Quê nhà xa ngái

17:17 05/02/2009
HUỲNH THẠCH THẢO- Lành, về bảo bố mày ăn nhậu vừa vừa thôi, đừng như mấy ông mới ngấp nghé vào cấp xã đã phởn, bia ôm gái giếc có ngày...Tôi vừa vào đến cổng đã nghe tiếng mẹ sang sảng với con Lành, đứa con cậu út ở quê. Chưa hết, bà còn thêm hồi nữa nhưng nhỏ hơn, có lẽ nghe tiếng cửa mở bên ngoài.

- Chân còn lấm lem đất cát, móng chưa hết màu vàng bệch, được đặt đít vào chỗ dân cử, liền ăn chơi cho bõ những ngày làm đứa cày ruộng!
Tôi phì cười lúc thấy con Lành tay cầm xấp tiền nhưng đôi mắt đỏ hoe đứng sát góc phòng. Mẹ lại lẩm bẩm ca cẩm gì đó, thấy tôi liền bảo:
- Cậu út nhắn tháng này về giỗ ngoại. Mẹ định nhà ta đóng cửa về quê, trước thắp cho bà nén hương, sau mừng cậu út về chân chủ tịch xã, ngày xưa thuộc hàng hội đồng, ghê lắm...
Tôi hiểu ý mẹ nên chen ngang:
- Mẹ mừng sao chan chát dữ vậy, coi kìa...
Mẹ thấy Lành đưa tay quệt mắt, bật cười:
- À, cô nói vậy để nhắn nhủ bố mày. Thôi, theo con Hoàng đi phố, thích gì thì mua. Nhưng tao cấm hai đứa bỏ cơm trưa đấy, tao nấu không phải cho chó ăn!
Tôi bịt tai kéo vội con Lành ra ngoài kẻo bị thêm tràng nữa, miệng hét “Thôi, thôi mẹ ơi!” và nháy nó:
- Tánh mẹ lúc nào cũng vậy, đừng buồn nghe Lành.
- Vâng, em biết. Bố bảo mọi người năm nay về quê để giỗ, cô cho tiền rồi chưởi rồi khuyên rồi khóc, em khóc theo đấy chứ.
Vâng, tôi biết mẹ nhớ quê nhiều lắm, hơn ba mươi năm ngày nào bà chẳng lên sân thượng lộng gió để nhìn về phía quê nhà. Phía ấy, chập chùng đồi núi, cuồn cuộn mây giăng, có mẹ già và người em trai út còn trong bom rơi đạn lạc lúc bà bồng con theo chồng về phố thị.

Đã có một đường phố hình thành cách đây ba mươi năm. Thời ấy, thị xã còn chưa rộng lớn, nhà chưa san sát, hàng hiệu chưa nhiều, những khu đất trống vừa mở dành cho những người ngụ cư vì chiến tranh dần lan toả phải rời làng quê. Từ một nơi yên bình với ruộng đồng, luỹ tre, dòng sông, bến nước đến nơi ồn ào bụi bặm mù mịt thì tất cả những người đàn bà vào phố đều ngơ ngác, đôi tay thừa thãi, chân bước khập khiễng trên đường đất đỏ mới nguyên đầy xa lạ. Mẹ phải chái thêm chái bếp đặt lò bánh tráng, sẵn tiện nống thêm khu đất để chăn nuôi. Kẻ khác mở rộng hàng hiên treo đầy thúng mủng, có người ngăn phòng đặt thùng gỗ để làm nước mắm. Xóm quê trong phố hình thành mang đậm sắc thái đồng rừng, biển. Bọn trẻ lũ tôi đầu tiên phát hiện thổ ngữ pha trộn đủ loại khi cãi nhau chí choé vì trò chơi mỗi vùng mỗi khác.

Những người đàn bà bỏ quê ra phố được gọi theo ngôi thứ có cô Bảy, thím Sáu, bác Ba, dì Chín và dần gọi theo tên đệm của cái nghề bất đắc dĩ như “Bảy mắm”, “Tư bánh tráng”, “Tám bánh canh”, “Sáu mủng”... quen riết rồi bọn trẻ có thêm tên đệm. Mờ sáng, từng người gánh gồng vào các ngõ phố để rao hàng hay đi làm thuê với chiếc nón lá và bộ bà ba nâu sờn bạc thếch mồ hôi. Ngày cách ngày, họ tụ tập dưới mái hiên từng nhà để rủ rỉ chuyện trò, nhổ tóc sâu, bàn chuyện thời tiết, đồng áng không bao giờ hết. Bây giờ con đường “Xóm quê” trong ngõ phố đã rợp bóng cây xanh, phố thị có đường ngang lối dọc trải nhựa phẳng phiu cùng đèn đường thắp sáng đêm dêm. Bọn tôi đã lớn khi đất nước hoà bình thì những mái bằng mọc lên thay mái tôn thời chiến. Những người đàn ông, đàn bà bỏ quê vào phố đã hoà trong cuộc sống thị thành, quen những tiện nghi cùng thổ ngữ dần phai âm sắc. Nhưng sự giàu có bởi “thương nhân đa trá”, bởi sự nhẫn nhịn để vươn lên qua việc cần cù gây nhiều khoảng cách và mất dần tình cảm, Phải chăng, khi đã đầy đủ thì con người sẽ đổi khác và quên dần góc quê mình đã sinh ra.

Đầu tiên, cô Bảy “mắm” ở miệt biển, nơi vòng cung cát trắng khô cằn phải dạt vào phố vì địch càn quét triền miên. Một gia đình đen cóc cáy, ngơ ngác, túm tụm vào căn chòi lợp tôn vách ván thủng lỗ chỗ. Bà chị Tư là mẹ tôi đến lắc đầu bảo “Sống thế này sao tiện, nếu gốc dân biển vô đây phải làm mắm...”. Vậy là mắm cái, mắm tôm, mắm nhĩ, mắm ruốc ra đời cùng mùi vừa thơm lại vừa thối sực lên trong những mùa gió nam cồ. Sau này, thằng Thu con cô Bảy “Mắm” trong nhóm ngõ quê trong phố vượt biên gửi về cho gia đình từng xấp đô la mới cứng. Nhà cô Bảy trở thành to nhất xóm cùng tiện nghi đầy đủ trước nhất. Hôm giỗ nội, mẹ cho mời bạn hữu một thời vào phố đến dự đông đủ. Cũng lạ, bữa cơm thân mật có tô canh riêu, dĩa muống luộc, chén mắm cà trong đặc sản đủ món. Cô Bảy “Mắm” nhăn mặt, trỏ đũa “Chị Tư dọn mắm cà đâu hợp, xưa lắc lư rồi!”. Mẹ tôi giả lả  “Ừ quên, lúc trước về làm dâu phía chồng lại nghèo, cha chồng thích món này nên sắp cúng để nhớ. Bọn nhỏ đặt nhầm chỗ, để bảo chúng đem xuống”. Sau bữa ấy, nhắc đến cô Bảy, mẹ quát “Cái con mắm khô đét đấy hả, không có xóm này thì héo lâu rồi, có nghì quên ngãi, trước rách hơn tổ đỉa giờ lên mặt, thứ đi cầu quên giấy! Tao hả, phủi đít đếch cần”

Lại chuyện cô Tám “bánh canh”, khi đến xóm quê trong phố mặt cứ ngơ ngác đần đần vì gốc ở đất giồng tận đồng rừng bị dồn dân. Lão chồng bập thuốc quấn, điếu to như sâu róm, đụng đâu nhổ toẹt đến đấy, mắt đảo ngang dọc như ma xó. Mẹ tôi hô mọi người qua khu đất cô Tám được cấp dựng lên cái lán che mưa nắng cho lũ con, rồi bảo “Mày ra phụ bán bánh canh với con Hai, ráng học nghề kẻo đói rã họng con ạ”. Lão chồng luôn toả sực mùi thuốc rê khét mù nhưng có thân hình cuồn cuộn cơ bắp dù ngớ ngẩn cũng xin được chân lao công khu sở Mỹ. Sau này, không biết lão ấy có thò thụt đồ Mỹ hay không nhưng chỉ riêng hàng bánh canh của cô Tám đắt như tôm tươi, nhờ cả xóm tập trung đến ăn ủng hộ trừ bữa cho dân lao động ngõ khác quen mùi, còn tôi thì cạch đến già món bánh canh từ dạo ấy. Rồi cô ra đầu phố, tậu hẳn ngôi nhà ba tầng có cửa sắt kéo, thuê thợ đến làm bánh phở, bánh giò, bún mọc đi bỏ khắp phố. Cô Tám có đứa con gái tên Hải là bạn lũ tôi khi vào mũi dãi thò lò, xe máy chạy qua đã khóc thét, giờ có Shop mỹ phẩm riêng, khuôn mặt lúc nào cũng bừ bự do son phấn và mồ hôi dầu. Hôm đám cưới nó, tôi cùng mẹ đến dự. Thằng chồng chắc hợp nhãn chú Tám vì to con như trâu mộng cùng cặp lông mày xếch ngược như dân hề chèo. Trong phòng ăn rộng tênh gắn đôi máy lạnh, cô Tám sởi lởi “Em nghe chị dạo này lên đời lắm vì có cổ phần trong công ty bánh kẹo, chị nhường em một phần nhá! À, món yến chưng cách thuỷ vừa miệng không chị Tư? Hàng Hồng Kông nhập vào thì nhất”. Mẹ tôi cười cười nhìn mọi người rồi nói “Tám, mày có khi nào ăn lại món bánh canh giả cua chua lòm ấy không?”. Cả bàn cười ồ lúc cô Tám đỏ tai, gân cổ “Còn khuya đó chị, thời ấy khổ bỏ mẹ, thiếu điều đi làm me Mỹ. Giờ hả, sáng đi cao lâu chiều xuống biển chọn hải sản tươi nguyên để ăn. Nếu buồn thì đi du lịch thăm thằng Sơn trong Vũng  Tàu. Việc gì cần cứ gọi di động về là bọn thợ làm tăm tắp”, Chợt cô Tám vỗ tay lên trán rồi xoè ra các ngón đính kim cương sáng lấp lánh “Quên mất, em gặp con Tâm trong ấy, nó “ruốc” lắm, vẫn cái nghề hấp giặt ủi thuở trước”.

Mẹ tôi im lặng, nhưng tay bà đang cầm đũa chợt chao đi suýt rơi và tôi chợt nhớ cô Ba Tâm có làn da nâu nâu, đôi mắt buồn buồn tận ngoài bến sông Ngân gần đèo Quán Cau dạt vào xóm phố. Cô Tâm ở nhà tôi đi giặt ủi thuê ngoài chợ cũ. Chả hiểu thế nào lại mê con ông chủ tiệm nên dắt nhau bỏ trốn. Mẹ tôi cho người tìm nghe bảo cô ấy vào trong Sài Gòn rồi theo chồng ra nước ngoài. Lúc rời tiệc cưới trên đường về, mẹ thở dài lắc đầu “Con Tám nếu không có xóm này thì cũng theo bọn ở sở Mỹ cùng guộc với thằng chồng, tằng tịu đủ thứ. Còn bánh canh đấy hả, nấu dơ như cứt mũi mà giờ bày đặt xỏ xiên. Mẹ già rồi, nếu không, phải tìm con Tâm dẫn nó về đây. Sông có khúc, người có lúc, đừng trách nó”.

Tất nhiên cũng có người này, người nọ. Còn cô Sáu bán mủng cót, thúng nia hay dì Chín bán đường đậu nay tóc đã hoa râm như mẹ nhưng vẫn như ngày xưa dù nhà này dãy nọ. Có việc gì mẹ lại đến với họ và câu chuyện đậm dần từ xóm nhỏ ngày cũ nơi triền sông có hàng dâm bụt đỏ tươi bên hàng cau vườn nối tiếp vườn, có mẹ già chốn cũ hằn bao vết nhăn năm tháng. Quê cô Sáu có cánh đồng bao quanh lũy tre mà thuở lên mười cô là người thôn nữ mảnh mai, chiếc đòn gánh mỏng manh cùng đôi thúng xinh xinh trên đôi quang thanh mảnh với dăm món hàng nho nhỏ ra chợ phiên buổi sớm. Nó thân thiết với các cô gái làng vào những lúc gian nan nhất, ngay cả thời chiến tranh lan toả, mỗi người một bên bọc nồi niêu, một bên đứa con nhỏ còn tập tễnh tay dắt đứa con lớn hơn để gánh gồng cùng bom đạn. Dì Chín thổ sản sinh ra từ vùng nông thôn, lớn lên đã có đôi chân gân guốc bới qua mùa mưa nắng và họ đâu quên những ngày mưa gió lê thê mà dầm mình nhổ từng cọng cỏ, đi từng luống mạ, chân dẫm vào bùn lầy mà tâm hồn thăm thẳm màu xanh phải rời khỏi sân đất để lang bạt vào sân đời. Chiếc sân đất xa xưa từng phơi lúa, phơi cả kỷ niệm tuổi thơ, phơi cả năm tháng nhọc nhằn đã dần vào lãng quên thì họ càng thảng thốt vì đi gần hết một đời người.

Những tối hè, mẹ và bạn mẹ rủ nhau lên ngôi Tháp cổ để tìm luồng gió mát từ một độ cao cũng như từ phía dòng sông đổ về.Và cũng từ đỉnh đồi cao này, họ ngóng mắt ra xa, xa nữa, nơi ấy là quê nhà là hoài niệm nhưng không thể ở hết cuộc đời. Mẹ đã qua nhiều thời kỳ, đã trải qua biết bao trái ngang cuộc sống mà chống chèo nuôi bầy con lúc cha tôi mất. Cái nhìn của mẹ không khắt khe như lũ bạn hay nói đùa. Cũng như mẹ thường đối xử với cậu út, vừa mong cậu vươn lên, vừa sợ cậu sa ngã hoặc lúc có quyền thế cậu sẽ xem thường tất cả như những người bạn mẹ, kinh nghiệm của người phụ nữ từ quê ra phố đối chọi với đời. Chính từ những bữa cơm gia đình không cầu kỳ nhưng luôn đủ chất một thời vừa bao cấp ấy, đã cho anh em tôi vượt qua mà vào đại học phù hợp lối sống tập thể là chuyện bình thường, không hề có chuyện kêu gào đòi hỏi như những đứa trẻ khác trong ngõ phố này. Đến lúc chúng tôi lần lượt có gia đình với nghề nghiệp ổn định thì mẹ tạo dựng cho cơ ngơi mới. Mẹ nói “Mẹ vào phố không có nổi một căn nhà, giờ các con là dân phố có chỗ đàng hoàng, mẹ đâu giữ gì cho riêng mẹ” và chúng tôi đã khóc.

Mỗi đêm vào mùa trở gió, riếng rao văng vẳng luồn vào khe cửa của những người bán hàng rong bên ngoài. Mẹ lại trở mình để tôi biết rằng phía ngoài kia đường vắng chập chờn bóng lá lại có người xa quê như mẹ, như những người trong ngõ phố này một thời đã qua. Trong khoảng khắc bừng sáng tâm khảm ấy, khoảng nhớ của mẹ cứ dội dội về cùng tiếng thở dài. Với tôi, cũng lạ ban đầu và quen dần về sau khi thế hệ của mình được lập nghiệp nơi vùng đất mới. Mỗi một xuân về với mỗi thứ hoa sang trọng, bánh mứt đóng hộp, mùi hương toả lan trong căn nhà khép kín không hề có mùi rơm nồng nồng ngai ngái, không có hương cau hương buởi, không có những đứa bạn nhỏ í ới rủ ra phiên chợ góc đình tìm mua những chú tò he đủ màu. Khi mùa hạ sang lại tìm nơi thoáng mát ở các bãi biển, ở đó có nhiều cuộc vui không phải ao sen đầm nhỏ, không một mùi hương dủ dẻ trên bãi cát dọc triền sông, không có khói đốt đồng lan toả cùng bóng mẹ cặm cụi phía xa và mỗi mùa đông sang, cái rét giá buốt trên quãng đồi quê có áo tơi lá dày ấm đã xa rồi bởi tiện nghi ngày một thay đổi của phố phường.

Chỉ có mẹ hay cô Sáu hoặc dì Chín là vẫn nhớ vì họ là những người vào phố còn đậm chất quê, nhất là những lúc bất chợt gặp lại hình ảnh thuở xưa. Ban ngày họ là những người của phố phường nhộn nhịp, cũng bỏ một lấy mười, cũng ăn cho buôn so. Nhưng đến đêm, họ là của quê nhà xa ngái, khoảng nhớ là nỗi trằn trọc và hôm sau thế nào “Tổ quê” ấy cũng tề tựu. Buổi chiều, lúc đi làm về vợ chồng và con tôi ăn đến phát ngán những món quà quê do các cô nấu cùng mẹ và nghe đến vài trăm lần câu chuyện của mỗi người, đến nỗi con tôi mới học mẫu giáo đã chống nạnh trợn mắt bắt chước bà “Này, nghe bà bảo... ừng... am..àng...bỏ...ĩa...” và thuộc các món ăn như cháo chảy.

Tôi chở con Lành về đến nhà thì trời đã xế trưa. Khi hai chị em đi phố nó biết mẹ tôi nhờ cậu út tìm hộ mảnh vườn dưới quê. Vậy là mẹ sẽ về nơi ấy lúc gần hết đời người. Tôi im lặng đưa xe vô cổng đã thấy mẹ chờ sẵn dưới tàn trứng cá trước hiên nhà. Tôi đùa “Hôm nay chị Tư ở nhà chắc sắp có động đất!”. Bà cười phe phẩy quạt nan “Tao đang lo tụi bây về trễ, cơm canh nguội hết”. Trên bàn ăn không có bát canh tập tàng, đĩa cá đồng kho gừng chen vài đồ nấu thường ngày mà đầy thức ăn như bữa tiệc gia đình. Tôi trố mắt nhìn mẹ, bà bảo “Con Lành lên phố, ăn đồ phố, khách của mẹ...”. Hôm nay mẹ ăn thật ngon và dõi mắt âu yếm nhìn Lành, bởi Lành giống tạc cậu út mà mẹ thì giống cậu út y hệt. Ngày mẹ bỏ quê lên phố cũng bằng tuổi Lành bây giờ.
Tháng giêng đi qua vẫn còn có gió heo may nhẹ luồn khe cửa. Trong mỗi đêm khuya về sáng tôi nghe mẹ lại trở mình như khi tôi còn nhỏ, lúc mẹ vừa bỏ quê ra phố, mỗi đêm lại trở mình cùng tiếng thở dai.
H.T.T

(nguồn: TCSH số 191 - 01 - 2005)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.

  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.

  • PHAN TUẤN ANHLớp Lý trong một chiều nhốn nháo. Vài đứa con gái ngồi sụt sùi cho nhân vật nữ trong phim trên ti vi chết sớm và nguyền rủa đạo diễn như một tay giết người. Những đứa con trai thì tiếc rẻ cho một vài pha bóng hụt tối qua, để lại hậu quả là mất hẳn một "tháng lương" mà nhẽ ra đã có thể lĩnh sáng nay tại... chủ quán.

  • NGUYỄN VIỆT HOÀLGT: Khi ánh sáng phản chiếu từ mặt trái đồng tiền ùa vào cánh cửa làng mở rộng, “sức nóng” của nó gần như thiêu rụi mọi nền tảng đạo đức một bộ phận không nhỏ đám thượng lưu gồm cả quan viên hương lý. Căn bệnh mà tác giả Nguyễn Việt Hoà mổ xẻ trong truyện ngắn dưới đây, dẫu chưa cao tay để diệt bằng hết những vi-rút-làng, song việc ngăn chặn một đại dịch bắt đầu là có thể...S.H

  • TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…

  • NGUYỄN NGỌC LỢITôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

  • THÁI BÁ TÂN…Con chim hung dữ màu đen là trọng tâm của bức tranh, được ông giành hết tâm sức miêu tả rất sống động. Trong tranh, nó đang bám chân vào ngực Prômêtê, xoè hai cánh giữ thăng bằng, chiếc mỏ khoặm ngậm một miếng tim vừa moi từ lồng ngực khổng lồ của chàng…

  • NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNMọi người đến Huế với những lí do khác nhau. Riêng các văn nghệ sĩ thì thường đến để tìm cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên ý tưởng của mỗi người thì mỗi khác, chẳng ai giống ai. Họa sĩ Vĩnh Trung và nghệ sĩ Hải Lý là một trong những trường hợp như vậy.

  • XUÂN ĐÀIChuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

  • PHẠM THỊ XUÂNChị Xoan trở mình nhè nhẹ, sợ làm đứa cháu giật mình thức giấc. Chị quay mặt  vào tường như cố tránh cái ánh sáng xanh dịu phát ra từ ngọn đèn ngủ. Chị nhắm kín mắt nhưng vẫn không sao ngủ được. Đầu óc chị rối bời bao ý nghĩ. Có một cái gì day dứt, một cái gì tiếc nuối, một cái gì hẫng hụt vừa đi vào cuộc đời chị. Chị bỗng thấy lòng mình trống trải đến vô vị...

  • PHẠM THỊ XUÂNLGT: Ấn tượng của một nữ tác giả mới lần đầu tiên gửi tác phẩm đến cho TCSH thật khá đậm đà. Ấy là Phạm Thị Xuân, một phụ nữ ở độ tuổi đã qua thời thanh xuân, đang công tác tại một đơn vị y tế huyện Quảng Điền.

  • QUÝ THỂCó ai đến nhà chơi, bà cụ Tuần chỉ mép tấm phản gỗ mời ngồi, bà nói:- Giang sơn của "bầy choa" (chúng tôi) chỉ có chừng ni. Không ghế bàn, xa lông, sập gụ tủ chè chi cả, chịu khó ngồi đỡ, ông bà mô áo quần trắng trẻo sạch sẽ sợ dơ, thì ngồi lên đây. Bà cụ xoè cái quạt giấy cũ đã rách, lộ ra mấy cái nan tre lót cho khách ngồi. Nhưng không ai nỡ ngồi lên cái quạt giấy của cụ.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO...Sáng hôm ấy bà con xóm đạo đi lễ rất đông. Người ta nhìn thấy một vệt sao băng vào lúc trời tảng sáng. Họ cho rằng Chúa thấu hiểu được nỗi đau đang dày xéo trên thân thể Xoan. Nhưng cũng chính vì thế mà bố cô lại quay về làm chính con người liêm khiết hồi xưa. Thiên đường cũng có những con đường riêng để người ta sám hối.

  • XUÂN ĐÀI 1. Mỗi lần từ quê trở về Sài Gòn, sống bên chồng và hai đứa con, tôi không nguôi nhớ đến chị. Năm nay chị đã ngoài bốn mươi, không chồng, không con, lủi thủi ra vào trong ngôi nhà một gian hai chái. Ngôi nhà vừa được xây dựng cách đây gần ba năm bằng số tiền chị tằn tiện, chắt bóp mười mấy năm và tiền vợ chồng tôi phụ giúp chút đỉnh. Vài ba năm, vợ chồng con cái chúng tôi mới về thăm chị một lần. Chị mừng, chị vui, trò chuyện với các cháu suốt ngày. Chị quấn quýt lũ trẻ, lũ trẻ cũng quấn quýt chị.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNGNgày trăng tròn lẻ. Tháng Trung Thu năm Đại Bảo thứ 3.Người hai lưỡi bảo là ngày Sao Thổ phạm vào Thái Âm.Người ngắn lưỡi nói Sao Chổi mọc ở phương Tây.Người dài lưỡi bảo có tinh vượn đen ăn mặt trời, ngày Nhật thực, nếu không yểm kỹ sông Nhị đang nảy vàng ròng sẽ ngừng.Động đất.

  • VIỆT HÙNGTrước đây, anh là người lừng danh, một tay "cua - rơ khét tiếng" trên xa lộ. Đã một thời anh chỉ biết chiến thắng. Người ta từng mệnh danh, anh là người sinh ra để đua xe đạp, anh không hề có đối thủ. Anh xem thường sự chiến thắng của mình, cho nó là điều hiển nhiên. Anh coi ánh hào quang của vòng nguyệt quế chỉ có tác dụng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mình mà thôi. Bởi, không có nó, anh vẫn là một thần tượng chẳng gì "khuất phục nổi".

  • NGUYỄN THÁNH NGÃĐêm nay trăng nhão, không biết là đêm trăng gì. Ở xa nhìn về đồi Kà Mạ vẫn một khối đen sì. Nếu có ai nhướn mắt nhìn thật kỹ sẽ thấy cái khối đen sì ấy nhô lên như một cái đầu người đôi mắt lấp láy đom đóm. Thỉnh thoảng gió hất cái đầu tóc rối bù xù bay về phía ruộng. Tiếng chim cú kêu mỗi lúc một thê lương, ớn lạnh từng đốt xương sống...

  • THÁI BÁ TÂNTháng trước, ở phường B. thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm, nơi tôi về nghỉ hưu mấy năm nay, đã xẩy ra một vụ trọng án có nhiều tình tiết rất kỳ lạ, có thể nói bí ẩn không sao giải thích nổi, đến mức cuối cùng người ta quay sang cho rằng nhất định phải có yếu tố thần linh ma quỷ trong vụ này.

  • PHẠM THỊ ANH NGA                  Truyện ngắn...trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể nào biết được...