NGUYỄN NGỌC THIỆN
Ảnh: internet
Một trong những điều làm nên cái phần đáng quý và nét độc đáo trong văn nghiệp Hoài Thanh, theo tôi có lẽ tập trung và nổi bật ở chỗ này chăng: với thời gian và sự chín muồi của tư duy nghệ thuật, bằng hoạt động thực tiễn của cây bút và lời nói, ông đã đinh ninh xác quyết và dần dần hoàn thiện quan điểm văn học nhất quán, đi từ chỗ phiến diện, thiên lệch, nặng về phía chủ quan của cái riêng, cái tôi, cái đặc thù - mặc dù là có lý, nhưng còn nhiều khiếm khuyết quá - đến chỗ hài hòa, biện chứng, có sức thuyết phục bởi đúng đắn, đầy đủ, không cực đoan.
Trước Cách mạng Tháng Tám, những ngày đầu mới cầm bút đeo đuổi nghề văn, ông tìm thấy ở văn chương không phải chỉ là một phương tiện để kiếm kế sinh nhai, mà quan trọng không kém, đó là một nghiệp, một lẽ sống trong một cách tồn tại có lựa chọn. Ông và một thế hệ thanh niên đến với văn chương như tìm thấy một ốc đảo, một tháp ngà giúp cho mình tự giải thoát khỏi những bức bối, ấm ức về tinh thần trước cuộc đời và xã hội thực dân tối tăm, ô trọc đè nặng lên những con người yếu đuối, lạc lõng, bơ vơ, bế tắc vì bất lực và không thấy đường ra.
Chính trong một chỗ đứng, một tâm thế như vậy - mà ông gọi là thoát ly, quay lưng lại Cách mạng một cách ích kỷ, thiếu trách nhiệm và ảo tưởng về con đường thứ ba, con đường văn chương thuần túy, thay vì cho đại nghĩa - ông đã chủ động "kiếm chuyện" tranh luận với Hải Triều, trình bày công khai một loại quan điểm văn học mà thâm tâm ông cho là duy nhất đúng, cần đề cao và được bảo vệ.
Tuy chỉ tham gia tranh luận với Hải Triều sau khi Thiếu Sơn đã rút lui chấm dứt màn mở đầu không mấy sôi nổi, và chỉ nhập cuộc thật sự với dăm bài đăng trên báo Tràng an nửa cuối năm 1935(1) Hoài Thanh đã làm cho cuộc tranh luận trở nên hào hứng, cuốn hút nhiều người tham gia. Phía Hải Triều đã thành lập một "chiến tuyến duy nhất" để phê phán, tranh biện với quan điểm của Hoài Thanh và sau đó là Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Phan Văn Dật... Mặc dù Hoài Thanh không thừa nhận mình chủ trương thuyết "nghệ thuật vị nghệ thuật" và là người đứng đầu nhóm đối lập với phía của Hải Triều, nhưng phải nhận rằng ý kiến của ông được trình bày rất hấp dẫn, sắc sảo thật sự tiêu biểu cho một loại quan điểm đang thịnh hành hồi đó.
Tóm tắt quan điểm khi ấy của ông là: Văn chương là chính nó, chứ không phải là một cái gì khác xa lạ với "chân tướng lộng lẫy" của nó. Văn chương là sản phẩm kết tinh của sự rung động trong tâm hồn nghệ sỹ trước Cái Đẹp vĩnh cửu, trước những buồn vui muôn thuở của Con người viết hoa, tức con người thuộc về nhân loại mà thôi. Tác phẩm văn chương là bông hoa mọc trên cuộc sống đầy rẫy những nỗi nhọc nhằn, chật vật, nó giúp cho người ta một sự thoát tục, say sưa vươn tới cái Đạo, cái Thâm chân huyền diệu. Thiên chức của nhà văn là tôn thờ và phụng sự cái đẹp, cái hay, cái tốt qua hình thức biểu hiện nghệ thuật của tác phẩm - điều phải chú trọng trên hết, trước hết. Nhà văn với tài năng độc đáo và bút pháp (cách tả, lối văn) mang tính nghệ thuật. Viết về cái gì cũng được lấy tài liệu ở ngoại giới hay tâm giới đâu cũng được "miễn là làm thế nào tạo nên cái đẹp, trao mỹ cảm cho người xem thì thôi". Cái đẹp vươn lên những ràng buộc của đời sống, không phụ thuộc vào những đòi hỏi phụ, có tính cách "đèo thêm" vào của chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, của những bài học về luân lý.
Ngày nay, chúng ta càng nhận ra một cách rõ ràng sự thiên lệch, cực đoan, nửa vời trong quan điểm văn học nói trên của Hoài Thanh, vì nhà văn đã biệt lập văn chương, nhà văn, tác phẩm và bạn đọc thoát ra khỏi những mối liên hệ bên ngoài, mang tính khách thể, không thể không ảnh hưởng, chi phối chúng: đó là cuộc sống của xã hội, cái thế giới nhân quần với những thiết chế mà ta vẫn gọi là "cơ sở hạ tầng” và "kiến trúc thượng tầng". Một khi mà tính độc lập của văn chương, mặt chủ quan của quá trình sản xuất những giá trị tinh thần, tự do sáng tạo của chủ thể nhà văn, biểu hiện nghệ thuật mang tính hình thức của văn phẩm, tính phổ quát của tư tưởng nghệ thuật chứa đựng trong nội dung... bị đẩy lên ở bình diện tối thượng, duy nhất, thì tính biện chứng của tư duy lý luận về nghệ thuật đã không còn nữa. Chúng ta đã hiểu vì sao ngay từ hồi đó, quan điểm của Hoài Thanh và những người bảo vệ ông, đã không chống lại được sự phê phán đích đáng (dù đôi chỗ còn đơn giản, thô thiển và cũng phiến diện nốt) của Hải Triều và các chiến hữu khi họ vạch ra sự bất cập, nhuốm màu tư sản, dù các ông thanh minh rằng giữa các ông và phái "nghệ thuật vị nghệ thuật" ở Pháp thế kỷ trước không có điểm chung về hệ ý thức và quan điểm nghệ thuật, rằng các ông không thuộc giai cấp phú hào, các ông vẫn bênh vực những người lao khổ, vẫn không rẻ rúng người cầm bút khi họ thực thi phận sự chống lại các sức mạnh của tiền tài, của súng đạn.
Song bất cứ một sự thiên lệch đến bất cập như thế nào, cũng mang lại một hiệu quả khách quan, có khi ngoài mong muốn của nó. Cuối cùng là nó có thể gợi ý cho ta tiếp cận được sự hài hòa, chừng mực, hợp lý mang tính biện chứng "cổ điển" của tư duy lý luận. Quan điểm của Hoài Thanh về văn chương hồi đó, tuy rất nhiều khiếm khuyết, sơ hở vẫn có những phương diện khả thủ, những khía cạnh chứa đựng hạt nhân hợp lý, không nên gạt bỏ tất thảy. Cần ghi nhận lòng say mê, khao khát chân thành, tuy có nhuốm màu linh thiêng, huyền bí, cao ngạo, bất khả tri, khi ông khăng khăng chú mục đòi hỏi nhận biết nghệ thuật, văn chương chỉ ở bản chất duy mỹ, từ bình diện của cái đặc thù, cái riêng giúp nó khu biệt với những cái khác. Những cố gắng chính danh văn chương - tức định danh trên cơ sở định tính, truy tìm gốc rễ, cội nguồn, phẩm chất thứ thiệt, "chân tướng lộng lẫy" của nó, và sự lo ngại đến mức phải nói to lên và ghi lấy làm lòng rằng chỉ tìm thấy cứu cánh của văn chương ở chính cái bản ngã đích thực của nó, không nên phó thác nhờ cậy vào những cái khác mà chí ít nó chỉ liên quan và phụ thuộc là cùng... đó là nhiệt tâm và thiện tâm rất đáng trân trọng. Tư tưởng của Hoài Thanh "văn chương là văn chương", "văn chương muốn gì thì gì, trước hết cũng phải là văn chương đã”, cần được hiểu một cách đúng đắn rằng tác giả chỉ muốn lưu ý và khẳng định mặt cơ bản, sống còn, khởi nguyên, có tính chất quyết định sự tồn tại của văn chương phải được nhìn thẳng, nhìn chính diện, nhìn vào từ cái "gen" mang tính riêng khu biệt nó với các cá thể khác, mà ra.
Nói tóm lại, sự bất cập, phiến diện trong quan điểm văn chương của Hoài Thanh hồi đó, đã là những phản đề lý luận bổ ích, khơi gợi chúng ta tiếp tục suy nghĩ hoàn thiện quan điểm, tránh được những thiển cận, ấu trĩ, sơ giản trong khi tiếp cận văn chương và người làm ra nó, người tiếp nhận nó: phải chăng nhất thiết phải duy trì một không gian độc lập và tự do tương đối cho nghệ thuật tồn tại và phát triển; nhà văn cần được tạo điều kiện thuận lợi để duy trì một tâm thế tự nhiên, thoải mái, không bị câu thúc quá để anh ta có thể thành thực và hết mình cho sáng tạo; chỉ đúng và tốt thôi chưa đủ, tác phẩm văn chương trước hết đòi hỏi phải hay và đẹp theo cái cách riêng của nó, nếu không nó sẽ đánh mất mình, bị thay thế bởi cái khác; văn học nghệ thuật xa lạ với sự rập khuôn, khô cứng, nghèo nàn, nhàm chán, nó không ngừng đòi hỏi cá tính sáng tạo độc đáo, sự đa dạng của phong cách và sự phong phú trong những tìm tòi nghệ thuật thỏa mãn các thị hiếu khác nhau trong tiếp nhận và thưởng thức; nghệ thuật đi từ cái riêng đến cái chung, phổ quát, đi từ cuộc sống con người đến với con người, nhân đạo hóa con người, hướng nó vươn tới Chân,Thiện, Mỹ...v.v... và v.v...
Sẽ không lý giải được thành công của Thi nhân Việt Nam, một công trình mà Hoài Thanh (cùng Hoài Chân) làm trong khi và liền sau khi cuộc tranh luận nghệ thuật 1935-1939 chấm dứt, nếu không thấy rằng: công trình này chính là sự thực thi những quan điểm văn học tuy thiên lệch, cực đoan nhưng vẫn có những khía cạnh khả thủ, những hạt nhân hợp lý... trong đánh giá một hiện tượng văn học đương thời là phong trào thơ mới đang diễn tiến, chưa đi tới kết cục. Bằng năng lực cảm thụ tinh tế, một thái độ và tấm lòng tri âm, tri kỷ với cái hay cái đẹp của văn chương, Hoài Thanh đã chọn và diễn giải qua những lời bình hấp dẫn, phần tinh túy rút từ hàng vạn bài thơ của hàng trăm người làm thơ, những nhà thơ thực sự có tài năng cùng những thi phẩm có giá trị nhất, tiêu biểu cho phong cách, hồn thơ và giọng điệu riêng của từng người. Với công trình này, người đọc nhận ra bộ mặt đích thực của thơ mới, với những thành tựu nghệ thuật có sức thuyết phục bởi cái hay, cái đẹp, sự tìm tòi nghệ thuật và bản sắc riêng của từng thi sỹ qua các thi phẩm. Từ khi ra đời đến nay, đã 50 năm trôi qua, Thi nhân Việt Nam đã chịu được sự thử thách của thời gian, nó chứng tỏ bản lĩnh của cây bút phê bình trong cảm thụ gây ám ảnh sâu sắc về cách tân của thơ mới về phương diện nghệ thuật của hình thức và giọng điệu thơ, điều mà ngoài Hoài Thanh - người có quan điểm văn chương duy mỹ và "vị nghệ thuật" như vậy, khó ai có thể làm hay hơn được.
Từ sau Cách mạng Tháng 8, Hoài Thanh toàn tâm toàn ý dừng ngòi bút phê bình văn học đã có uy tín của mình góp vào xây dựng nền văn học mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ông đến với Cách mạng rất tự nhiên, "lòng rất vui", "không còn tự giam mình trong những góc trời hiu hắt" nữa, mà thực sự làm một cuộc thay đổi "băng mình vào giữa cuộc sống bao la, kỳ diệu, giữa rừng cây đời mãi mãi xanh tươi". Từng bước một, "bắt đầu hình thành những quan niệm khác về nghệ thuật văn chương", "trải qua nhiều phấn đấu", ông thực hiện kiên trì sự biến đổi tận gốc rễ nhận thức mới về văn học. Sự thay đổi này không phải là một nhát cắt, đoạn tuyệt thẳng thừng với cái cũ trong quan niệm về nhân sinh, về nghệ thuật, mà ở đây là một bước tiếp nối, khắc phục những cái bất cập và phiến diện, chủ quan, duy mỹ ngày trước, nâng cao, mở rộng, đổi mới và hoàn thiện những phương diện khả dĩ của cái cũ. Nói như Hoài Thanh, khi "từ những chân trời xa xôi nào đến với ánh sáng của Đảng" ông đã hiểu được rằng văn chương không chỉ còn là câu chuyện của riêng nó, một mình nó. Quan niệm về văn chương không thể dừng lại ở một cách cảm thụ thuần túy về hình thức biểu hiện, câu chữ, giọng điệu mang màu sắc của "cái tôi" cá nhân, mà văn chương trước hết là câu chuyện của cuộc đời, về cuộc đời và con người. Nghệ sỹ không chỉ say mê, thành thực với riêng mình, cho riêng mình, cốt để bộc lộ bản ngã, bản sắc độc đáo của mình là đủ, anh ta cần phải tìm thấy "cái duyên" của sự gắn bó, hòa nhập (tất nhiên, không vì thế mà đánh mất mình) với cuộc sống bên ngoài, với người đời. Suy nghĩ về nghệ thuật của Hoài Thanh giờ đây là suy nghĩ vươn tới sự rộng mở, hài hòa, từ một chỗ đứng đúng, của một cách sống đúng. Cái nhìn và tư duy về văn chương như vậy vừa hướng nội, vừa hướng ngoại; vừa thấy được cái cốt lõi, lại không xem nhẹ cái đích hướng tới. Văn học không còn khép kín trong một chân trời chật hẹp, biệt lập với những phẩm chất đặc thù và nặng về mặt chủ quan; nó biết bắt rễ sâu vào cuộc sống con người, tìm thấy lý do tồn tại, cứu cánh của mình cuối cùng là nhằm phục vụ cuộc sống, phục vụ con người. Ý kiến sau đây của ông là rất tiêu biểu cho nhận thức hài hòa nói trên: "Mọi thứ nghệ thuật, cái đích của nó phải là phục vụ nhân sinh, nhưng muốn phục vụ nhân sinh cho tốt cũng phải có cái say sưa vì nghệ thuật"(2). Có ai ngờ Hoài Thanh kết hợp được tư tưởng "nghệ thuật vị nghệ thuật" với tư tưởng "nghệ thuật vị nhân sinh" một cách biện chứng, như hai mặt không thể thiếu được để làm thành tờ giấy, thế này!
Sau cùng, một khía cạnh nữa cũng nói lên một cách đầy đủ sự chín mùi trong tư duy về nghệ thuật của Hoài Thanh sau cách mạng. Nếu trước kia, viết về sự thành thực trong sáng tác, ông chỉ lưu ý đến tài năng nghệ sỹ trong khi phô bày một cách hồn nhiên (chỉ biết có mình!) về cái tôi chủ quan cũng như trong nỗ lực xới lật vào chỗ tận cùng sâu thẳm của lòng người muôn thuở, khiến cho người đọc phải ngạc nhiên, sửng sốt vì thích thú, mới lạ: "Phải là người có tài mới có thể đi vào những chỗ cùng sâu trong cõi lòng, vạch những cái kín nhiệm uất ức, rồi đưa phả vào những âm điệu hồn nhiên. Những âm điệu ấy đến tai người đời, người đời sẽ giật mình không ngờ người ta có thể thành thực đến thế"(3)
Thì bây giờ, ông đã thấy nếu sự thành thực chỉ riêng là yêu cầu đối với bản thân nghệ sĩ thôi, thì sẽ là không đủ, anh ta còn cần cả sự thành thật, say mê với sự nghiệp chung, với con người và cuộc đời xung quanh anh.
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài! Vẫn rất cần tài năng và công phu, cá tính sáng tạo và độc đáo, song cũng cần chăm lo không kém về tâm trí, về sự thường trực không suy giảm lòng yêu cái đẹp cái tốt trong con người và trước cuộc đời bề bộn. Lấy ví dụ về thành công của tác phẩm Người mẹ cầm súng (của Nguyễn Thi) và Mẹ Suốt (của Tố Hữu), Hoài Thanh cho rằng ở đây có sự gặp gỡ như được chuẩn bị trước, ở thế tiềm năng giữa nhà văn và nhân vật, với những mảnh đời, chuyện đời "hợp với cái tạng của ngòi bút, khiến các anh có thể nhân đó nói lên những gì mình vẫn hằng ấp ủ, suy nghĩ từ lâu", chứ không đơn thuần chỉ do tài văn, tài thơ của các tác giả(4). Như thế là sự thành thực và cái hay của văn chương có được không chỉ do tài năng, ở cái tâm hướng nội, mà còn là do biết hướng cái chủ quan của mình sao cho rung động, hòa nhịp với con người và cuộc sống bên ngoài, khách quan, dường như là đang chờ sẵn, để nhà văn thi thố sở trường, trút vào tác phẩm tâm huyết, tinh hoa của tình cảm và tài năng.
Có thể nói, quan điểm văn học của Hoài Thanh từ trước cách mạng đến sau cách mạng có sự phát triển, tiếp nối và hoàn thiện. Quan điểm đó nói lên sự nhất quán, trước sau như một, lòng say mê chân thành của Hoài Thanh trong tìm tòi cái hay, cái đẹp, cái tốt của văn chương. Những thành tựu trong nghiên cứu, phê bình văn học của ông từ khi cầm bút đến khi dừng lại ở tuổi 73, chính là do ông trung thành và biết phát triển quan điểm sâu sắc và độc đáo đó. Hoài Thanh xứng đáng là nhà phê bình kiệt xuất trong thẩm định, bình giá văn chương ở phần tinh tuý, sáng lên những phẩm chất nghệ thuật được sáng tạo bởi những tài năng luôn luôn thành thực và tràn đầy cảm hứng./.
Tháng 3 năm 1992
N.N.T
(TCSH49/05&6-1992)
--------------
(*) Tham luận tại Hội nghị Khoa học nhân kỷ niệm 10 năm mất nhà văn Hoài Thanh, và 50 năm xuất bản Thi Nhân Việt Nam do Viện Văn học chủ trì tháng 3/1992 tại Hà Nội.
(1) Đó là những bài sau:
- VĂN CHƯƠNG LÀ VĂN CHƯƠNG, Tràng an, số 48, ngày 15.8.1935.
- Tiếp theo bài “VĂN CHƯƠNG LÀ VĂN CHƯƠNG", Tràng an số 62 ngày 1.10.1935.
- CHẤM DẤU HẾT CHO MỘT CUỘC BIỆN LUẬN, Tràng an, ngày 29.10.1935.
- MỘT LỜI VU CÁO ĐÊ HÈN, Tràng an, số 80, ngày 3.12.1935.
- MỘT BÀI DIỄN VĂN TỐI QUAN TRỌNG VỀ VĂN HÓA, Tràng an. số 82, ngày 10.12.1935.
Cũng phải kể đến những đoạn trích trong cuốn VĂN CHƯƠNG LÀ HÀNH ĐỘNG (bị thực dân cấm phát hành năm 1936) được đăng lại trên HÀ NỘI BÁO và sau đó trên tạp chí TAO ĐÀN cho đến năm 1939.
(2) Hoài Thanh: NGÀY TẾT ĐỌC THƠ XUÂN (viết 1964). In trong CHUYỆN THƠ_ Nxb Tác phẩm mới, H, 1978, tr. 57.
(3) THÀNH THỰC VÀ TỰ DO TRONG VĂN CHƯƠNG. Tạp chí Tao đàn năm 1939, tr. 504.
(4) Hoài Thanh: DUYÊN THƠ, DUYÊN VĂN (viết năm 1974). In trong CHUYỆN THƠ_ Nxb tác phẩm mới, H. 1978, tr, 253.
Tải mã QRCode
ĐẶNG TIẾNMèo là thành phần của tạo vật, không hệ thuộc loài người, không phải là sở hữu địa phương. Nói Mèo Huế là chuyện vui ngày Tết. Đất Huế, người Huế, tiếng Huế có bản sắc, biết đâu mèo Huế chẳng thừa hưởng ít nhiều phẩm chất của thổ ngơi và gia chủ?
TRIỀU NGUYÊNCó nhiều cách phân loại câu đối, thường gặp là ba cách: dựa vào số tiếng và lối đặt câu, dựa vào mục đích sử dụng, và dựa vào phương thức, đặc điểm nghệ thuật. Dựa vào số tiếng và lối đặt câu, câu đối được chia làm ba loại: câu tiểu đối, câu đối thơ, và câu đối phú. Bài viết ngắn này chỉ trình bày một số câu đối thuộc loại câu tiểu đối.
KHÁNH PHƯƠNGNăm 2010 khép lại một thập kỷ văn học mang theo những kỳ vọng hơi bị… “lãng mạn”, về biến chuyển và tác phẩm lớn. Nhiều giải thưởng của nhiều cuộc thi kéo dài một vài năm đã có chủ, các giải thưởng thường niên cũng đã… thường như giải thưởng, nhà văn và bạn đọc thân thiết hồ hởi mãn nguyện tái ngộ nhau trên những đầu sách in ra đều đặn… và người thực sự quan tâm đến khía cạnh nghề nghiệp trong đời sống văn chương lại tự hỏi, những sự kiện đang được hoạt náo kia có mang theo trong nó thông tin gì đích thực về thể trạng nghề viết hay không? Nếu có, thì nó là hiện trạng gì? Nếu ngược lại, thì phải tìm và biết những thông tin căn bản ấy ở đâu?
MIÊN DIVẫn biết, định nghĩa cái đẹp cũng giống như lấy rổ rá... múc nước. Vì phải qui chiếu từ nhiều yếu tố: góc nhìn, văn hóa, thị hiếu, vùng miền, phong tục... Tiểu luận be bé này xin liều mạng đi tìm cái chung cho tất cả những góc qui chiếu đó.
INRASARA1. Điểm lại mười căn bệnh phê bình hôm nay
XUÂN NGUYÊNHơn ở đâu hết, thơ mang rất rõ dấu ấn của người làm ra nó. Dấu ấn đó có thể là do kinh nghiệm sống, do lối suy nghĩ… đưa lại. Đứng về mặt nghệ thuật mà nói, dấu ấn trong thơ có thể được tạo nên bởi lối diễn đạt, bởi mức độ vận dụng các truyền thống nghệ thuật của thơ ca.
Linda Lê, nhà văn nữ, mẹ Pháp cha Việt, sinh năm 1963 tại Đà Lạt, hiện đang sống tại Paris, viết văn, viết báo bằng tiếng Pháp. Một số tác phẩm của nhà văn đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản tại Việt Nam như là: Vu khống (Calomnies), Lại chơi với lửa (Autres jeux avec le feu). Chị đã có buổi nói chuyện tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Huế vào ngày 15.10.2010 vừa rồi. Sau khi trao đổi về bản dịch, chị đã đồng ý cho phép đăng nguyên văn bài nói chuyện này ở Tạp chí Sông Hương theo như gợi ý của dịch giả Lê Đức Quang.
KHÁNH PHƯƠNG (Tiếp theo số 261 tháng 11-2010)
LÊ TIẾN DŨNGKhi nói đến thơ một vùng đất, thường người ta vẫn chú ý nhiều đến những vấn đề như tác phẩm, thể loại, đội ngũ… nghĩa là tất cả những gì tạo nên phong trào thơ của một vùng.
LẠI NGUYÊN ÂN(Trích đăng một phần tiểu luận)
KHẾ IÊMGửi các nhà thơ Đỗ Quyên, Inrasara và Lê Vũ
TRẦN HUYỀN SÂMTrong một nghiệp bút, hình như có tính quyết định bởi những cú sốc. Hoặc là cú sốc ái tình, hoặc là cú sốc chính trị, hoặc là sự thăng hoa của một miền ký ức nào đó ở tuổi hoa niên. Tiểu thuyết gia, chính trị gia Peru: Mario Vargas Llosa - người vừa được vinh danh giải Nobel văn học, dường như đã “chịu” cả ba cú sốc nói trên.
LTS: Thơ Haiku Nhật Bản thế kỷ XVII không dùng lối nói bóng gió, không tìm kiếm những nét tương đồng giữa “thế giới bên trong” của con người và hiện thực “bên ngoài” để tạo ra cầu nối giữa con người với thế giới, con người với con người. Haiku dùng những biểu tượng hàm súc ứ đầy thông tin và cảm giác để khắc họa con người trong nhất thể với thế giới. Đường thi cũng rất ít xuất hiện trường hợp dùng lối nói ẩn dụ, mà bộc lộ trực tiếp ý tưởng và ưa thích liên tưởng mà không cần viện tới cái tương đồng.
LGT: 1. Dịch giả, nhà phê bình Trần Thiện Đạo( sinh 1933) định cư ở Pháp từ thập niên 50. Sống hơn nửa thế kỷ ở Paris, Trần Thiện Đạo đã thâm ngấm sâu sắc ngôn ngữ và văn minh Pháp. Tuy nhiên, cảm thức cội nguồn vẫn luôn tiềm tàng trong tâm thức của một người trí thức sống lưu vong. Miệt mài, đam mê đến khổ hạnh, ông đã tạo lập một vị trí đặc biệt trong dòng đối lưu văn chương Pháp -Việt.
NGUYỄN THANH TÂM1. Thơ vốn dĩ là sản phẩm của đời sống tinh thần, là sự biểu hiện một cách tinh tế những diễn biến nội tâm của chủ thể sáng tạo. Ngôn từ vẫn luôn là chất liệu với nội lực biểu hiện vô song của nó. Các nhà thơ dù ở thời đại nào, trong môi trường văn hóa, lãnh thổ nào cũng không thể thoát ra khỏi sự ràng buộc tự nhiên của cái biểu đạt ấy để hướng tới cái được biểu đạt ẩn sâu sau những “lựa chọn” và “kết hợp” có giá trị mĩ học.
MAI VĂN HOANKỷ niệm 70 năm ngày mất Hàn Mặc Tử (11/11/1940 - 11/11/2010)Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912, mất năm 1940. Quê Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Tổ tiên họ Phạm, ông cố Phạm Nhương, ông nội Phạm Bồi, vì liên can quốc sự trốn vào Thừa Thiên đổi ra họ Nguyễn. Cha là Nguyễn Văn Toản, mẹ là Nguyễn Thị Duy.
PHONG LÊHôm nay theo tôi quan niệm là một thời gian khá dài, nếu tính từ khởi động của công cuộc Đổi mới với Đại hội Đảng lần thứ VI - 1986.
THÁI DOÃN HIỂUVì sao Nguyễn Du viết Truyện Kiều? Mục đích viết Kiều để làm gì?... là những câu hỏi bức bối trong suốt thời gian tôi còn làm ông giáo đứng trên bục giảng. Tôi đã viết một chuyên luận dài 200 trang để trả lời câu tự vấn trên. Dưới đây là bản tóm tắt ghi bằng thơ để bạn đọc dễ tiếp thu và ghi nhớ.
L.T.S: Tối 27-3-1984, tại Huế, giáo sư Xi-đô-rốp, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Liên Xô, hiệu phó học viện Gooc-ki và là nhà lý luận Văn học nổi tiếng của Liên Xô, đã đến tham dự cuộc tọa đàm về các vấn đề văn học với các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ở Bình Trị Thiên. Sau đây là những ý kiến của giáo sư về các vấn đề đặt ra trong cuộc tọa đàm, qua lời phiên dịch của nhà thơ Bằng Việt, do Hoàng Phủ Ngọc Tường ghi lại.
MAI VĂN HOANTheo thần thoại Hy Lạp, vị thần đầu tiên xuất hiện trên thế gian là thần Ái tình. Thần Ái tình là một đứa bé có cánh với cây cung bên người, ngọn đuốc cầm tay mang tình yêu đến với những trái tim. Tình yêu - nguồn đề tài không bao giờ cạn của văn học nói chung và thơ ca nói riêng.