1. Đặt vấn đề
Đánh giá về những gì văn học đã thể hiện qua chủ đề bệnh tật, văn sĩ Susan Sontag trong tiểu luận Bệnh tật như phép ẩn dụ (Illness as metaphor) đã đưa ra sự so sánh bệnh lao phổi với bệnh ung thư và nhận xét: văn học thế kỷ XX chưa thể hiện mối quan tâm đến bệnh ung thư (Sontag 1978). Có thể thời điểm đó, ung thư chưa phải là vấn nạn cấp bách, hoặc nhận thức của các nhà văn chưa kịp chuyển hướng lưu tâm đến điều này sâu đậm. Sang thế kỷ XXI, văn học đã bày tỏ trách nhiệm và chức năng của mình trong việc chú ý đến bệnh tật. Những căn bệnh như ung thư, các chủng hiếm gặp, đột biến gen và dịch bệnh được chú ý hơn bao giờ hết.
Nhưng trong văn chương, việc phản ánh chủ đề bệnh tật không nhằm đơn thuần ghi lại quá trình đấu tranh của bệnh nhân như những trang sử y khoa. Vì các nhà văn miêu tả, trần thuật bệnh tật từ góc nhìn nhân sinh. Họ chú ý đến những hồ sơ bệnh án lạ và khả năng chống chọi của con người; những hình dung, tái hiện xã hội giai đoạn cách ly, dịch bệnh; qua đó truy tìm nguồn gốc từ những biến đổi môi trường tự nhiên, lối sống và sự tha hóa đạo đức. Trong nỗ lực đó, văn học dĩ nhiên không thể thay thế cho y học, chính trị và những lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Nhưng bù lại, không một lĩnh vực nào có thể thay thế được văn học trong việc giúp con người hiểu cuộc sống và hiểu chính mình, sống có tình thương, đạo lý, văn hóa, lành mạnh.
2. Bối cảnh xã hội thời đại dịch và những cung bậc tâm lý của con người
Trong xã hội hiện đại, với sự lên ngôi của con người cá nhân cùng khát vọng truy tìm bản thể, giải mã thế giới tinh thần, tự do tuyệt đối; thì vấn đề dịch bệnh mang tính cộng đồng, tập thể và nỗi đau xác thịt tạm xem nhẹ, ít để tâm. Chỉ đến khi nhiều đại dịch bùng phát trên thế giới, nhận thức con người chuyển hướng. Văn học đi từ cái ẩn mật trong nội tâm dần quay ra bên ngoài - hóa ra, dịch bệnh vẫn luôn ở bên ta, nỗi đau thể xác cũng ngấu nghiến xót xa chẳng kém gì nỗi đau tinh thần. Mỗi tác phẩm về chủ đề dịch bệnh như một bức tranh xã hội đẫm liệt, một câu chuyện văn chương đầy hiện thực; giúp chúng ta có những hình dung, tưởng tượng đa chiều về đời sống thời cách ly cũng như các dạng phản ứng tâm lý của con người.
Một trong những dịch bệnh xuất hiện đầu tiên của thế kỷ XXI là dịch cúm gia cầm H5N1, kéo dài từ năm 2004 đến 2009, gây thiệt hại cho người và gia súc nhiều nơi trên thế giới. Điều đáng lo ngại là virus H5N1 có khả năng biến đổi cao, nguy cơ lây nhiễm từ vật sang người, từ người sang người rất nhanh, các biến chứng của nó gây ra dễ tử vong. Tiểu thuyết Dòng sông chết của Thiên Sơn đã cung cấp cho người đọc những cảm nhận sâu sắc về một thời kỳ đầy hoang mang, lo lắng khi dịch cúm gia cầm lan rộng khắp thế giới, từ châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Những cảnh báo cấp độ cao cho người trước virus H5N1 đã đặt thế giới trong tình trạng lo ngại, báo động đỏ. Với Việt Nam, một quốc gia phát triển chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp, điều này gây tổn thất to lớn về vật chất lẫn tinh thần. Hình ảnh những nhân viên mang đồ bảo hộ tiêu hủy hàng trăm bao tải gà, vịt cùng vôi bột và hóa chất diệt khuẩn trở thành một nỗi quặn thắt với người nông dân. “Có người nông dân cả đời gắn bó với ruộng đồng, đã quyết tự tử để đi theo những con gà của mình về bên kia thế giới. Ông để lại một bức thư tuyệt mệnh nói lên tình yêu vô hạn của mình với gà vịt, và mơ ước của ông là sau khi sang thế giới bên kia sẽ mở những trang trại gà vịt và chăm sóc cho chúng. Lại có người khác mắc bệnh cúm và chết chỉ mấy tiếng sau khi đưa vào bệnh viện. Lập tức thi hài được mang đi thiêu hủy. Căn nhà của người chết trở thành nơi bị bao vây, khử trùng. Người thân trong gia tộc cũng không dám đến gần. Hàng xóm lánh mặt, người thì chuyển đi nơi khác” (Thiên Sơn 2017: 285). Câu chuyện của Thiên Sơn như những lát cắt sự kiện diễn ra hằng ngày, tới tấp, dồn dập con người. Nhà văn không đi sâu vào từng trường hợp cụ thể, nhưng mọi vấn đề của bệnh tật và dịch bệnh đều được kể đến. Có cái qua nhanh, có cái chạm khẽ gây xốn xang, cũng có cái khiến người ta trăn trở, lật giở suy tư. Điều này thể hiện nỗ lực của nhà văn với tinh thần bắt kịp “xu thế thời cuộc”, chạm đến ngưỡng của “nghệ thuật vị nhân sinh”.
Đến những năm 2019 - 2021, thời điểm dịch Covid-19 bùng phát, ý thức “vị nhân sinh” trong văn học lại trỗi dậy mạnh mẽ khi có nhiều sáng tác về đề tài dịch bệnh được khai thác, bàn luận. Tiểu thuyết đầu tiên ghi dấu bức tranh đời sống Việt Nam thời Covid-19 là Những ngày cách ly của Bùi Quang Thắng1. Bước vào bối cảnh tác phẩm Những ngày cách ly, độc giả sẽ nhớ lại giai đoạn kinh hoàng của Việt Nam vào đầu những năm 2020. Đó là thời điểm vừa bùng phát đại dịch, qua nhiều con đường và hình thức, Covid-19 xâm nhập vào Việt Nam, gây ra những ca nhiễm đầu tiên. Không gian chủ đạo trong tác phẩm là khu cách ly, nên dĩ nhiên, nó là một nơi xa trung tâm, hoang vắng, được bao bọc bởi quân đội. “Hàng rào sắt B40 cao quá đầu người bao quanh. Lối vào duy nhất cũng có barrier chắn ngang và luôn có hai người lính gác kiểm soát tất cả mọi đối tượng, mọi thứ hàng hóa ra vào” (Bùi Quang Thắng 2020: 63). Tác phẩm ghi lại quá trình điều tra các đối tượng bị nhiễm Covid-19 đầu tiên. Đó là những người đã từng xuất cảnh và ở nước ngoài trở về. Qua đó, cốt truyện được tạo dựng, phát triển nhờ vào việc men theo đầu mối truy lùng, lật xới từng mối quan hệ, tra hỏi từng dấu vết F1, F2, F3,… Là tiểu thuyết khởi đầu cho khuynh hướng viết về đại dịch Covid-19, lại ra đời trong bối cảnh đất nước “chống dịch như chống giặc”, nên Những ngày cách ly của Bùi Quang Thắng không miêu tả cặn kẽ những nỗi đau của các bệnh nhân, mà tập trung vào việc nâng cao ý thức phòng chống dịch bệnh qua việc khai báo y tế, tuân thủ các biện pháp cách ly, có lối sống lành mạnh, thiết lập những mối quan hệ nghiêm túc, tôn trọng những người thực thi nhiệm vụ chống dịch như bác sĩ, y tá, công an, đội thiện nguyện.
Về sau tiểu thuyết bàn về dịch bệnh ở giai đoạn 2021 - 2023 đa phần nói đến sự tù túng, ngột ngạt của con người sau một thời gian tiến hành cách ly, giãn cách toàn xã hội, thực hiện chủ trương 5K, 7K2. Cách thức vận hành tiểu thuyết cũng “mượt mà” hơn khi nhà văn có ý thức “lạ hóa” hiện thực, sử dụng lối viết huyền ảo để xoa dịu những khắc nghiệt của đại dịch. Nalis xô dạt bờ định mệnh của Thương Hà là một tiểu thuyết như thế3! Một năm sau đại dịch, Hà Nội trong miêu tả của nhà văn Thương Hà mang một màu u uẩn. “Bầu trời xám xịt phủ xuống cả thành phố một cơn mưa nặng hạt. Âm thanh những giọt nước đập xuống mái tôn lộp bộp lộp bộp khiến lòng người cũng nặng nề theo. Đường phố lúc này cũng vắng hơn mọi khi. Cho dù mới chỉ sáu giờ hơn thì trên đường cũng chẳng có mấy xe cộ đi lại” (Thương Hà 2021a: 11). Những con phố cổ co quắp trong cái nặng nề của sự tồi tàn, rác thải và tử khí. “Khu tập thể này vốn đã cũ kỹ xập xệ. Bức tường được sơn màu vàng đã ố lại rêu phong nhìn loang loang lổ lổ” (Thương Hà 2021a: 11). Nếu không đọc tiếp, người đọc dễ hình dung đây là bức tranh của ngày tận thế. Thực tế, đại dịch Covid-19 đã khiến nhân loại rơi vào cảnh tối tăm, hàng trăm triệu người bị nhiễm bệnh, hàng triệu người tử vong; gia đình ly tán, vô số trẻ em mồ côi. Con người hoang mang với câu hỏi: virus này từ đâu ra? Liệu chúng ta có thể khống chế được đại dịch? Nhân loại còn khốn khổ vì đại dịch bao lâu? Những nghi vấn trên được nhà văn Thương Hà gỡ rối, giải đáp bằng hình tượng Nalis. Nalis hay Covid chung quy cũng chỉ là cái tên ám chỉ virus gây bệnh dịch cho con người.
Những cảnh thương tâm tràn ngập các văn bản. Qua tiểu thuyết Im lặng sống của An Bình Minh4, chỉ trong thời gian ngắn, dịch bệnh đã cướp đi sinh mạng nhiều người dân vô tội, làm chao đảo đời sống, tê liệt sự phát triển kinh tế, du lịch và các ngành nghề khác. “Cả thế giới đã nhiễm vi-rút Corona. Covid-19 đang tràn ngập trong các nước phát triển đặc biệt là ở Mỹ và châu Âu (…). Chưa bao giờ, con người dũng mãnh, gan dạ và yếu đuối, mỏng manh như lúc này. Người ta huy động các nền khoa học trên thế giới và dồn tất cả vật chất và tiền của vào cuộc chiến chống covid.” (An Bình Minh 2023: 78-79). Khi những cảnh thương tâm vì dịch bệnh cứ dần tăng lên, nhà văn gửi gắm một thông điệp: im lặng sống. Ở đây, im lặng không có nghĩa là sự câm lặng, bất lực trước cái xấu, lờ đi mối đe dọa đời sống. Im lặng là cố gắng vượt qua nỗi sợ để tỉnh táo, tìm cách đối phó Covid-19 an toàn, nhanh chóng, hạn chế rủi ro nhiễm bệnh, giảm tỉ lệ tử vong và trả lại một thế giới bình an.
Trong Im lặng sống, các nhân vật hiện hữu với chuỗi ngày nín thở theo dõi tình hình dịch bệnh, “im lặng và hoảng sợ dẫn đến cảm giác hoang mang, như cái chết đang nằm ngay giữa căn nhà trống vắng” (An Bình Minh 2023: 117), ông bà Thản Hiền cùng cư dân khu đô thị Phú Gia Hưng nóng ruột mong ngóng tin tức người thân và đồng bào ở tình thế “chôn chân” bất lực. Trong Bể trăng côi (Huỳnh Trọng Khang), đó là mật thất để con người có thể kín kẽ thực hành im lặng bằng sự vô ngôn, thoát tục giữa đời âu lo bệnh tật mà quán chiếu tâm tưởng bản thân, nguyện cầu chúng sinh, thấu hiểu lẽ nhân quần, khấn niệm để xoa dịu mất mát trước thảm kịch chung toàn nhân loại.
Diễn tả nỗi đau của các bệnh nhân Covid-19, Iris Lê đứng từ góc độ bác sĩ, y tá để khắc họa tường tận những nhức nhối, giãy giụa của họ trên giường bệnh. Trường hợp cô Xie (Có nỗi buồn gieo mầm nhân ái: nhật ký y tá thời COVID-19) là hồ sơ bệnh án đầy sinh động, ám ảnh của một người nhiễm Covid-19 khi đang có bệnh nền. “Mia liên tục truyền các loại kháng sinh mạnh nhất và dung dịch qua tĩnh mạch cho cô. Xie nằm mê man trên giường bệnh, mệt mỏi với những giấc ngủ chập chờn, trán lấm tấm mồ hôi vì sốt. Vì bệnh sử tiểu đường và bệnh tim, virus Corona làm bệnh tình của Xie trở nên trầm trọng hơn những người trẻ bình thường. Sức đề kháng giảm và cơ địa khiến nguy cơ biến chứng tăng do khó khăn trong việc kiểm soát đường huyết mất cân bằng các chất trong cơ thể. Một hệ miễn dịch yếu kém chính là mảnh đất màu mỡ để virus hoành hành và tác oai tác quái” (Iris Lê 2020: 82). Sự chồng lấn những kiến thức khoa học chuyên sâu, logic, bài bản của dịch bệnh Covid-19 trên nền ngữ liệu và tưởng tượng bay bổng của văn chương khiến Có nỗi buồn gieo mầm nhân ái: nhật ký y tá thời COVID-19 của Iris Lê vừa như một báo cáo y khoa, một phiên hội thẩm chẩn đoán và vạch ra phác đồ điều trị, cũng lại vừa như trường thiên về nỗi đau của con người trước đại dịch.
Các tác phẩm trình bày cho chúng ta về một đại dịch có thể tạo ra những rối loạn xã hội to lớn. Khi người ta phải đụng chạm cùng nhau trong một nơi chật hẹp, không được hoạt động ngoài trời và không thể làm được điều gì, đời sống gia đình có nguy cơ đảo lộn trật tự. “Những ngày này mọi người ở nhà tránh dịch, dường như những tiếng quát mắng cãi vã ồn ào vẫn vang lên không dứt. Người ta không thể ra ngoài đi làm, không thể mưu sinh kiếm sống. Những đồng tiền còn lại có vẻ như không đủ cho họ duy trì cuộc sống như trước đây. Gánh nặng tiền bạc rồi gánh nặng trong gia đình khiến những tiếng mắng chửi kia ngày ngày đều có thể nghe được” (Thương Hà 2021a: 127). Thời kỳ dịch bệnh khủng khiếp trôi qua trì níu cuộc sống con người, khiến sự sinh tồn vốn đã khó khăn, càng lúc càng bấp bênh, khốn đốn.
Trong sự bấn loạn ấy, con người đã phản ứng trước đại dịch ra sao? Câu hỏi này là mối quan tâm của các sáng tác chủ đề dịch bệnh. Các nhà văn đều có đáp án chung trong việc miêu tả diễn biến từ thờ ơ, xem nhẹ đại dịch đến bất ngờ, hoang mang, lo sợ, và cuối cùng là cảm giác đau đớn, cô đơn, tuyệt vọng. Khi nói về những trận dịch đã qua, O. Pamuk đã rút ra những điểm tương đồng đáng chú ý: “Họ tò mò nhất về những điểm tương đồng giữa đại dịch virus Corona hiện nay và các đợt bùng phát dịch hạch và dịch tả trong lịch sử. Có quá nhiều điểm tương đồng. Trong suốt lịch sử loài người và văn học, điều khiến các đại dịch giống nhau không chỉ là sự giống nhau của vi trùng và virus mà là những phản ứng ban đầu của chúng ta” (Pamuk 2020). Những gặp gỡ chung trong phản ứng trước đại dịch đã dẫn tới hiện tượng “tâm lý bầy đàn”. Nhiều gia đình, vì sợ hãi, lo xa, đã tích trữ lương thực, thực phẩm; khiến cuộc khủng hoảng kinh tế, hàng hóa và tiền tệ mỗi lúc một trầm trọng. “Người ta không còn đủ tỉnh táo để suy nghĩ. Trong cơn hoảng loạn, người ta sẵn sàng làm bất cứ thứ gì để bảo vệ lợi ích của bản thân mình. Khoảng vài tuần sau đó thì siêu thị ra lệnh chỉ cho phép mỗi người mua hai món hàng cùng loại một lúc” (Iris Lê 2020: 105-106). Khi đứng bên bờ vực cái chết, mất dần niềm tin vào sự sống, mọi thứ trở nên điên loạn, họ hành xử theo đám đông, bất chấp hậu quả. Họ cũng nhìn thấy sự hiện tồn trống rỗng và vô nghĩa của phận người. “Năm ngoái lúc dịch bệnh này mới bùng lên, người ta cũng chỉ nghĩ nó giống như một đợt dịch bệnh trước đây mà thôi. Cho dù đúng là cũng lây lan rất nhanh, chết kha khá người nhưng nghĩ rồi nó cũng sẽ qua thế. Có ai ngờ đâu, đến khi các nước trên thế giới dần dần công bố số ca nhiễm mỗi ngày, số ca tử vong mỗi ngày, người ta bắt đầu không còn dám khinh thường nó như trước đây nữa… Đó là chuỗi ngày thê lương, lặp đi lặp lại trong nỗi chán chường - những cánh tay níu lấy bác sĩ, than thở, cầu xin và nước mắt; những tiếng còi xe cứu thương inh ỏi; những giấc mộng kinh hoàng mà giật tỉnh chỉ còn trơ trọi một mình, tất cả người thân đều chết vì dịch bệnh. Để về sau, con người hoang hoải tìm ý nghĩa của đời sống bằng cách vá víu những vết thương đã hằn sâu vào tâm khảm.
Bên cạnh khủng hoảng kinh tế, lương thực và y tế, điều đáng chú ý là các tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI đã lưu tâm đến cuộc khủng hoảng truyền thông. Trong thời kỳ đại dịch, sự hoạt động của các phương tiện và hình thức truyền thông có ý nghĩa rất quan trọng. Nó có tác dụng: vừa phổ biến kiến thức dịch bệnh cho người dân, tuyên truyền các biện pháp phòng tránh, cập nhật số liệu, đưa ra lời cảnh báo, lan tỏa sức mạnh đoàn kết và động viên trong cộng đồng… Nhưng truyền thông cũng có hai mặt: lợi và hại. Một số thành phần tiêu cực trong xã hội đã lợi dụng truyền thông để gây hoang mang dư luận, trục lợi, tung những tin đồn thất thiệt làm dân chúng lo âu, hoảng loạn, xã hội bất an. Nhà văn Iris Lê đánh giá rằng: “sự nhiễu loạn thông tin không chỉ gây ra thiệt hại trong khoảng thiếu hụt nhu yếu phẩm. Mà còn có những tấn bi kịch khác mà người ta có thể không ngờ tới” (Iris Lê 2020: 106). Còn Thương Hà nêu lên thực trạng: “Mỗi ngày phòng an ninh mạng phải xử lý rất nhiều thông tin. Gần đây do dịch bệnh căng thẳng, các loại tin giả, thông tin sai sự thật rồi các loại bài viết được đăng tải tràn lan khiến lượng công việc của cậu tăng lên rất nhiều” (Thương Hà 2021a: 24). Lực lượng công an và quân đội, ngoài việc phải giữ gìn trật tự an ninh trong xã hội, các đồng chí còn phải vất vả, nhọc nhằn đối phó với sự hỗn loạn, bát nháo của các tài khoản, blog ảo để đảm bảo bình yên trên không gian mạng internet.
Khi tái hiện khung cảnh xã hội và phản ứng dân chúng thời kỳ đại dịch, Dịch hạch của Albert Camus (Pháp) tập trung vào thực tiễn thành Oran, đồng thời khơi lại bề sâu lịch sử. Ý niệm nhà văn muốn nhấn mạnh đến tính chất phi lý của đời sống: dịch bệnh cũng như bao điều phi lý khác từng tồn tại xưa nay, con người không có cách thoát ra, thay vào đó là thay đổi bản thân bằng con đường đấu tranh, kiên cường, chống chọi. Còn các nhà văn Việt Nam lại tập trung đến cục diện rộng hơn, không chỉ gói gọn trong một quốc gia mà còn kết nối phạm vi thế giới, giúp cho tác phẩm mở rộng biên độ phản ánh, cũng là cách thức nhấn mạnh đây là đại dịch nguy kịch trên toàn cầu. Sự khác biệt này đến từ tâm thức và góc nhìn. Vì Camus nhìn dịch bệnh theo chiêm nghiệm của một người đã đi qua; nên văn bản lắng ở bề dày thời gian, lối trần thuật suy tư, điềm tĩnh, tập trung vào vấn đề then chốt và gốc rễ nhất. Còn các nhà văn Việt Nam lại đứng ở phía trong tâm dịch; họ viết và cảm nhận dịch bệnh với tư cách “nạn nhân” hơn là “người kể chuyện lịch sử”. Đặc biệt, các tiểu thuyết Những ngày cách ly (Bùi Quang Thắng), Có nỗi buồn gieo mầm nhân ái: nhật ký y tá thời COVID-19 (Iris Lê), Nalis xô dạt bờ định mệnh (Thương Hà) đều viết trong hai năm 2020, 2021 - là thời điểm bùng phát dịch Covid-19 nghiêm trọng nhất. Vì thế, ăm ắp sự kiện đáng tin, có thực, cùng không khí khẩn trương, gấp gáp, căng thẳng là những gì tiểu thuyết mang lại trong nhãn quan người đọc hôm nay.
Giữa những cảnh tượng người người nháo nhác, hốt hoảng, gây hấn trong đời sống đại dịch được miêu tả qua nhiều tiểu thuyết, Bể trăng côi của Huỳnh Trọng Khang là một tác phẩm ấn tượng, độc đáo bởi nhân vật chính trải nghiệm, chứng kiến dịch bệnh là một vị sư trẻ. Vì thế, từ góc nhìn chứng nhân thuần túy Phật giáo, Bể trăng côi lý giải những cái chết trong đại dịch Covid-19 như một quy luật thường hằng: sinh - trụ - dị - diệt, có diệt có sinh theo giáo lý nhà Phật. Mang khát vọng tái hiện lại thời kỳ đại dịch ở tầm bao quát toàn cầu, mạch truyện của Bể trăng côi được Huỳnh Trọng Khang thiết lập thành hai tuyến song song: chuyện thế kỷ XXI có một nhà sư trẻ rời khỏi thảo am để đi tìm ngọn núi Sa Mạo theo di nguyện của sư phụ và chuyện từ thời Đại Đường, Huyền Trang đến Tây Trúc thỉnh kinh. Hai câu chuyện tưởng không liên quan, nhưng lại kết nối bằng ước số giao thoa là dịch bệnh. Hóa ra, kiếp nạn của Huyền Trang chẳng phải là sự tấn công hiểm ác của yêu quái, cạm bẫy khó lường của yêu tinh, sự khát máu hung hăng của mãnh thú, mà nằm ở bệnh Huyết Nhiệt.
Giải thích nguyên nhân kiếp nạn này khác với nguyên tác Tây du ký của Ngô Thừa Ân và cả những dị bản lưu truyền trong dân gian, nhà văn Huỳnh Trọng Khang trần tình: “Huyền Trang sống vào cái thời mà các thư tịch chép chuyện dịch bệnh còn ít. Trong một câu chuyện về dịch bệnh phải kết thúc bằng cảnh thiên hạ thái bình, nhân loại dù chỉ còn sót hai người đi nữa thì vẫn còn nhân loại. Chỉ thế thì dịch bệnh mới có ý nghĩa gì đó hơn là cơn cuồng sát của tự nhiên. Để rao giảng một bài học, để còn lại chứng nhân… Và có thể coi dịch bệnh như là một ngụ ngôn tôn giáo. Con đường tu hành của Huyền Trang đầy rẫy bệnh tật, ông không đến tận Tây Trúc lấy kinh, vì bằng chứng là những cuốn kinh đem về đều giấy trắng. Huyền Trang cùng nhân gian trải qua các bệnh dịch tả, thương hàn, Huyết Nhiệt; thấm thía nỗi đau, mất mát, chết chóc cùng chúng sinh”. “Sau nhiều năm Huyền Trang hiểu lý do mình ra đi, không phải tìm kiếm những bộ kinh mà nói như Thái Tông, bất kỳ đội kị binh nào của ngài cũng có thể mang về Đại Đường. Không. Ông không chỉ tìm kiếm các bộ kinh, chính ông cũng đang phiêu lưu, cũng như các bộ kinh cũng đang phiêu lưu trên đoạn đường mười vạn tám ngàn dặm” (Huỳnh Trọng Khang 2023: 170). Xuyên không quay trở về hành trình của nhà sư trẻ đi tìm Sa Mạo sơn, trải qua cơn bao biến dịch bệnh với người đời, cuối cùng vị sư nhận ra Sa Mạo bấy lâu loay hoay hướng vọng lại là Núi Đội - chốn xuất phát, có thảo am nhỏ yên bình. Vậy là nơi hành trình bắt đầu cũng là điểm hành trình kết thúc. Đó chính là chuyến đi ra khỏi “bản thể” để có thể nhìn sâu vào “bản thể”. Nghĩa là các nhân vật đã thực hiện chuyến hành hương về thế giới nhân sinh, nhằm hiểu sâu về bản thể, từ đó tìm ra chân lý hư vô của vạn vật trong vũ trụ: “Sống chỉ như mặc áo, chết cũng tợ cởi quần. Cởi quần, mặc áo là chuyện bình thường ở đời, đừng lấy đó mà đau khổ” (Huỳnh Trọng Khang 2023: 213). Gác lại những tiếng kêu thê lương, xáo xác của con người giữa thời đại dịch, Bể trăng côi đan cài ảo/ thực, hư cấu/ tưởng tượng, quá khứ/ hiện tại, tạo nên một thế giới thấm đẫm thiền triết Phật giáo, giúp độc giả giác ngộ lẽ vô thường của tạo hóa, từ đó mà có tâm thái thản nhiên đón nhận những “hỉ nộ ái ố” giữa thế nhân.
3. Kết luận
Đánh giá sự phát triển của văn học về đề tài dịch bệnh tại Việt Nam, có thể thấy, thơ ca được xem là lĩnh vực tiên phong và có số lượng tác phẩm phong phú, phản ánh muôn mặt các khía cạnh của dịch bệnh. Riêng với tiểu thuyết, dù đi sau các thể loại khác nhưng lại có chiều sâu và có sự khái quát trong việc phản ánh đời sống thời kỳ dịch bệnh. Điểm qua các tiểu thuyết lấy cảm hứng từ đại dịch Covid-19 như Những ngày cách ly (Bùi Quang Thắng), Có nỗi buồn gieo mầm nhân ái: Nhật ký y tá thời COVID-19 (Iris Lê), Nalis xô dạt bờ định mệnh (Thương Hà), Im lặng sống (An Bình Minh), Bể trăng côi (Huỳnh Trọng Khang),… đa phần những tác phẩm này thường tập trung đầu tư và phát triển về nội dung, các phương diện đổi mới, cách tân nghệ thuật chưa thực sự nổi bật. Đến thời điểm này, vẫn còn quá sớm để đánh giá và nhận định chính xác về dòng tiểu thuyết đề tài dịch bệnh của Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Tuy nhiên, theo tiến trình ra đời và phản ánh của từng tác phẩm, có thể tạm xếp tiểu thuyết đề tài dịch bệnh thành hai khuynh hướng cơ bản sau:
Thứ nhất, các tiểu thuyết viết từ trong đại dịch. Điểm chung của những tác phẩm này thường hàm chứa tính khái quát thời đại; bút pháp tả thực được vận dụng triệt để; có sự giao thoa giữa hình thức thể loại phóng sự, ký sự; khai thác tối đa các yếu tố liên văn bản, nhất là các kiến thức liên ngành về y tế, dịch tễ học, xã hội học; mang tính cổ động, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người đọc; phát huy mạnh mẽ chức năng nhận thức và giáo dục của văn học.
Thứ hai, các tiểu thuyết viết từ ngoài nhìn về đại dịch. Với một độ lắng thời gian không quá dài5, tiểu thuyết dần thoát ra khỏi tính tuyên truyền, giáo lý; có sự đầu tư hơn về kỹ thuật viết, hòa phối giữa hiện thực với hư cấu, tưởng tượng. Thế giới được hình dung trong các tiểu thuyết này mang hơi hướng “phản địa đàng”6, thiết lập một chốn không - thời gian tận thế, đầy phi lý, bất ổn, để con người chủ động thức tỉnh, nhận thức rõ hơn về thực tại.
Trong một khoảng thời gian ngắn, dù chưa có những kiệt tác nổi bật, bên cạnh một số tiểu thuyết sáng tác vội vã, nhanh chóng để phản ánh nóng hổi thời cuộc, chất lượng nghệ thuật chưa cao, dễ bị “quên” sau khi đọc; vẫn có những tác phẩm đầu tư, đặc biệt là các cây bút trẻ, không ngừng làm mới tiểu thuyết bằng sự dấn thân, thể nghiệm. Trên tinh thần nhìn nhận khách quan, tiểu thuyết Việt Nam đã thể hiện nỗ lực hòa nhập với văn chương thế giới trước các vấn đề liên quan đến bệnh tật, dịch bệnh. Đồng thời từ đây mở ra một hướng đi triển vọng cho tiểu thuyết nói riêng, văn học Việt Nam nói chung trước các vấn đề liên ngành về “giải phẫu thân xác và tâm hồn con người” dưới góc độ mỹ cảm văn chương.
N.T.T
(TCSH437/07-2025)
------------------
1 Tiểu thuyết Những ngày cách ly của Bùi Quang Thắng, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2020; lúc này đại dịch Covid-19 vừa mới diễn ra ở Việt Nam khoảng 8 tháng. Tác phẩm được Bùi Quang Thắng viết nhanh chóng trong vòng 12 ngày.
2 Trước tình hình diễn biến phức tạp và nguy hiểm của đại dịch Covid-19 tại Việt Nam, vào ngày 30/8/2020, Bộ Y tế tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch Covid-19 thực hiện Thông điệp 5K (Khẩu trang, Khử khuẩn, Khoảng cách, Không tụ tập, Khai báo y tế). Đến tháng 5/2021, Bộ Y tế khuyến cáo bổ sung Thông điệp 7K (có thêm Kiểm soát biên giới, Khu cách ly an toàn).
3 Nalis xô dạt bờ định mệnh của Thương Hà, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2021.
4 Tiểu thuyết Im lặng sống của An Bình Minh, Nxb. Hội Nhà văn, 2023.
5 Những tiểu thuyết này ra đời khi đại dịch diễn ra được 2, 3 năm, điển hình như Bể trăng côi (Huỳnh Trọng Khang).
6 Phản địa đàng (Dystopia) là thuật ngữ trái ngược với “Địa đàng” (Utopia), mang hàm nghĩa “nơi xấu xa”. Tiểu thuyết phản địa đàng (Dystopian novels) ra đời nhằm miêu tả viễn cảnh tương lai trong tưởng tượng để giải thích cho những nỗi lo âu, sợ hãi, hoài nghi của con người thời đại kỹ trị trước những bất an như dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh, cái chết…
Tải mã QRCode
INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)
HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...” Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?
HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.
LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.
LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.
INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?
VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.
HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).
THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.
NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...
TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!
HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.
BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.
MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.
NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.
ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.
NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.
TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...
NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.
MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.