy Trâm. Cho đến trang cuối, trước lúc hy sinh, ở Thùy vẫn là sự kết đọng một khao khát cháy lòng để vượt thoát cô đơn: “Không, mình không còn thơ dại nữa, mình đã lớn, đã dày dạn trong gian khổ, nhưng lúc này đây sao mình cảm thấy thèm khát đến vô cùng bàn tay chăm sóc của một người mẹ mà thực ra là một bàn tay của một người thân hay tệ hơn chỉ là một người quen cũng được. Hãy đến với mình, nắm chặt bàn tay mình trong lúc cô đơn, truyền cho mình tình thương, sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian khổ trước mắt”.

*

Ba mươi năm sau chiến tranh đủ cho mọi ký ức trở nên xa vời. Thế mà với hai cuốn nhật ký của Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm xuất bản năm 2005 lại có một dịp cho ta trở lại một thời đạn bom, tận cùng hy sinh, tận cùng gian khổ, nhưng cũng tận cùng đằm thắm tình đời và tình người. Phải gồm cả hai phía đó mới đạt được vẻ chân thực của chính nó, mà thêm một lần nữa, Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm đã là chứng nhân, là phát ngôn có sức tin cậy cao nhất.

Và vẫn tình đời, tình người đang sống tiếp cuộc sống 30 năm sau của nó. Sống trong một lưu luyến không dứt, và bỗng cuộn trào vào tháng 5/2005, khi hai cuốn nhật ký lần lượt đến với bạn đọc, với mỗi cuốn trên dưới 400.000 bản được ấn hành. Đó là cơ hội cho sự huy động và hội tụ ký ức của biết bao lớp bạn bè, đồng đội thân quen; bao người thân trong gia đình; bao địa chỉ là đất ở hoặc đất ghé qua, trên hành trình Hà Nội vào chiến trường. Và của cả một thế hệ thanh niên ở tuổi 20 đang hào hứng tìm đọc hai cuốn nhật ký để tìm đến, hoặc củng cố lại niềm tin về sức mạnh của tuổi trẻ, trong một thử thách mới của đất nước, chẳng kém trong chiến tranh: thử thách của thời bình.

Cũng là một dịp cho thấy để có hiện thực hôm nay, dân tộc đã đi qua bao mất mát không có gì bù đắp được. Bởi cả hai, ngẫu nhiên mà có, để cho ta soi vào sự sống tuyệt đẹp ở hai con người. Nhưng còn biết bao người, hàng vạn, hàng triệu người khác đã ngã xuống mà không có gì để lại, cũng trong những tư thế không kém nhẹ nhàng như Thạc, không kém anh hùng như Thùy Trâm. Để trở thành vô danh - một vô danh vĩ đại! Cũng như Thạc và Thùy đã trở nên vô danh 30 năm. Còn họ là vô danh vĩnh viễn.

Luận đề này thật xót xa, nhưng không thể không nói đến: Chiến tranh đã cướp đi của dân tộc những con người ưu tú nhất. Như Nguyễn Văn Thạc. Như Đặng Thùy Trâm.

Cùng với hai cuốn nhật ký ta lại có một cơ hội suy tôn chức năng và giá trị của văn chương, qua đóng góp của hai tên tuổi mới, không “chuyên nghiệp”, chỉ ngẫu nhiên ghé qua, mà mở ra biết bao chân trời cho sự nhận thức cuộc sống trong chiều sâu thăm thẳm của nó, và cho sự rung động kết nối giữa con người với con người, không phải chỉ trong giới hạn một quốc gia mà là tất cả những người khác màu da, khác chủng tộc; không phải chỉ sau 30 năm trong khoảng lặng mà rồi sẽ tỏa sáng sự sống bất diệt của nó, cho lâu dài và vĩnh viễn.

Tháng Ba - 2020
P.L
(TCSH374/04-2020)

--------------
1.Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc; Nxb. Thanh niên; 2005.
2. Nhật ký Đặng Thùy Trâm; Nxb.Hội Nhà văn; 2005.





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM HỮU THU

    Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
    Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.

  • TRẦN NGUYÊN

    Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.

  • PHẠM HỮU THU
           Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    “Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).

  • TRẦN THỊ KIÊN TRINH

    Mùa hè năm nay tôi có dịp trở lại Sài Gòn. Thành phố với bao đổi thay nhưng tôi chưa kịp nhận thấy hết bởi thời gian tôi lưu lại Sài Gòn quá ngắn ngủi.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Cũng lạ cho cái xứ Huế của tôi, cái chi cũng khác hơn thiên hạ. Nắng thì nắng cháy da phỏng trán, mưa thì mưa thúi đất thúi đai, dầm dề không dứt. Vài ba năm lại một trận lụt, trận bão to đùng.

  • BÙI KIM CHI

    “Tháng 7 nước nhảy lên bờ”. Mà lên bờ thiệt. Mưa. Mưa. Mưa… kéo dài lê thê. Lúc đầu nhỏ sau lớn dần. Nặng hạt. Xối xả. Cây cối trong vườn ngả nghiêng theo mưa và gió. Cây Lựu trước sân nhà tôi tơi tả. Trời tối dần. Mưa càng lúc càng to. Ào ào như thác đổ. Mưa suốt đêm. Sấm đất cuốn vào mưa. Ầm ầm. Ào ào. Âm thanh rộn rã…

  • Khi những giọt mưa ngâu tháng bảy bất ngờ trở về, làm xao động cả bầu trời mệt mỏi đang chìm lặng trong lòng sông Hương, Huế bỗng rùng mình chợt tỉnh cơn mê mùa hạ. Đó cũng là thời khắc mùa Vu lan đang về trên đất trời cố đô.

  • Hồi còn học ở Trường Đại học Sư phạm Huế, tôi có hai người bạn, hợp thành một nhóm, thường uống rượu với nhau khi vui cũng như khi buồn.

  • LTS: Tác giả của câu chuyện dưới đây, sinh ra và lớn lên ở làng quê Triều Sơn Nam, xã Hương Vinh, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Anh sinh ra trong sự oan nghiệt khủng khiếp của cuộc sống khi buổi sáng mẹ anh quằn quại nghe tin đau xé mất chồng, buổi chiều mẹ đón nhận tiếng khóc chào đời của anh.

  • NGUYỄN LỆ BA

    Gia phả họ Nguyễn Quang ghi chép, tổ tiên chúng tôi là những người đã ra đi từ đất Huế. Thuở dong buồm về phương Nam đi tìm đất mới, những lưu dân đầu tiên đến dựng làng lập ấp trên vùng sông nước quê tôi chỉ vỏn vẹn vài dòng họ với đôi ba chục con người.

  • BÙI KIM CHI

    Đã có một lần tôi được trở về thăm Huế vào một mùa trăng. Cảnh vật thiên nhiên trời ban riêng cho Huế làm Huế duyên dáng và đẹp lạ lùng vào những đêm trăng. Trăng Huế vì thế mà có nét đẹp rất riêng, là lạ, duyên dáng, lộng lẫy và quyến rũ trong phong cảnh vừa thơ, vừa duyên và lãng mạn của trời đất Huế về đêm.

  • NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỊ PHÁP THIÊU THÂN

    NGUYỄN BỘI NHIÊN

  • Một nam sinh như tôi lại học trường nữ trung học Đồng Khánh (trường THPT Hai Bà Trưng hiện nay), có thể một số người cho đó là chuyện lạ đời. Nhưng đấy lại là sự thật 100%! Tuy tôi chỉ học ở trường Đồng Khánh một năm lớp năm bậc tiểu học (bây giờ là lớp 1) vào khoảng những năm cuối thập kỷ 40 đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Nhưng không hiểu tại sao tôi lại còn nhớ nhiều những kỷ niệm về năm học đầu đời ấy mãi tới tận bây giờ.

  • TRIỆU BÔN
             Hồi ký

    Mùa mưa năm 1968 ở mặt trận đường Chín - Khe Sanh, trung đoàn 246 chúng tôi được gọi đùa là trung đoàn hai bốn đói. Ngày ngày chúng tôi sống bằng ba nguồn chính: thịt thú rừng, rau môn thục, và đỗ xanh.

  • NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi niềm đau đáu về quê hương, nơi mình được sinh ra và chắt chiu nuôi dưỡng trong từng hạt cát, từng trận mưa dầm dề thúi trời thúi đất hay nắng lửa trên cồn khô cát cháy, mà những con người ở đây sẵn mang một tấm lòng lồng lộng gió trời trải đi khắp muôn phương...

  • BÙI KIM CHI

    Tôi đang đứng ở đây. Bến xe đò Đông Ba của thế kỷ trước. Bùi ngùi. Xúc động. Bến xe đã không còn. Thật buồn khi nơi này đã vắng bóng những chiếc xe đò dân dã, thân thương thuở ấy cùng những tà áo trắng học trò dung dị với giọng Huế trong trẻo ơi ới gọi nhau lên xe kẻo trễ giờ học.

  • NGUYỄN VĂN UÔNG
                         Tùy bút

    Tuổi càng cao càng có nhiều nỗi nhớ vu vơ. Tôi đang trong tình trạng đó. Nhớ cồn cào đến xao xuyến là mỗi dịp xuân về: Nhớ Tết quê tôi. Nhớ tuổi thơ tôi và nhiều nỗi nhớ khác nữa.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Thuở nhỏ, tôi thường trốn ngủ trưa đi nghe hát vè. Ở Huế lúc ấy gọi là nói vè, như theo tôi phải gọi là hát vè thì đúng hơn, bởi người hát có bài có bản, có giai điệu, trầm bổng, có cả nhạc cụ.

  • HỒ XUÂN MÃN
    (Nguyên UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế)

    Năm 1973, để chuẩn bị cho ký kết hiệp định Paris, Khu ủy và Quân khu Trị Thiên - Huế chủ trương tổ chức các lực lượng (bao gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) tổ chức đánh chiếm các căn cứ và phân chi khu địch để giành đất, nắm dân, cắm cờ giành quyền làm chủ.

  • TRẦN THỊ NHƯ MÂN

    Tôi sinh ra trong gia đình quan lại, đã mấy đời làm quan với triều đình Huế(1). Khi tôi lớn lên thì chế độ cai trị của thực dân Pháp đã bước vào giai đoạn ổn định sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Chiếc ngai vàng của nhà Nguyễn từ nay trở đi chắc không còn phải chịu những cơn sóng gió đáng kể chi nữa.