Rồng đá thời Nguyễn - Ảnh: vietlyso.com
Xưa nay, người Việt luôn tôn vinh rồng, xem rồng là linh vật tổ, tự xưng mình là “con rồng cháu tiên”. Bởi vậy, con rồng có một vị trí thật quan trọng trong nền nghệ thuật truyền thống của người Việt. Hình ảnh rồng trở thành biểu tượng cao đẹp của lý tưởng, niềm tin và sức mạnh dân tộc. Cũng như các thời kỳ khác, trong nghệ thuật thời Nguyễn, đặc biệt là trong nền nghệ thuật cung đình, ở khắp mọi di tích và di vật, hình ảnh phổ biến nhất, nổi bật nhất vẫn là con rồng. Khi so sánh rồng thời Nguyễn với các con rồng trong những thời kỳ trước đó ở Việt Nam, PTS. Tống Trung Tín cũng bám sát các đặc trưng đã nêu trong mô hình chung về rồng Nguyễn để phân biệt như sau: - Sừng: Rồng Lý không có sừng. Rồng cuối thời Trần thì sừng rất đa dạng, trong đó có kiểu sừng thon dài có một ngạnh cong nhẹ nhô ra. Suốt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, kiểu sừng này vẫn tồn tại bên cạnh một vài kiểu sừng khác nữa và cuối cùng chỉ còn có nó được lưu giữ và ồn định dưới thời Nguyễn. - Vây lưng: Vây lưng rông Lý thường có hình tia lửa nhỏ, đều và xếp dày, sít dọc theo sống lưng rồng. Chỉ đến thời Trần vây lưng bắt đầu đa dạng trong đó có kiểu vây có tia dài và cứ một tia lớn lại xen một tia nhỏ. Thế kỷ XV-XVIII, vây lưng rồng rất đa dạng, nhưng kiểu vây của thời Trần có phần phổ biến hơn, song thường bè rộng, mũi tia thuôn và mập. Chỉ đến thời Nguyễn, kiểu vây lưng này mới thống nhất là tỉa đều, dài, mảnh và lặp đi lặp lại đều đặn. - Thân rồng, đuôi rồng và vận động: Rồng Lý Trần có đặc trưng “thân rắn” thon, dài, uốn khúc cong kiểu “thắt miệng túi”. Dần dà, các thời sau thường làm cho thân rồng bè ra về chiều rộng, thu ngắn về kích thước, khúc uốn doãng ra nhưng đặc tính “rắn” của thân rồng luôn giữ vững. Tiếp tục truyền thống đó, rồng Nguyễn cũng uốn lượn khá đa dạng nhưng dáng rồng thân rắn nói chung vẫn bảo đảm, thế vận động vẫn kha mềm mại, uyển chuyển. Riêng kiểu đuôi xoắn của rồng Việt xuật hiện khá muộn vào khoảng cuối thế kỷ XVIII (Cuối thời Lê Trung hưng và thời Tây Sơn). Đuôi rồng Nguyễn đã kế thừa và phát triển kiểu đuôi này. - Má rồng: Kiểu má rồng thon, dài là đặc trưng nghệ thuật của rồng Lý- Trần. Đó là kiểu má được hình thành dưới ảnh hưởng của con Makara trong nghệ thuật Champa- Ân độ. Sau thời Trần, trên cơ sở kiểu má này, má rồng Việt Nam biến đổi phong phú hơn, song về nguyên tắc, má Makara luôn luôn được bảo đảm. Thậm chí ở nhiều di tích, nó luôn trung thành với kiểu má rồng Lý- Trần (rồng diềm bia Vĩnh Lăng thế kỷ XV, rồng trên bệ đá chùa Mễ Sở, nóc chùa Mui thế kỷ XVI, rồng ở bệ chùa Ngọc Khám thế kỷ XVII..). Bởi vậy, khi sang thời Nguyễn, má rồng lúc này dù đã thu ngắn lại và hơi mập hơn một chút, nhưng dáng dấp má Makara vẫn rất rõ nét. Hầu như các tiêu bản rồng của Cadière đều chứng minh được điều này. Kèm theo sự biến đổi của má là mang: từ mang một xoáy thời Lý đến mang nhiều xoáy thời Trần, từ mang nhiều xoáy cong đến kiểu mang có các tia duỗi thẳng ra ngoài để cuối cùng biến thành kiểu mang rồng Nguyễn giống như các tia lửa nhọn, sắc và dài (3) Theo tôi, trên đây là những nhận xét khá tổng hợp và tinh tế về con rồng thời Nguyễn. Tuy nhiên các nhận xét ấy vẫn còn thiếu bởi các lý do sau đây: 1. Không phải bao giờ con rồng Nguyễn cũng được thể hiện đầy đủ với tất cả các đặc điểm riêng (ở đầu, thân, vây lưng, vảy, đuôi...) như trên đã mô tả, mà tùy vào vị trí, vào ý nghĩa cần được biểu hiện một cách thích hợp, rồng Nguyễn xuất hiện với các tư thế rất khác nhau và với những đặc điểm riêng hết sức phong phú, có rất nhiều khi rồng Nguyễn chỉ xuất hiện một bộ phận nào đó của cơ thể như phần đầu, phần mặt, phần thân... 2. Mô hình chung về rồng Nguyễn với các đặc trưng trên chỉ đúng với con rồng theo nghĩa hẹp. Trên thực tế, dưới thời Nguyễn rồng còn xuất hiện rất phổ biến với các biến thể khác nhau, cũng tùy theo vị trí, cấp độ cần được thể hiện, chẳng hạn như: giao long, long mãng, con cù... Những điều này được thể hiện rất rõ trong nghệ thuật trang trí cung đình thời Nguyễn. Trong mỹ thuật cung đình Nguyễn, rồng được thể hiện hết sức đa dạng, phong phú. Sự phong phú này thể hiện trên nhiều mặt: chất liệu, đề tài, vị trí xuất hiện, cách thức tạo hình... * Về mặt chất liệu: hầu như tất cả các chất liệu sử dụng trong nghệ thuật cung đình đều được sử dụng để tạo nên hình ảnh của rồng. Đó là các chất liệu kim loại (vàng, bạc, đồng), gỗ, ngà, đá, gạch, vôi vữa, ghép sành sứ, sơn mài, sơn thếp vàng bạc, đồ pháp lam, trang trí trên đồ gốm sứ, đồ dệt vải... * Về đề tài: rồng Nguyễn được thể hiện trong các đề tài rất đa dạng như “lưỡng long triều nguyệt”, “lưỡng long triều nhật”, lưỡng long tranh châu”, hồi long, cửu long tranh châu, cửu long ẩn vân, long vân thủy ba, viên long...ngoài ra còn có rồng chầu thành bậc, rồng đội bia, rồng đội mặt trời, rồng đội thiên hồ... có khi rồng được thể hiện cùng các con vật khác trong tứ linh như rồng- phụng, rồng- lân, hoặc có khi lại được trình bày chung cả nhóm tứ linh long lân quy phụng. Rồng còn được thể hiện trong các biến thể về hình thức của cỏ cây hoa lá hay các con vật hóa rồng như: mai hóa rồng, trúc hóa rồng, liễu hóa rồng, cúc hóa rồng, cá chép hóa rồng... * Về vị trí xuật hiện và cách thức tạo hình: Để dễ dàng hơn trong việc phân tích vai trò của con rồng trong trang trí mỹ thuật cung đình Nguyễn, chúng tôi tạm chia thành 2 phần lớn: rồng trong trang trí kiến trúc và rồng trong trang trí các vật biểu tượng và đồ ngự dụng. I. Con rồng trong trang trí kiến trúc cung đình Nguyễn a. Ở các loại hình kiến trúc nhà ở, thờ tự hay giải trí (bao gồm điện, đình, lầu, các, tạ, miếu, tự...). Đối với các loại hình kiến trúc này, ở cả 3 phần chính của công trình là: phần mái, phần thân và phần nền móng đều có hình ảnh của rồng. - Phần mái: Đây là phần rồng xuất hiện nhiều nhất và dễ nhận thấy nhất, tuy nhiên do khoảng cách quan sát khá xa nên người thợ thường chú ý dáng vẻ chung của rồng chứ ít trau chuốt về chi tiết. Các chất liệu phổ biến được sử dụng để tạo nên rồng là vôi vữa, vôi vữa gắn mảnh sành sứ và đồ pháp lam. Ở phần chính giữa dải bờ nóc, rồng thường xuất hiện thành từng cặp chầu vào hình một mặt trời, mặt trăng, viên ngọc hoặc thiên hồ (bầu rượu) theo mô-típ lưỡng long triều nhật, lưỡng long triều nguyệt, lưỡng long tranh châu hay lưỡng long triều thiên hồ. Nếu rồng xuất hiện ở vị trí chính giữa bờ nóc thì thường chỉ có phần đầu và hai chân trước, đầu đội mặt trăng, mặt trời hoặc thiên hồ. Ở cuối các dải bờ nóc, bờ quyết rồng luôn vươn đầu lên cao, mặt hướng vào trong theo mô-típ hồi long. Biến thể ở cấp độ thấp hơn của rồng là con giao long cũng được tạo hình tương tự. Tuy nhiên ở 2 nhà Bát giác hai bên lầu Kiến Trung trong Tử Cấm Thành thì có trường hợp ngoại lệ: tất cả các con rồng nằm trên bờ mái, bờ quyết của công trình đều hướng mặt ra phía ngoài, trông đặc biệt thú vị. Ở hai đầu hồi, nếu được bít đốc thì phần đầu đốc của công trình cũng hay được trang trí một mặt rồng nhìn trực diện (thuật ngữ chuyên môn gọi là rồng ngang hay hổ phù), miệng ngậm một chữ “thọ” hoặc một vòng tròn. Chất liệu tạo nên mặt rồng này chủ yếu là vôi vữa gắn mảnh sành sứ, đôi khi đúc bằng gốm (như ở điện Ngưng Hy- lăng Đồng Khánh) - Phần thân: đối với các công trình kiến trúc gỗ, rồng chủ yếu được trang trí ở hệ thống cột trụ bằng cách sơn thếp, trong môtíp đề tài thống nhất là long vân thủy ba (rồng mây và sóng nước) Một số hàng cột hiên đắp bằng vôi vữa đôi khi cũng được trang trí với đề tài tương tự (trường hợp hàng cột hiên điện Thái Hòa). Có một trường hợp rất đặc biệt là toàn bộ các bộ vì tiền điện của điện Long An đều là những khối gỗ liền được chạm lộng với các đề tài về rồng. Đây là những bức chạm đạt đến trình độ tuyệt mỹ về kỹ thuật và mỹ thuật của nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Đối với các công trình kiến trúc xây bằng vật liệu hiện đại như lầu Kiến Trung, cung An Định, cung Thiên Định (lăng Khải Định), rồng còn được tạo nên bằng cách đắp nổi trên hệ thống cột trụ và phía trên các vòm cửa. Hình thức trang trí này được thể hiện sinh động và thực sự tạo nên vẻ đẹp phong phú của công trình. - Phần nền móng: con rồng hầu như chỉ xuất hiện 2 bên thành bậc cấp của phần nền công trình. Rồng được tạo hình duỗi dài theo bậc cấp, đầu hướng xuống phía dưới. Kiểu rồng này hoàn toàn tương tự các con rồng thành bậc ở các tầng sân tại những khu lăng mộ vua Nguyễn. Độ dài của rồng phụ thuộc vào chiều cao của hệ thống bậc cấp hay tầng sân. b. Ở các loại hình kiến trúc khác: - Cổng: có 3 kiểu cổng chính mà rồng thường xuất hiện.Kiểu cổng gỗ có mái lợp (Ngọ Môn, cửa Hòa Bình, Khiêm Cung Môn-lăng Tự Đức, Hiển Đức Môn-lăng Thiệu Trị..v..v..), rồng được trang trí ở phần mái tương tự như ở các loại hình đầu. Với kiểu cổng được xây đắp bằng gạch và vôi vữa (cửa Hiển Nhơn, Chương Đức, cửa ở các khu lăng tẩm, miếu thờ), ngoài việc trang trí ở phần mái rồng còn xuất hiện ở phần thân cổng trong các ô hộc với các chất liệu vôi vữa có gắn mảnh sành sứ hoặc không, hoặc đúc sẵn bằng đất nung rồi gắn vào. Ở loại cổng thứ 3, tuy hình thức khá đơn giản nhưng lại mang tính nghi vệ cao (các nghi môn bằng đồng ở hai đầu cầu Trung Đạo trước điện Thái Hòa, hai đầu cầu Thông Minh Chính Trực- lăng Minh Mạng, hai đầu cầu Chánh Trung- lăng Thiệu Trị, các cổng đắp bằng vôi vữa như cổng Nhật Tinh, cổng Nguyệt Anh ở phía sau điện Thái Hòa...), rồng được đúc nổi hay đắp nổi theo môtíp long vân. Những con rồng này thường rất dài, dáng vẻ dữ tợn, khá giống rồng thời Thanh. -Bình phong: Rồng được trang trí các bình phong hầu như đều đắp bằng vôi vữa có gắn mảnh sành sứ (trừ trường hợp bình phong lăng Thiên Thọ Hữu rồng được điêu khắc trực tiếp trên nền đá Thanh). Đề tài về rồng trên bình phong khá phong phú, cách thức tạo hình cũng đa dạng có khi rồng xuất hiện một mình trong các cụm mây và xoáy nước (đề tài long vân thủy ba), có khi xuất hiện thành từng cặp chầu về một mặt trăng, mặt trời...(đề tài lưỡng long triều nhật, lưỡng long triều nguyệt...), cũng có khi rồng nằm cuộn mình trong các ô hộc với các tư thế khá sinh động. Ngoài ra trên bình phong còn thường sử dụng đề tài long mã chạy trên sóng nước, lưng chở Bát quái. Có thể xem long mã là một dạng biến thái đặc biệt của rồng. Ở kiến trúc cung đình Huế, long mã bao giờ cũng được tạo hình rất trung thành theo môtíp đầu rồng, thân ngựa chứ không bao giờ lẫn lộn với kỳ lân như ở nhiều nền mỹ thuật khác. II.Con rồng trên các vật biểu tượng cho vương quyền và các đồ ngự dụng a. Trên các vật biểu tượng cho vương quyền: - Ngai vàng: Trên mỗi chiếc ngai vàng đều có 5 con rồng ở các vị trí tương tự là hai tay ngai, hai chân trước và phần diềm giữa hai chân trước. Cả 5 con rồng đều chú trọng tạo hình ở phần đầu, mặt đều hướng ra phía trước, dáng vẻ rất oai nghiêm, hùng dũng. -Bửu tán: là cái tán lớn che phía trên ngai vàng. Bửu tán bằng gỗ thếp vàng tại điện Thái Hòa và bửu tán bằng bêtông cốt sắt ở điện Khải Thành- lăng Khải Định đều có 9 con rồng, được tạo hình rất đặc sắc. 9 con rồng này cùng với 5 con rồng ở ngai vàng có mối liên hệ rất chặt chẽ. Chúng là biểu tượng của hào Cửu-ngũ, của ngôi vị đế vương, thừa mệnh trời để trị vì thiên hạ. -Vương Ân: các ấn triệu của vua, dù làm bằng ngọc hay bằng vàng, bạc thì quai ấn bao giờ cũng chạm hoặc đúc nổi thành hình rồng. Rồng trên quai ấn thường trong tư thế cuộn tròn, đầu vươn cao, 4 chân chống xuống thân ấn, dáng vẻ hiên ngang và trông rất sinh động. -Vương kiếm: kiếm của vua, cùng với ấn, là những vật tương trưng cho quyền lực tối thượng của người đứng đầu thiên hạ. Đuôi kiếm của các vị vua triều Nguyễn làm bằng vàng nạm ngọc hình một đầu rồng được chạm trổ vô cùng tinh xảo. Do gắn liền với hình ảnh rồng nên vương ấn cũng như vương kiếm còn được gọi là Long ấn Long kiếm. -Cửu đỉnh: Cửu đỉnh là những vật biểu trưng cho sự thống nhất của đất nước, sức mạnh, sự thành công và sự trường tồn của triều đại. Hình ảnh con rồng được đúc nổi ở hàng cao nhất trên Cao đỉnh, chiếc đỉnh biểu tượng cho vị vua sáng tạo ra triều Nguyễn- vua Gia Long được thể hiện trong tư thế phi long tại thiên” (rồng bay giữa trời) ứng với hào Cửu - ngũ của Kinh Dịch. Tư thế rồng hiên ngang giữa các cụm mây vờn xoắn. b.Trên những đồ ngự dụng: -Long bào: Long bào để vua mặc khi tế tự hay ngự triều thì rồng được thể hiện trong tư thế uy nghiêm, dũng mạnh, thân vươn dài hoặc uốn mình thành những khúc lớn. Long bào trong bộ thường phục thì thường được thêu theo đề tài viên long (rồng cuộn tròn) tất cả những con rồng biểu tượng cho vua là mỗi chân của chúng đều có 5 móng; long mãng được thêu trên áo các vị đại thần (chỉ có 4 chân). -Trên các đồ sứ ngự dụng: Đồ sứ ngự dụng của triều Nguyễn đều là đồ sứ ký kiểu sản xuất tại Trung Hoa với gam màu lam cho các hình vẽ trang trí rất đặc trưng. Hình ảnh rồng trên loại đồ đặc biệt này được thể hiện khá đa dạng. Các đề tài thường gặp là long-vân, long hí thủy, long-lân,long-phụng, viên long, lưỡng long triều nhật, lưỡng long tranh châu... Rồng thường được vẽ trên phần thân của đồ sứ (chén, tô, dĩa...). Riêng thời Thiệu Trị, hình viên long được vẽ hẳn vào đáy của đồ sứ xem như một loại phù hiệu đặc trưng. Chỉ với chừng ấy thôi chúng ta cũng đã đủ cơ sở để khẳng định rằng, rồng Nguyễn chính là sự kế thừa và phát triển ở mức độ cao con rồng truyền thống của người Việt P.T.H (132/02-2000) -------------------------------------------- (1), (2), (3) PTS. Tống Trung Tín - Con rồng Nguyễn trong không gian và thời gian, in trong NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA XÃ HỘI THỜI NGUYỄN, Kỷ yếu Hội thảo, trang 185-190. |
Tải mã QRCode
TRẦN VĂN QUYẾNTrong quá trình đi điền dã thu thập tư liệu Hán Nôm ở huyện Phú Lộc Thừa Thiên Huế, chúng tôi đã được tiếp cận hai đạo sắc phong cho người có công trị thủy ở từ đường dòng họ Lê Kim, thôn Đông, làng Bàn Môn, xã Lộc An.
PHAN THANH HẢIDưới thời quân chủ, hầu như ở tất cả các nước phương Đông đều có tục tế giao. Tế giao tức là tổ chức nghi lễ cúng để con người có thể giao tiếp được với trời, đất và các bậc thần linh.
LÊ NGUYỄN LƯUI. QUAN NIỆM VỀ SỐNG CHẾT
HUỲNH ĐÌNH KẾT
Di tích cảnh quan Huế là một bộ phận cấu thành diện mạo văn hoá Huế. Ngày nay, di tích cảnh quan được quan niệm là loại hình văn hoá vật thể (Tangible culture) trong hàm nghĩa phân biệt với văn hoá phi vật thể (Intangible culture). Dẫu sao cũng chỉ tương đối.
LIỄU THƯỢNG VĂNCố đô Huế, một trong những trung tâm văn hoá, lịch sử của Việt Nam. Không những thế, Huế còn là một tổng thể di tích quan trọng, sánh hàng kì quan trên thế giới. Cố đô thơ mộng mang đầy tính nghệ thuật lẫn với cái nét sâu thẳm, ẩn bóng của học thuật Đông phương và truyền thống dân tộc…
NGUYỄN HÀO HẢITrong lịch sử, việc làm những đồ nghệ thuật giả chỉ bắt đầu xuất hiện ở những xã hội có đời sống kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần khá phát triển.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNChuyện xưaGiờ đây, những vị tham gia biên dịch Mục lục Châu bản Triều Nguyễn (MLCBTN) trong Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam thuộc Viện Đại học Huế những năm sáu mươi của thế kỷ trước, đã lần lượt quy tiên. Chỉ còn lại một người cuối cùng đang dưỡng lão trong một ngôi nhà khá yên tĩnh dưới bóng những lùm cây sớm chiều toả mát trong một xóm ven sông Cẩm Lệ, thuộc huyện Hoà Vang, ngoại ô Đà Nẵng. Đó là bác Ngô Văn Lại, năm nay ngoài tuổi bảy mươi.
NGUYỄN HỮU THÔNGCó những câu hỏi đặt ra, Huế mãi không có câu trả lời thuyết phục:* Tại sao mặt hàng lưu niệm trong thị trường du lịch, trong các lễ hội Festival là nghèo nàn đến thế! Sản phẩm thủ công Huế lác đác chen chúc khuất lấp trong lớp lớp hàng Trung Quốc và các tỉnh khác trong nước?* Tại sao trong quá trình trùng tu, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lại phải mời thợ từ "Đàng Ngoài" trong nhiều khâu kỹ thuật từ sơn, thếp, mộc, làm ngói men, gạch bát tràng...?* Tại sao nhà phục chế Trịnh Bách lại phải sống ở Hà Nội, để gửi vào Huế những tấm long bào, long cổn, hia, mão và kể cả những phiên bản phục chế men lam thời Nguyễn?...
HOÀNG ĐẠO KÍNHVăn hoá xứ Huế là một hiện tượng: sinh sôi và thịnh vượng trong khoảng thời gian và không gian địa lý hạn hẹp. Cả hai nhân tố, vật thể lẫn phi vật thể, đều kịp đạt đến trình độ cao và thấm đậm những cái riêng, so với các thời kỳ lịch sử trước đó và so với các miền đất khác. Di sản văn hoá xứ Huế không chỉ phong phú, không chỉ đặc sắc, mà còn kiệt xuất, bởi nó sở hữu rất nhiều những cái duy nhất.
BEATRICE KALDUN (Nhân viên chương trình Văn hoá của UNESCO tại Bangkok)Xin chào quý vị đại biểu!Hôm nay, tôi xin bày tỏ sự vui mừng khi có mặt tại đây, đại diện cho Ngài Richard Engelhardt, Cố vấn Văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương tham gia cuộc Hội thảo về vấn đề bảo tồn và phát triển hội nhập của Huế, một trong những di sản quý giá nhất của Việt Nam và Thế giới.
PHAN THUẬN ANSự quan hệ công tác giữa UNESCO với Việt Nam đã bắt đầu có từ hơn 50 năm về trước. Nhưng, sự hợp tác chặt chẽ để mang lại những hiệu quả thiết thực và hữu ích cụ thể thì chỉ mới diễn ra trong vòng vài chục năm trở lại đây. Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Bộ Văn hóa Thông tin nước chủ nhà đã đóng góp những vai trò xúc tác quan trọng trong mối quan hệ làm việc giữa tổ chức UNESCO đóng tại Paris và các quan chức Việt Nam ở những tỉnh có di sản văn hóa và di sản thiên nhiên nổi bật.
PHAN TIẾN DŨNGHuế một vùng non sông kỳ tú, với sự sáng tạo của con người đã lưu giữ trong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá. Một trong những giá trị nổi bật mang tính toàn cầu là Quần thể Di tích Huế đã được công nhận vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới (World Heritage List) ngày 11-12-1993. Bên cạnh đó, Huế còn là hội điểm về những di sản vật thể vừa phong phú vừa đa dạng. Từ mảnh đất này đã hình thành nên những phong cách, tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật, đã sinh thành nhiều tài năng, đã hội tụ nhiều danh nhân để góp phần nên một Huế vừa mang đặc trưng bản sắc Việt Nam, vừa có sắc thái riêng của một vùng đất Cố đô.
NGUYỄN VĂN MỄ (Trích)Huế - thành phố lịch sử, một trung tâm văn hóa du lịch, là vùng đất có bề dày văn hóa với những tầng văn hóa khác nhau: di chỉ Khảo cổ học thời Tiền, Sơ sử; các dấu tích của văn hóa Sa Huỳnh; văn hóa Chămpa; văn hóa Đại Việt... và vô cùng quan trọng là hệ thống di tích Cố đô được xây dựng dưới vương triều Nguyễn.
LƯU TRẦN TIÊUHiếm có một miền đất nào mà ở đó những giá trị văn hóa lại đậm đặc, phong phú, đa dạng và đặc sắc như ở Huế. Từ góc nhìn địa - chính trị - văn hóa, xứ Huế xưa như là một vị trí chiến lược trọng yếu, vừa là cầu nối, vùng đất mở, vừa là nơi diễn ra sự chồng lấn, dung hợp, tiếp biến các vùng văn hóa, các dòng văn hóa để tạo dựng thành một trung tâm văn hóa trên cái nền chung của văn hóa Việt Nam, lóng lánh những nét riêng đặc sắc của mình.
NGUYỄN QUỐC HÙNGNăm nay, chúng ta kỷ niệm 10 năm Quần thể Di tích Kiến trúc Huế được ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO, 10 năm với rất nhiều thành tựu đổi thay. Nhớ lại chỉ sau 5 năm trở thành Di sản Văn hóa Thế giới, Tiến sĩ Richard Engelhardt chuyên gia về văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO đã mạnh dạn tuyên bố: “tình trạng cứu nguy khẩn cấp của khu di tích Huế đã qua đi” và “chúng ta chuyển từ giai đoạn khẩn cấp sang giai đoạn ổn định trong chiến dịch vận động bảo tồn di tích Huế”(1)
NGUYỄN KHOA ĐIỀMTrong các di sản văn hoá ở nước ta, Huế giữ một vị trí đặc biệt. Chính vì thế mà ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giữa bộn bề công việc, Đảng và Nhà nước ta vẫn dành cho di sản văn hoá Huế sự quan tâm thích đáng. Dù chưa tập hợp được hồ sơ đầy đủ, chưa có được nguồn kinh phí thoả đáng, nhưng từ năm 1979, Nhà nước ta đã có văn bản đặc cách quy định việc bảo vệ di tích thành nội Huế.
PHÙNG PHUCách đây vừa tròn 10 năm, ngày 11 tháng 12 năm 1993 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng đối với Huế và với cả nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam: Quần thể Di tích Cố đô Huế đã chính thức được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới với dòng chữ “Ghi tên vào danh mục này là công nhận giá trị nổi bật toàn cầu của một tài sản văn hoá hoặc thiên nhiên để được bảo vệ vì lợi ích của nhân loại”. Lịch sử vùng đất Phú Xuân- Huế với Di sản Văn hóa Thế giới đầu tiên của Việt Nam mở ra một trang mới, giang rộng vòng tay đón bè bạn trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu và truyền đạt kinh nghiệm trong công việc bảo tồn và phát huy giá trị.
TRƯƠNG THỊ CÚCSau Hiệp định Paris năm 1973, Thành uỷ Huế chủ trương phải xây dựng thêm các tổ chức cách mạng biến tướng để tập hợp lực lượng trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên ở nội thành; tạo cho được những hoạt động công khai, hợp pháp nhằm thu hút quần chúng ở vùng địch tạm chiếm hướng đến mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi dân sinh, dân chủ, tiến tới đòi thi hành Hiệp định Paris.
TRƯƠNG THỊ CÚCCách đây gần tròn 50 năm, từ Đại hội Anh hùng Chiến sĩ Thi đua lần thứ 3 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động chiến dịch “Vì miền Nam ruột thịt”. Thực hiện chủ trương nầy, năm 1957 Bộ Văn hoá và Thư viện Quốc gia Việt Nam đã chính thức chỉ đạo 26 thư viện các tỉnh và thành phố ở miền Bắc xây dựng trong lòng mỗi thư viện một “Thư viện Kết nghĩa” vì miền Nam ruột thịt theo quan hệ kết nghĩa giữa các tỉnh, thành Bắc-Nam.
PHAN THANH HẢISông Hương là báu vật mà trời đất đã ban tặng cho Huế. Đã tự bao giờ, sông Hương đã được xem là dòng sông của thi ca, nhạc họa, của kiến trúc, nghệ thuật xứ Huế. Đã có nhà văn từng thốt lên: “Nếu một ngày nào đó sông Hương đột nhiên biến mất, thì Huế có còn là Huế nữa không?!”...