Serenade của Peter Kihlgard - dạ khúc li tan

11:01 22/09/2008
HỒ THẾ HÀSerenade của Peter Kihlgard là một truyện ngắn có cấu trúc hiện đại. Trước hết là ở nghệ thuật ngôn từ và điểm nhìn văn bản.

Truyện có hai nhân vật chính, chỉ có đối thoại và độc thoại, chứ không rõ lời của tác giả. Đó là một kiểu tiết kiệm ngôn ngữ đến tối đa, chỉ ưu tiên cho lời của người trần thuật và người kể chuyện qua sự luân phiên đối thoại và độc thoại của nhân vật. Lời của tác giả có nhưng ít, khó phân biệt rạch ròi. Hay đúng hơn là chỉ xuất hiện trong lời của nhân vật người chồng.
Câu chuyện mở đầu bằng câu hỏi của nhân vật nữ - người vợ: “Anh có nghe em không? Anh có nghe em nói gì không?”. Nàng nói trong khi đang làm bếp, cắt miếng hoa lơ xanh không một mảy may bối rối, không hề ngập ngừng; trái lại rất tự chủ, tưởng như nàng “đang nương nhẹ cho cả hai, cho những gì mà hai vợ chồng sở hữu”. Đó là kiểu điểm nhìn bất ngờ không phải từ đầu câu chuyện, cho ta thấy tính hòa hợp của hai người. Nhưng không, người chồng đã có cái nhìn ngờ vực, khiến người vợ phải thốt lên “Đừng nhìn em như thế, cứ như thể em khốn nạn lắm không bằng. Thực ra thì chẳng có gì là khốn nạn ở đây cả!”.
Nhưng rồi, người chồng đã hiểu cốt lõi câu chuyện đến gần như trọn vẹn. Anh không thể nói những điều ngờ nghệch, giả dối rằng mình hiểu theo ý của nàng: "Không, đương nhiên là anh hiểu chuyện đó... đến... anh... cũng... hiểu” (cách nói lặp). Trong khi đó, anh ta muốn nói rằng “Hãy thú nhận đi! Trong thực tế”. Anh ta không thể giả tạo, không thể là người nói vấp, là người hiểu nhầm.

Tôi chú ý nghệ thuật phân thân của nhân vật người chồng. Khi thì ông nói trực tiếp ở ngôi thứ nhất, khi thì ông hóa thân thành nhân vật ngôi thứ ba - đồng thời với tư cách ngôi thứ ba này, nhân vật người chồng đã trực tiếp thể hiện ngôn ngữ độc thoại nội tâm rõ nhất, có khi anh hướng về người vợ, có lúc lại hướng vào mình (dù cũng độc thoại). Qua từng chi tiết dẫn dắt độc thoại ấy, tác giả để nhân vật người chồng dần dần bộc lộ nội tâm và đi đến trung tâm cốt lõi của câu chuyện. Đó là câu chuyện dẫn đến sự ngoại tình và phản bội của vợ mình. Anh dựa vào điểm xuất phát là miếng thịt, để triết lý về cái ác và dục vọng tầm thường cũng như những đam mê tình dục của người đời từ xưa đến nay, và do đó, họ tự đánh mất mình một cách độc ác: “Miếng thịt nằm trên chiếc đĩa hâm nóng của anh đây vốn là từ một chú cừu tơ xinh xắn, đã bị làm thịt và xả thành từng miếng. Những tảng thịt khác đã được đóng vào túi nhựa và bao bì hòng giam hãm nỗi khiếp sợ chết cứng của chú cừu tơ mơn mởn và vô phương chống đỡ càng lâu càng tốt”. Và anh ta muốn nói đến nguồn đạm bổ sung cần thiết mà không có nó thì con người sẽ ra sao: “Anh muốn nói với em rằng trong lịch sử, miếng thịt đã từng là biểu tượng của sự giàu sang như thế nào. Em biết đấy, đã từng có thời, chỉ vì lũ thú hoang dã, tức là vì miếng thịt, mà giới quyền quý đã đề cao giá trị của rừng đến mức xử tội chết của kẻ man rợ. Chỉ vì mong mỏi được xôi thịt hàng ngày mà con người ta đã phải từ bỏ quê hương ra đi. Người ta cam chịu đánh đổi Tổ Quốc và sự hòa đồng để lấy thịt. Thịt. Sức hấp dẫn của miếng thịt và quyền lực của nó”.

Sự bình luận độc đáo này đã làm cho người vợ chột dạ và ngập ngừng trong câu nói, đến nỗi người chồng phải thốt lên: “Lẽ ra em chẳng có gì phải nói cả”.
Câu chuyện lại thay đổi điểm nhìn trần thuật bằng độc thoại nội tâm do nhân vật người chồng (cũng chính là tác giả) tiếp tục triết luận về sự sống và cái chết, về nhân cách và khát vọng của con người. “Ai cũng muốn rằng cái  chết, cái chết đích thực phải thuần khiết và bi tráng, không tầm thường, không giống như cái chết của những kẻ khác, nó phải thuần khiết và bi tráng một cách không hề tranh cãi; đấy, cái chết của anh phải như thế”,  “Nó không hai ngả hoặc đa nghĩa... Đó phải là một thực tế rõ ràng, một sự kinh hoàng dễ hiểu, sâu xa, thăm thẳm và ... tinh khiết. Cái chết có quyền là sự tái tạo”. Đây là một triết lý đáng lưu ý. Tại sao cái chết có quyền là sự tái tạo? Một câu hỏi gợi biết bao suy tư về lẽ vi diệu và cao cả của mỗi chủ thể hiện sinh. Đó chẳng phải là một phạm trù mỹ học về cái bi - cái đích thực của những con người biết sống. Nó đồng nhất với giá trị, ý nghĩa và sự phục sinh những hành vi và ý nghĩ tốt đẹp của con người cho một lý tưởng cao đẹp?

Đến đây, câu chuyện càng tỏ lộ qua sự tự thú của người vợ: “Điều đáng nói là em đã cảm thấy ân hận trước khi làm điều ấy...”. Một câu nói bỏ lửng. Điều ấy là gì? Và tại sao lại cảm thấy ân hận trước khi làm? Rồi nhân vật thứ ba (kiểu nhân vật - tác giả) lại bình luận về bộ phận sinh dục của con người dưới một cái nhìn nhân chủng - xã hội học: “Chúng ta phải biết xấu hổ bởi phơi bày những phần của cơ thể làm gia tăng nòi giống. Kinh Thánh quả có lý. Trong nơi sâu thẳm, ta hiểu chính con người là một cái sẩy tay vĩ đại cần phải được tẩy xóa và được thay thế bằng một kiểu dáng khác của... khỉ”. Gia tăng nòi giống, với một dân tộc nào đấy cũng rất cần thiết, nhưng đối với dân tộc khác đôi khi lại có lỗi, vì nó đẻ ra bao nhiêu là đau khổ và nhếch nhác cho chính con người.

Người vợ đã bắt đầu thừa nhận sự lập luận của nguời chồng “Quả như vậy”. Lại một sự luân phiên điểm nhìn trần thuật qua những đối thoại nghi vấn ngầm: “Cũng dễ đối với anh để tha thứ. Đồ rằng anh có thể tha thứ. Nhưng liệu em có khi nào như thế với anh? Tha thứ cho anh? Tha thứ cho kẻ đã thổi vào lòng em cái cảm giác có lỗi?”. Đó là sự châm chọc mà cũng là sự mắc tội lăng nhăng. Sự thật mà người chồng đã cảm nhận ngày càng rõ rằng người vợ của mình đã ngoại tình. Sự “đồng đẳng” giữa việc mỉa mai của người chồng và sự thực ngoại tình của người vợ có trở thành sự đồng đẳng không? Vẫn là sự lạnh lùng của hai con người qua sự hững hờ, nhìn bâng quơ vào nơi xa thẳm của người chồng.
Rồi người chồng trực tiếp kể về bà già góa muốn sang Thụy Điển để mua xúc xích và phó mát và gặp tại cửa hàng thực phẩm một ông bán hàng gầy nhom đến quái đản. Gầy và cao đến nỗi mà cái bà già góa kia không thể làm gì khác hơn là... Đến đây, khi người vợ rùng mình, vì nó chạm vào một cảm giác tội lỗi của cô “Trời ạ, thực ra thì em đang cố để xin anh  tha thứ”.
...

Chuyện đơn giản trong tình huống, nhưng hiện đại trong nghệ thuật trần thuật đa điểm nhìn qua ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật, có khi là ngôn ngữ tác giả đan xen. Cách đối thoại và độc thoại nội tâm nhân vật đã làm cho thời gian - không gian nghệ thuật luôn luôn xê dịch dù không gian cơ sở của cốt truyện chỉ trong một ngôi nhà (phòng ăn và phòng vệ sinh); thời gian chỉ trong một khoảnh khắc nhất định. Truyện, đọc một lần không thể nắm bắt nhân vật vì cách xưng hô và ngôi thứ rất biến ảo. Một chút phân tâm học, một chút lắp ghép của dòng ý thức, dòng sự kiện, tâm lí đã làm cho Serenade của Peter Kihlgard hội tụ đủ những yếu tố hiện đại chủ nghĩa của truyện ngắn Âu Châu hiện nay.
Peter Kihlgard là nhà văn tài danh của văn đàn Thụy Điển thời đương đại với cái nhìn nhân văn, để dự báo về những rạn vỡ của tự nhiên và của con người trước dòng thời gian đang cuồn cuộn chảy và bị chấn động dữ dội.
Huế, đêm 28 -10 -2007
                  H.T.H

(nguồn: TCSH số 226 - 12 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG THỤY ANH

    Mùa hè treo rũ
    Trong cái hộp hai mươi mét vuông
    Ngổn ngang màu
    Ký tự chen chúc như bầy ngỗng mùa đông
    Ngày lên dây hết cỡ
                                Chật
    Dâng đầy lên ngực
    Chuông nhà thờ chặt khúc thời gian

     

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO

    Lâu nay, đọc thơ của trẻ em, tôi thường có cảm giác, hình như các em làm thơ dưới ngọn roi giáo huấn mà người lớn thường giơ lên đe nẹt trẻ con. Cho nên khi cầm trong tay tập thơ Cái chuông vú của bé Hoàng Dạ Thi “làm” từ 3 đến 5 tuổi, tôi không khỏi ngạc nhiên.

  • NGHIÊM LƯƠNG THÀNH

    Đọc xong Những đứa con rải rác trên đường, cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Hồ Anh Thái (Nxb. Trẻ 2014), thoạt đầu tôi có cảm giác trống vắng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG

    Anh Cao Việt Dũng hỏi: anh có biết Lưu Quang Vũ không? Anh nghĩ gì về thơ Lưu Quang Vũ?

  • CHÂU THU HÀ

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tinh hoa và cốt cách của Người là nguồn cảm hứng vô tận cho văn nghệ sĩ, nhà báo.

  • DÃ LAN - NGUYỄN ĐỨC DỤ

    Cách đây mấy năm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội có cho phát hành cuốn TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (1983 - 1984). Sách gồm hai tập: tập I và tập II đầy cả ngàn trang, với sự cộng tác của nhiều tác giả.

  • MAI VĂN HOAN

    "Dư âm của biển" - theo tôi là cách gọi hợp nhất cho tập thơ mới này của Hải Bằng. Đặt "Trăng đợi trước thềm" chắc tác giả gửi gắm một điều gì đó mà tôi chưa hiểu được. Song với tôi "Trăng đợi trước thềm" có vẻ mơ mộng quá, tên gọi ấy chưa thể hiện được giai điệu cuộc đời của thơ anh.

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984), hiệu là Lộc Đình, người làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, thị xã Sơn Tây, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc thủ đô Hà Nội, là nhà văn, nhà nghiên cứu, biên soạn, khảo cứu, về nhiều lĩnh vực như văn học, triết học, sử học, ngôn ngữ học, đạo đức học, chính trị học, kinh tế học, giáo dục học, gương danh nhân…

  • Chuyện gì xảy ra trong ngày 30/4/1975 tại Sài Gòn? Nhiều người đã viết về sự kiện này. Một lần nữa, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái - nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã lên tiếng, cùng với sự trợ giúp của vợ và hai con - Nguyễn Hữu Thiên Nga và Nguyễn Hữu Thái Hòa.

  • Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật cho ra mắt bạn đọc một số đầu sách về sự kiện lịch sử này, về lịch sử kháng chiến Nam Bộ và về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của toàn dân Việt Nam.

  • LÊ HUỲNH LÂM

    Không khỏi bất ngờ khi cầm trên tay tập “Hôm qua hôm nay & hôm sau” của Vũ Trọng Quang do Nxb Đà Nẵng ấn hành vào tháng 1 năm 2006. Vậy là đã 9 năm.

  • PHẠM XUÂN DŨNG

    Tôi và nhiều bạn bè sinh viên còn nhớ nguyên vẹn cảm giác lần đầu nghe bài thơ “Đêm qua” của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đêm cư xá Huế lạnh và buồn đến nao lòng tê tái.

  • Ý NHI 

    1.
    Một buổi chiều, khoảng cuối năm 1989, chúng tôi có cuộc gặp gỡ tại nhà Trần Thị Khánh Hội, trong một con hẻm rộng, quận Phú Nhuận.

  • TRẦN HOÀI ANH

    (Kỷ niệm 49 năm ngày mất cố Thi sĩ Nguyễn Bính 1966 - 2015)

  • DƯƠNG PHƯỚC THU  

    Kể từ lúc thị xã Huế được nâng lên cấp thành phố, cho đến khi người Nhật làm cuộc đảo chính hất chân người Pháp khỏi đông Dương vào ngày 9/3/1945 thì Huế vẫn là thành phố cấp 3, nhưng là thành phố của trung tâm chính trị, văn hóa, nơi đóng kinh đô cuối cùng của nhà nước quân chủ Việt Nam.

  • HỒ VĨNH  

    Thi hữu Quốc Hoa Nguyễn Cửu Phương là một thành viên trong hội thơ Hương Bình thi xã do Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm hội chủ. Năm 1933 thi đàn đặt tên là Vỹ Hương thi xã, qua năm 1950 các thi hữu bắt đầu đổi tên Vỹ Hương thi xã thành Hương Bình thi xã.

  • Mùa xuân chiếm một ví trí quan trọng trong thơ Nguyễn Trãi. Xuân hiện lên bằng nhiều vẻ dáng khác nhau, được khắc họa bằng nhiều cung bậc khác nhau. Mỗi một bài thơ xuân như là một trang nhật kí và cảm xúc của cuộc đời thi nhân.

  • Đọc sách Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý (ảnh, NXB Khoa học xã hội, Sách Khai tâm, quý 1/2015) của Hoàng Xuân Hãn là cách để “gặp lại” danh tướng Lý Thường Kiệt.

  • CAO HUY THUẦN

    Từ trong mênh mông, một sợi mưa rơi vào lá sen. Nước vốn không có hình. Nằm trong lá, nước tròn như một viên ngọc, tròn như một hạt lệ, tròn như một thủy chung. Gió thoảng qua, lá sen lay động, nước rơi không để lại một dấu vết, rơi như chưa bao giờ có, rơi như một hững hờ.

  • NGUYÊN QUÂN

    Những lúc bứt thoát được những hệ lụy cuộc sống, tôi chỉ thích được lang thang lên mạng, mong bắt gặp một câu thơ, một dòng văn nào đó gần gũi với tâm trạng để ru dỗ mình bằng những phút giây đồng điệu.