Số phận may mắn của một vở opera

09:49 28/11/2016

Trong khi gần nửa số vở opera của Vivaldi hoàn toàn biệt tăm tích thì "Orlando Furioso" lại tìm được đến hai bản thảo.

Mặc dù không mang phong thái thầy tu, trang phục cũng thời thượng và phóng túng nhưng nhân vật trong bức tranh sơn dầu này được cho là Vivaldi vào khoảng năm 1723 – Tác giả: Khuyết danh; Bảo tàng và Thư viện Âm nhạc Quốc tế, Bologna, Italia.

Antonio Lucio Vivaldi (1678-1741) là một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất thời kỳ Baroque, nguồn cảm hứng cho thiên tài J.S. Bach và W.A. Mozart. Là tay vĩ cầm điêu luyện, hơn 500 tác phẩm của ông chủ yếu dành cho violin độc tấu và dàn nhạc; nhưng bên cạnh đó, ông cũng viết cả các tác phẩm công phu dành cho dàn đồng ca và hàng chục vở opera hoàn chỉnh.

Vào thế kỷ 18, tại Venice, opera là loại hình giải trí cực kỳ phổ biến, không thua gì nhạc pop trong thời hiện đại. Mặc dù bắt đầu sáng tác opera như “nghề tay trái” vào năm 1713 nhưng Vivaldi theo đuổi công việc này suốt 25 năm sau đó và đây cũng là nguồn sống quan trọng nhất của ông. Trong một bức thư gửi nhà bảo trợ của mình - nữ hầu tước Bentivoglio - năm 1737, Vivaldi có nhắc đến “94 vở opera” của ông. Nhưng cho đến nay, giới nghiên cứu mới tìm được bản thảo của khoảng 50 vở, trong đó Orlando Furioso có số phận may mắn khác thường khi không chỉ một mà hai bản tổng phổ của nó đã được phát hiện.

Orlando Furioso được biết đến trước hết qua bản thảo mà Vivaldi sáng tác vào năm 1727 với phần lời của Grazio Braccioli - đây cũng là phiên bản được biểu diễn, thu âm, ghi hình trở lại nhiều lần kể từ năm 1978. Nhưng đến năm 2011, các nhà nghiên cứu lịch sử âm nhạc lại phát hiện một tổng phổ hoàn chỉnh khác của vở opera này, có thể là bản đầu tiên viết năm 1714, nằm lẫn trong tập giấy tờ cá nhân của Vivaldi được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Turin, Italia. Tổng phổ này không được chú ý do không có chữ ký tác giả. Là một học giả về Vivaldi, Federico Maria Sardelli, quyết định khảo sát bút tích học đối với bản tổng phổ một cách kỹ lưỡng. Kết quả khảo sát của ông đã được các chuyên gia hàng đầu xác thực, cho thấy đây chính là chữ viết tay của Vivaldi.

Lần theo lịch sử, các học giả cho rằng Orlando Furioso 1714 đã được diễn đến 40 buổi ở Nhà hát San Angelo (Venice), nhưng thông tin nhạc sĩ và đạo diễn là Vivaldi và cha ông thì lại không được nhắc tới. Các học giả lý giải, lúc đó, Vivaldi vẫn là linh mục và ở vào địa vị một linh mục, ông không muốn gắn tên tuổi của mình với những thứ phù phiếm như opera. Vivaldi được cha đưa vào trường dòng từ năm 15 tuổi; sau mười năm học tập, ông đã được thụ phong thánh chức với bí danh là Linh mục Đỏ, gọi theo màu tóc của ông, và ông sáng tác để phụng sự Thiên chúa hơn vì mong muốn tiếng tăm.

Giống và khác

Trong khi phần lời của hai phiên bản Orlando Furioso gần như trùng nhau thì phần nhạc lại hoàn toàn khác biệt. Điểm nổi bật nhất là phiên bản 1714 có tới 20 aria mới, mà nguyên nhân Vivaldi lược bỏ chúng khỏi phiên bản sau này vẫn đang được tìm hiểu.

Ngoài ra còn một số điều chỉnh như vai Orlando từ giọng nam trung (baritone) trong phiên bản 1714 chuyển sang giọng nữ trung (mezzo-soprano) trong phiên bản 1727. Điều này trùng khớp với đặc điểm của nhiều vở opera sau này của Vivaldi – đó là chủ yếu dùng giọng nữ, bất kể nhân vật đó có phải là nữ hay không. Hiện tại, đóng vai Orlando vẫn là những giọng nữ trung hay nữ trầm.

Ngay tại thời điểm được phát hiện, nhiều người đã lạc quan rằng nếu vở opera được khôi phục, nó sẽ trở thành “bom tấm”. Giới chuyên gia và phê bình đã dành cho nó đủ lời khen có cánh. “Món quà từ Thiên đường” - chuyên gia về Vivaldi, Susan Orlando, nói. Còn Federico Maria Sardelli bình luận, “ Một tác phẩm hoàn toàn mới và vô cùng thú vị”. Theo mô tả của ông, nó đơn giản hơn phiên bản sau này nhưng nó cũng rất đẹp, thấp thoáng âm hưởng trong sáng của bộ bốn concerto cho violin Le Quattro Stagioni. “Không có mối liên hệ nào về chủ đề nhưng ngôn ngữ âm nhạc của chúng rất gần nhau. Đây là một vở opera khác thường… Ông ấy tràn ngập ý tưởng.”

Orlando Furioso gồm ba màn, trong đó các aria thể hiện nội tâm nhân vật khá rõ ràng. Riêng về cấu trúc âm nhạc, giai điệu chủ đề nổi bật hơn hẳn dàn nhạc dây, ngoài ra có phần xen kẽ cho các nghệ sĩ solo thỏa sức sáng tạo. Loại nhịp 12/8 được sử dụng rất khéo léo cùng phong cách nhanh-chậm-nhanh tạo nên những phẩm chất đặc trưng: ngắn gọn, nhịp nhàng và dẫn dắt xúc cảm thính giả đi xuyên suốt tác phẩm.

Đặt cạnh nhau, hai bản tổng phổ chính là nguồn tư liệu quý báu cho người nghiên cứu tìm hiểu quá trình phát triển của phong cách Baroque và sự chín muồi trong sáng tác của Vivaldi.

Chỉ một năm sau khi phát hiện Orlando Furioso phiên bản 1714, chính học giả Federico Maria Sardelli đã chỉ huy dàn nhạc Modo Antiquo do ông sáng lập biểu diễn ra mắt vở opera này tại Festival de Beaune – liên hoan Opera Baroque quốc tế kéo dài một tháng vào mùa hè hằng năm tại TP Beaune, Pháp - hồi tháng 7/2012 và được hãng Naïve, cũng của Pháp, thu âm để phát hành bốn tháng sau đó.

Orlando Furioso kể gì?

Orlando Furioso, tạm dịch là Orlando cuồng nộ, có cốt truyện dựa trên trường ca cùng tên của nhà thơ Ludovico Ariosto. Ra đời ở thời kỳ trung cổ, trường ca này mang thông điệp về tôn giáo và văn hóa pha lẫn với phong cách lãng mạn hiệp sĩ đang thịnh hành lúc đó, mềm mại hơn các tác phẩm thuần tính anh hùng hay giáo huấn cùng thời.

Câu chuyện lấy bối cảnh chiến tranh giữa hoàng đế Charlemagne theo Công giáo và vua Agramante, người trị vì châu Phi. Orlando, chiến binh dũng cảm nhất của Charlemagne, đã quên nhiệm vụ bảo vệ hoàng đế vì si mê công chúa ngoại giáo Angelica. Mở đầu trường ca, Angelica trốn thoát khỏi lâu đài của công tước xứ Bavaria và Orlando bắt đầu công cuộc theo đuổi nàng. Cả hai đã trải nhiều chuyện phiêu lưu cho đến khi Angelica cứu sống Medoro, một hiệp sĩ Hồi giáo bị trọng thương, và đem lòng yêu chàng; sau đó, cả hai bỏ trốn đến xứ Cathay (tên gọi cổ chỉ Trung Quốc). Khi đuổi kịp và vỡ mộng, Orlando phẫn nộ và phá hủy mọi thứ trên đường chàng đi, từ châu Âu tới châu Phi. Ở một tuyến nhân vật quan trọng khác là câu chuyện tình yêu cũng nhiều trắc trở giữa nữ chiến binh Công giáo Bradamante và chàng trai Hồi giáo Ruggiero.

Nguồn gốc của trường ca Orlando Furioso khá giống với truyện Kiều, xuất hiện ban đầu dưới dạng tác phẩm văn học Orlando Innamorato (Chàng Orlando si tình) của Matteo Maria Boiardo năm 1495, sau này mới thành cảm hứng thi ca cho Ariosto và gây ảnh hưởng lớn lên văn hóa đại chúng, bao gồm văn chương, âm nhạc, hội họa. Có thể thấy hình tượng hiệp sĩ Orlando đóng vai trò quan trọng nên Vivaldi chỉ lựa chọn viết nhạc dựa vào cốt truyện từ đoạn Angelica trốn thoát, nhằm dành đất cho cơn cuồng nộ của Orlando, bên cạnh lý do tác phẩm quá dài để chuyển soạn toàn bộ.

Dù là một linh mục, Vivaldi dường như vẫn hiểu rất rõ thứ quyền lực mềm có thể làm chao đảo mọi thứ ở bất kỳ đâu và khi nào, đó là tình yêu. Nhân vật Orlando là một ví dụ điển hình: chàng có sức mạnh phi thường, nhưng vì điên tình mà dùng sức mạnh sai mục đích. Chỉ có cặp đôi Ruggiero và Bradamant hạnh phúc, cái kết này dường như có đôi chút ngầm khen ngợi Ruggiero kiên trì và sáng suốt, trong khi Orlando điên tình mải mê phá hoại và giết chóc để thỏa cơn giận giữ.

Mặc dù con số 94 vở opera được Vivaldi nhắc đến trong thư gửi nữ hầu tước Bentivoglio bốn năm trước khi ông qua đời đôi khi bị xem là có phần “phóng đại”, song giới nghiên cứu cho rằng con số này có thể bao gồm những vở opera viết chung, viết mà không ký tên, và cả những vở opera mà ông đã tham gia dàn dựng. Vivaldi cũng nổi tiếng sáng tác nhanh - ngày nay vẫn còn lưu truyền giai thoại về việc ông sáng tác vở opera Tito Manlio ba hồi, dài hơn 180 phút, chỉ trong năm ngày.


Nguồn: Trang Nguyễn - Tia Sáng

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)

  • Nhạc và lời: NGUYỄN VĂN VŨ

  • TÔN THẤT BÌNH

    Nếu dân ca là suối nguồn cảm hứng của nhân dân lao động trong cuộc sống thì hò là phương thế thể hiện tâm tình tràn đầy xúc cảm một cách trung thực nhất.

  • VĂN CAO
           Hồi ký

    Sau triển lãm Duy nhất 1944 (Salon Unique), tôi về ở một căn gác hẹp đầu phố Nguyễn Thượng Hiền.

  • TÂM HẰNG NGUYỄN ĐẮC XUÂN  

    Tin từ Làng Mai Pháp quốc cho biết: Đêm giao thừa Thầy nói về Phạm Duy cho khoảng 70 cháu sinh viên Việt Nam về thăm Làng. Bài giảng này cũng là một loại hommage(1) cho Phạm Duy. Có thể nghe lại trên mạng chỗ Pháp Thoại online của Thầy vào ngày 30 Tết vừa rồi.

  • Trưa ngày 27/01/2013, cây đại thụ của làng nhạc - Nhạc sĩ Phạm Duy – đã qua đời, hưởng thọ 93 tuổi. Nhạc sĩ Phạm Duy có số lượng tác phẩm âm nhạc đồ sộ, trong đó có nhiều tác phẩm nổi tiếng. Khi còn sống, nhạc sĩ Phạm Duy cũng thường xuyên cộng tác với Tạp chí Sông Hương. Chúng tôi xin đăng lại bài viết cuối cùng của nhạc sĩ đã gởi cho tòa soạn trước khi mất và đã được đăng trên Sông Hương số Tết Quý Tỵ 2013, như một nén hương tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa.

  • “Đời là những cơn mưa vô thường/ Trói chân em bên đường/ Nước dâng cao chân tường/ Đường xa chân ướt phơi nắng dầm sương”...

  • NGUYỄN TẤN TÔN NỮ Ý NHI

    Trong ý niệm của nhiều người từ hạng trí thức cao cho đến bình dân, ngoại trừ dân nghiên cứu dân tộc nhạc học, hát xẩm là một thể loại âm nhạc có xuất thân thấp kém, luôn gắn liền với hình ảnh của người khiếm thị và cây đàn nhị từ góc phố, sân đình hay bãi chợ. Nhắc đến hát xẩm, đa phần người ta liên tưởng ngay đến những ca từ mộc mạc, dung dị và lắm khi dung tục.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN 

    Đêm giới thiệu Trường ca Hàn Mặc Tử, tại Học viện Âm nhạc Huế thầy Trần Văn Khê và nhạc sĩ Phạm Duy đã đưa chúng ta đi từ cõi thực mộng mơ trải qua những đau đớn, vật lộn với cơn đau đến ngất lịm và cuối cùng nương tựa vào niềm tin tâm linh để hiện hữu.

  • TRƯƠNG ĐÌNH NGỘ

    Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí
    Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi
    Đây Miên Trường, đây Vĩnh Cữu tề phi
    Cao cao vượt hai hàng bóng vía


  • (Bản dịch của Trương Đình Ngộ)

  • NGUYỄN THỤY KHA

    Có thể nhận ra sự giao hòa giữa nhiều chiều cảm xúc trong quá trình thai nghén bài hát "Thiên Thai". Song có lẽ cái lớn nhất, cái bao trùm, cái gốc để tỏa ra sự tràn trề giai điệu của bài hát này chính là sự phản ảnh có thực của một dòng sông nào đó.

  • ĐẶNG TIẾN “Bộ môn” Thơ đang lùi bước trong xã hội hiện đại. Đời sống đô thị nhanh bước theo nhịp tiến hóa của công nghiệp, đẩy lùi biên độ của thơ: kỹ thuật hiện đại cung cấp cho quần chúng - nhất là thanh niên - những phương tiện giải trí và truyền thông hấp dẫn và nhanh chóng hơn những bài bản vần vè trước đây - dù sao cũng gắn liền với nếp sống nông thôn.

  • NGUYỄN HOÀN Nhân kỷ niệm 10 năm ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về cõi thiên thu 1/4 (2001-2011), Nhà xuất bản Trẻ xuất bản cuốn sách “Thư tình gửi một người” tập hợp hơn 300 trang thư tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gửi Ngô Vũ Dao Ánh, người tình có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu bền trong cảm hứng sáng tạo âm nhạc của nhạc sĩ.

  • DƯƠNG BÍCH HÀDân tộc Tà Ôi, cũng như các dân tộc cư trú dọc Trường Sơn, âm nhạc là một bộ phận thiết yếu trong đời sống văn hóa của họ, nó không chỉ mang chức năng giải trí đơn thuần mà gắn liền với tín ngưỡng, với đời sống tâm linh, là phương tiện để tiếp xúc với thần linh.

  • NGUYỄN THỊ HỒNG SANHNgười ta gọi Trịnh Công Sơn là “sứ giả tình yêu”, “người tình của mọi thế hệ”, nhưng có lẽ chức danh “con người thi ca” mà nhạc sĩ Văn Cao yêu mến dành tặng cho ông là phù hợp hơn cả.

  • TrẦn thỊ AnCho đến nay, ca trù vẫn là một thể loại văn chương âm nhạc rất xa lạ với đông đảo đại chúng. Trong ấn tượng chung, ca trù là một sinh hoạt âm nhạc trước hết gắn với lễ lạt của các ông hoang bà chúa hay các miếu đền, sau nữa là thú ăn chơi ở dinh quan, thậm chí trở nên sa đọa và trụy lạc nơi ca quán.

  • NGUYỄN THỤY KHATừ sau "Đề cương văn hóa" của Đảng ra đời năm 1943 sáu chữ "Dân tộc - khoa học - đại chúng" đã trở thành tâm niệm của những chiến sĩ cách mạng làm công tác văn hóa. Song ngay cả khi Cách mạng tháng Tám thành công, rồi cả dân tộc bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến thì cho đến trước chiến dịch Điện Biên, chữ "Dân tộc' trong "Đề cương văn hóa" vẫn chỉ được các nghệ sĩ khai thác ở những vốn cổ của người Kinh, trong đó có nghệ thuật âm nhạc.

  • NGUYỄN THỤY KHATrong hai đêm 2 và 3.06.2004 tại Nhà Hát Lớn, Hà Nội đã diễn ra chương trình hoà nhạc của Dàn Nhạc Giao Hưởng Việt Nam dưới sự chỉ huy của Giáo sư - Nhạc trưởng người Anh Colin Metters - Cố vấn âm nhạc và nhạc trưởng hợp tác chính của Dàn Nhạc Giao Hưởng Việt Nam trong dự án 5 năm nhằm củng cố và phát triển dàn nhạc lên ngang tầm quốc tế.

  • VĂN THAO... Tôi tập tễnh bước một leo lên cầu thang ngôi nhà số 108 phố Yết Kiêu vào một ngày giáp tết năm 1976. Đã sang tiết xuân, trời nắng nhẹ mà vẫn lạnh. Tiếng đàn dương cầm vọng ra. Một điệu vans. Giai điệu của bản nhạc mượt mà, lấp lánh như những hạt nắng xao động trên vòm cây. Một giai điệu mà tôi chưa nghe bao giờ.

  • MẶC HY    Hồi kýThế là tôi và Lê Lự, mấy đêm nay, lại được nằm chỏng khoèo trên mấy tấm ván nóc chuồng trâu nhà mẹ An tại Khe Giữa để đón một cái Tết thứ hai ở chiến khu Ba Lòng.