Quanh các pháp lam Huế suy nghĩ về màu sắc

10:17 18/11/2016

PHẠM ĐĂNG TRÍ

Tết năm ấy, tôi không về Huế ở lại Hà Nội, tôi nhận được một gói quà từ nhà gởi ra. Lúc mở, chỉ thấy mấy cái bánh gói giấy ngũ sắc. Ấn tượng rực rỡ này làm tôi liên tưởng đến phạm trù “ngũ sắc” của Á Đông, đã ra đời từ hàng nghìn năm nay.

HS Phạm Đăng Trí - Ảnh: Internet

Ngũ sắc là trắng, đỏ, vàng, xanh, đen. Ngũ sắc, tuy chỉ gồm có năm màu, vẫn tượng trưng cho màu sắc nói chung, cho nguồn gốc của mọi màu. Ngũ sắc còn được giải thích trên rất lắm khía cạnh, từ lĩnh vực triết lý, quân sự... đến thế giới quan của người xưa.

Song tôi chỉ tự hỏi: ngũ sắc còn phù hợp với khoa học màu sắc trong hội họa ngày nay? Phải chăng có thể thêm hoặc bớt số màu, không chỉ tự hạn chế ở con số năm? Phải chăng có thể thay thế năm sắc cũ kỹ ấy bằng những sắc mới hơn?
 

Đứng đầu trong ngũ sắc phải chăng là trắng, là sắc của ánh sáng? vì ánh sáng trắng là yếu tố chứa đựng, mà cũng là nguồn gốc của mọi màu. Nếu thiếu ánh sáng, mắt ta không nhìn thấy các màu. Màu sắc sự vật sở dĩ hiện ra là do sự hấp thu tùy theo tính chất của một vật thể, đối với một phần màu của ánh sáng trắng. Phần màu còn lại phản chiếu vào võng mô trong mắt ta, tạo ra những cảm giác thường gọi là màu sắc. Khi phân tích ánh sáng trắng qua lăng kính, ta hứng được trên màn nhiều màu. Nhưng Niutơn (Newton) ước lược quang phổ lại trong phạm vi bảy màu chính. Với bảy màu đó, Niutơn có thể tổng hợp lại, đưa chúng trở về ánh sáng trắng bằng đĩa quay(1).

Trong bảy màu nói trên, đỏ, vàng, xanh, là những nguyên sắc, còn cam, lục, chàm, tím đều do ba sắc vừa kể hòa ra. Vốn liếng của họa sĩ chỉ vỏn vẹn có đỏ, vàng, xanh. Ấy thế mà từ xưa đến nay, anh ta đã hòa ra bao nhiêu là màu, đã tìm ra bao nhiêu là dạng màu hài hòa, bao nhiêu là phương thức sử dụng màu sắc. Trong thế giới hội họa, đỏ, vàng xanh đã tạo ra một khu rừng màu sắc mênh mông, mà mãi mãi họa sĩ vẫn không thể đi khắp để khai thác cho hết tài nguyên.

Sau hết, đen là bóng tối, là thể tương phản với trắng, tương phản với ánh sáng. Hai sắc “keo sơn” này (trắng, đen) kết hợp với đỏ, vàng, xanh mà làm cho màu sắc trở thành phong phú, đa dạng, nối thêm chiều thứ ba (chiều sâu) cho diện tích phẳng của bức tranh, qua đó mà góp phần lớn hình thành nên phần hình thức và ngôn ngữ độc đáo của hội họa.
 

Không ai chấp nhận trắng là màu cả. Nhưng trắng là nhà đạo diễn mở màn cho ba diễn viên chính đỏ, vàng, xanh trình diễn. Còn đen cũng không nằm trong danh sách các màu. Nhưng đen là con đẻ của màu sắc do ba nguyên sắc hòa ra. Đen đứng sau rốt, với chức năng dùng sắc của mình để nhấn mạnh lời kết luận: “Màu sắc chỉ là cảm giác mà thôi” qua chứng minh của dĩa Ben ham(2), đồng thời cũng dùng bóng của mình để khép lại màn ngũ sắc.

Ngày ấy, và mãi cho đến hôm nay, khoa học vẫn chưa soi sáng cho tôi rõ có thể thêm bớt hay thay thế những màu trong ngũ sắc. Dù sao, sau lần nhận được gói bánh từ Huế, tôi không còn dám coi thường vốn màu sắc của Á Đông nói chung, và của Việt Nam nói riêng.

Từ đó, tôi bắt đầu tìm hiểu vốn dân tộc qua những bức tranh Hàng Trống, làng Hồ, qua những tác phẩm tạo hình thời trước, qua những sản phẩm mỹ nghệ, thủ công nghệ... Ngay cả những con giống bằng bột, bằng đất, bằng vải, những đồ hàng mã miền Bắc thời ấy cũng làm cho tôi thích thú, ngắm không biết chán.

Từ đó tôi bắt đầu hiểu được phần nào câu nói của bà tôi khi bà ngắm những bức tranh đầu tay của cháu mình: “Bà không thích những màu lên mốc, những màu tối thui như lông chuột chù, bà chỉ ưa những sắc áo cặp đôi, cặp ba của người Huế, những màu sắc không trùng điệp, như những pháp lam thời Thiệu Trị”.

Tôi đã trở lại Huế, để tìm hiểu thêm di sản mỹ thuật của người trước, qua y phục, qua nghệ thuật khảm sành, để gặp lại những pháp lam Huế trong bộ sưu tập của bà tôi.

Thật không ngờ, chỉ có mấy năm xa cách mà giờ đây, dưới mắt tôi, những pháp lam Huế độ nào đã thay đổi, đã óng ả hơn, đã có một tầm vóc khác trước nhiều. Giờ đây, tôi không còn ngắm pháp lam bằng cảm tính như thuở còn nhỏ, mà bằng thứ tình cảm đậm đà của một chàng trai mê vẽ. Trong pháp lam Huế, tôi đã phát hiện ra cho tôi nhiều điều thật mới lạ và độc đáo.

Nhưng trước khi trình bày vài cảm nghĩ của mình về màu sắc pháp lam Huế, có lẽ cũng nên giới thiệu nghệ thuật này qua vài nét.

Danh từ “pháp lam” phải chăng thoát thai từ chữ “pha lang” mà người Trung Hoa dùng để chỉ một loại đồ tráng men do các nhà truyền giáo Tây phương trước đây hướng dẫn cho họ sản xuất? Thời đó, người Trung Hoa, cũng như hầu hết người Á Đông chúng ta chưa phân biệt người “Pha-lang- sa” (Francais) nói riêng với người Tây phương nói chung. Nên danh từ “Pha lang” (France) thường được dùng để chỉ các nước Tây phương.

Đa số những pháp lam Huế đều ra đời trong nước trừ một số do lò Quảng Đông sản xuất theo đơn đặt hàng và mẫu vẽ của Huế. Chúng ta có thể nhận ra xuất xứ, qua những khác biệt về trọng lượng cũng như về cách thực hiện.

Đồ đồng tráng men hiện được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế - Ảnh: wiki


Những sản phẩm làm tại xưởng Huế có cốt bằng đồng, các hình vẽ trên mặt ngoài thường được thể hiện bằng loại men màu có chất trong, trên nền đen trắng dày khoảng một milimét. Mặt nào không có hình vẽ thì được tráng men đều màu. Bởi cốt đồng và lớp men tráng hơi mỏng, nên, trên tay người ước lượng hiện vật có phần nhẹ, so với sản phẩm của lò Quảng Đông. Ngoài ra, còn có thể nhận được pháp lam Huế qua nét bút, qua các đường viền bằng đồng dễ bị rỉ. Nhìn kỹ hình vẽ trên pháp lam Huế, có những chỗ, do tô màu không thật kín mà phơi nền trắng ra. Nhìn nghiêng, ta thấy toàn bộ lớp men bọc ngoài gợn sóng, do cốt đồng hơi mỏng, thiếu tinh luyện hay do độ nung thiếu chính xác?

Pháp lam Huế gồm nhiều loại. Có loại được dùng trong trang trí ngoại thất, để làm nổi bật các quyết, mái, ô hộc, trụ, liên ba... của các điện, tháp, cổng chính cửa tam quan… Có loại được dùng trong trang trí nội thất, và, trong trường hợp này, thường được gắn lên tường, bình phong, liễn đối, phần dưới cột nhà... Riêng hai loại sau đây thường được thể hiện một cách tinh vi: những vật được dùng trong việc cúng bái, như lư hương, quả bòng, quả đựng cau trầu, giá đũa... và những vật thường dùng như chén, đĩa, khay trà, bình rượu, ống nhổ, quả đựng mứt, ống điếu thuốc lào... Trong số đó, có trường hợp niên chế được ghi rõ hoặc Minh Mạng, hoặc Thiệu Trị.

Pháp lam Huế ra đời từ thời Minh Mạng, đạt đỉnh cao dưới thời Thiệu Trị, và thôi, không còn được sản xuất nữa, từ ngày thực dân Pháp chiếm thành Phú Xuân.

Theo lời bà tôi, ngày trước có xưởng làm đồ tráng men ở Ái Tử (Quảng Trị). Năm 1964, nhân viếng chùa tại đây, tôi có hỏi đồng bào địa phương, nhưng không còn ai hay biết gì nữa. Cũng theo lời bà, xưởng pháp lam Huế được đặt tại khu Canh Nông trong Thành nội (gần trường Đại học Nông nghiệp sau này). Đến nay, tôi chỉ biết đích rằng, ngày trước, ở đó từng có xưởng đúc đồng và chính xưởng này đã cho ra lò các “Cửu đỉnh” trong Thế Miếu.

Có người chỉ nhìn vào những điều kiện hiện nay mà cho rằng pháp lam Huế đều do người Trung Hoa làm ra. Nhưng, qua một bài đăng trong tập san Đô thành hiếu cổ (Bulletin des Amis du vieux Huế) số 1 năm 1925, thì Pexonnô (H.Peyssonnaux) đã tìm thấy nhiều sắc, dụ, văn kiện liên quan đến Võ khố, cơ quan chủ quản những lò, xưởng, kho của nhà Nguyễn tại Huế. Trong số những tài liệu ấy, có một bảng phân công cho tám nghệ nhân phục vụ tại xưởng pháp lam Huế.

Pexonnô còn tìm thấy một lá sớ (niên hiệu Minh Mạng thứ 18) của “Võ khố giám lâm”, tức viên thủ kho. Văn kiện này đề nghị cân những lò, nồi, vại bằng đất nung do ghe chở đến để biết trọng lượng từng cái trước khi nhập kho, và trước khi phân phối cho các xưởng chế tạo đồ sành, pha lê và “pháp lam” (mặt chữ “pháp” như nước Pháp; “lam” là xanh. Cả hai chữ điền được thêm bộ ngọc).

Vẫn theo bài đã dẫn, người viết từng nghe nói rằng trước khi lập xưởng pháp lam lại Huế, đã có một xưởng sản xuất mặt hàng này tại Đồng Hới, song ông chưa tìm thấy tài liệu xác thực về việc ấy. Tác giả còn thuật lại rằng chính mắt ông đã nhìn thấy một số nguyên liệu dành cho xưởng pháp lam; nhiều tảng men còn để mộc, có chất trong hoặc đục, được lưu trữ ở “Nội vụ” (nay là trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế). Sau hết, Pexonnô còn cho biết rằng bản thân ông đã có dịp gặp một nghệ nhân có nhiều tài xuất chúng, biết vẽ tranh, đắp tượng, khảm mảnh sành... và rất am hiểu ngành làm đồ tráng men, vì ông ta từng phục vụ lại xưởng pháp lam Huế...

Những tài liệu vừa dẫn ít nhất cũng cho thấy rằng từng có những pháp lam do một xưởng thiết lập tại Huế sản xuất.

Trên những pháp lam Huế mà tôi được xem, có thể lọc ra những gam màu chủ đạo khá phổ biến: vàng với chàm (xanh ẩn tím), đỏ với bích ngọc (lục ẩn xanh), xanh với hỏa hoàng (vàng cam), phỉ thúy (xanh ẩn lục), hổ phách (cam đỏ), vv…

Đứng trước những pháp lam ngày ấy tôi phân vân quá, phải như thế nào mới đúng đây?

Khi nhìn pháp lam một cách thoải mái qua tình cảm chân thật của mình, tôi vô cùng rung động. Những màu sắc ấy tỏa ra một sức hấp dẫn khó nói, vừa tạo ra một không khí thân mật vừa hút con mắt tôi.

Dĩa Chevreul - Ảnh: internet


Nhưng nhận xét bằng lý trí, tôi lại nghi rằng những màu pháp lam Huế đều lệch với các cặp màu bổ túc của dĩa Sơvrơn (Chevreul). Do đó, tôi đâm ra nghi ngờ sự hòa hợp về màu sắc của pháp lam. Lẽ ra, vàng phải sánh đôi với tím, đỏ với lục, xanh với cam, da lang (tím đỏ) với lá mạ,… Có thế mới đúng với nguyên tắc hợp sắc của đĩa Sơvrơn.

Mãi về sau, theo dõi những bước tiến của khoa học màu sắc, tôi mới biết rằng dĩa Sơvrơn chỉ có tác dụng trong việc nghiên cứu hòa màu mà thôi, còn những cặp màu bổ túc, tức tương phản, ở trong dĩa đầu không chính xác. Bởi vậy, ít có họa sĩ vận dụng những cặp màu ấy vào sáng tác mà thành công.

Sơvrơn là nhà bác học có tầm cỡ, ông đã tặng cho nền hội họa loài người những quy tắc biến đổi màu sắc rất quý báu. Nhưng trong thời của ông, chưa ai phát hiện được rằng những nguyên sắc của màu vật chất (màu ta dùng) lại sai biệt với những nguyên sắc của màu ánh sáng, đồng thời cũng không nhịp nhàng với sự thâu nhận màu sắc ở võng mô trong mắt ta(3). Sơvrơn đã hướng về đỏ, vàng, xanh, tức những nguyên sắc của màu vật chất để xây dựng dĩa màu của mình. Vùng ảnh hưởng của ba sắc này tạo ra trong dĩa một thế chân vạc, nên không phù hợp với tỷ tệ nóng lạnh của màu sắc trong quang phổ(4). Những cặp màu tương phản trên dĩa Sơvrơn, do bị tính sai, không trở về ánh sáng trắng khi được thử nghiệm bằng dĩa quay. Ngược lại, tất cả những cặp màu tương phản của dĩa khoa học đều biến thành xám trắng, khi ta kiểm chứng bằng phương thức vừa nói.

Dĩa màu khoa học do nhà vật lý nổi tiếng Rút (Rood) tìm ra. Ông là người đầu tiên có sáng kiến nối liền hai cực tím và đỏ của quang phổ thành một hình tròn. Rồi rút phân ra trong dĩa đó hai phần bằng nhau, một phần dành cho các màu nóng, một phần dành cho các màu lạnh, ông lại bố trí một cách chính xác các màu vào mười hai ô chủ yếu. Vị trí ông dành cho từng màu phù hợp với luồng sóng của nó, theo đúng bản tính của Ang-tơ-rôm (Angtrom).

Nhìn những cặp màu tương phản được đặt ở thế đối xứng trên dĩa khoa học của Rút, ta thấy chúng vừa đẹp đôi, vừa không bị biến đổi, mà còn tăng thêm vẻ tươi thắm. Ngoài ra, những cặp màu vừa nói lại tác động vào ba loại sợi thần kinh trên võng mô trong mắt ta, tạo ra một cảm giác hợp với sinh lý thị giác, gọi là “cảm giác trắng”(5).

Tiếp theo đây, xin nói lại những cảm nghĩ của mình về pháp lam Huế.

Pháp lam Huế chứa đựng những màu tươi sáng, lộng lẫy, có cường độ mạnh, nhưng vẫn quen mắt, như các hợp sắc điển hình thường hiện ra trong cuộc sống, thường được phản ánh trong nghệ thuật Huế thuở ấy.

Tôi nghĩ rằng đó là tình cảm màu sắc của người Việt Nam nói chung, và người Huế lúc bấy giờ nói riêng, đã thể hiện lên chất liệu pháp lam những nét lạc quan, tinh tế, thanh lịch, phong phú.

Có lẽ những nét vừa nói trên đã nảy nở một cách thích hợp với môi trường, trên mảnh đất “không trùng điệp”, tức mảnh đất nghệ thuật tương phản. Tương phản, ở đây không có nghĩa là đối kháng, mà là đối diện, đối chiếu giữa hai mặt khác nhau, nhằm làm cho nổi bật cả đôi bên, như ánh sáng và bóng tối, như màu đỏ cạnh màu bích ngọc... Tương phản mà dẫn tới cái đẹp hài hòa là điều rất khó thực hiện. Đạt đến đấy được là thành công rực rỡ trong hội họa.

Các nhà phê bình nghệ thuật Tây phương thường nói đại khái như sau: Ngày trước, trong hầu hết những tác phẩm có giá trị người ta thường vận dụng các hòa sắc tương đồng (harmonies d’analogue). Còn những màu tương phản, nếu tính sai dù chỉ đường tơ kẽ tóc, thì sẽ biến thành những màu xung khắc, thù nghịch nhau. Quả vậy, đỏ với xanh chẳng hạn, hay lục với vàng, tuy cũng là nóng lạnh tương phản đấy, nhưng khó mà chung sống hòa hợp. Và phải đến cuối thế kỷ XIX, nhờ sự phát triển của khoa học màu sắc, thì họa sĩ (Tây phương) mới có cơ sở để sáng tạo những tác phẩm có giá trị với những hòa sắc tương phản (harmonies de contraste).

Pháp lam Huế ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XIX mà ra đời trong một môi trường không hề tiếp xúc với khoa học màu sắc của phương Tây. Thế nhưng, các nghệ sĩ làm pháp lam ở Huế đã sớm biết gia giảm liều lượng đậm lạt, nóng lạnh của màu sắc đến độ tinh vi, đã sáng tạo ra những phương thức dùng mảng, dùng màu... và phát hiện ra những hòa sắc tương phản rất là chính xác.

Mãi sau đó gần trọn một thế kỷ, pháp lam Huế mới “gặp” được những “bạn màu tri kỷ” trong dĩa khoa học của Rut. Hèn chi màu sắc pháp lam Huế, dù tươi thắm rực rỡ vẫn không ấu trĩ, không chối mắt, trái lại vừa có sức truyền cảm mạnh, vừa giữ cho người xem được thoải mái, cứ thích nhìn mãi.

Riêng pháp lam thời Thiệu Trị còn có thêm những nét đặc thù, trong đó, cái nổi bật hơn cả là cách phân bố rất chủ động các đốm màu tươi, để cho khi ta nhìn từ xa, thì chúng hòa lại thành những sắc theo ý muốn của người vẽ, và tạo ra chất màu trong trẻo, sáng ngời. Theo thuật ngữ hội họa Tây phương thì cách bố trí màu sắc như vậy là “hòa trộn trong thị giác” (mélang d’ optique), hay là “tổng hợp gia tăng” (synthèse additive). Họa sĩ Tây phương mới biết vận dụng cách hòa màu này từ cuối thế kỷ XIX, dựa trên nguyên tắc hòa sắc của những chùm ánh sáng màu.
 

Để minh họa cho những cảm nghĩ trên đây, xin dẫn thí dụ về một cái dĩa trong bộ khay mứt “Cửu Long” mà đề tài là “Long ẩn vân” (rồng nấp trong mây), hay theo lối nói tắt của người Huế, là “Long ẩn”. Những người chơi đồ cổ hay tìm mua đồ sứ long ẩn có ghi niên chế Thiệu Trị, vì long ẩn là một trong những đề tài được nghệ thuật thời Thiệu Trị thể hiện một cách thật độc đáo.

Rồng trong đề tài long ẩn mang dấu ấn của Huế. Mặt rồng trông giống mặt nạ rồng, môtip trang trí được đóng khung trong hình tam giác ở hai đầu hồi các mái điện Cố đô. Vẻ uy nghi được nhấn mạnh, chắc hẳn để tượng trưng cho vương quyền. Rồng trong đề tài long ẩn không sung sức bằng rồng thời Trần, nhưng có dáng uyển chuyển, sinh động.

Về cấu trúc nét-mảng-hình tuy được xây dựng theo thế cân bằng trong một diện tích nhất định, nhưng, về mặt tiết điệu, nó vẫn tạo ra một thế uốn lượn nhịp nhàng.

Các sắc độ, nhìn trên toàn bộ, thiên về sáng. Trọng tâm là mặt rồng ửng trắng đặt trên thân rồng khá đậm rồi từ hạt nhân ấy, hình long ra rất nhẹ bằng những đám mây thả trên nền khá lạt.

Về màu sắc, người vẽ đã vận dụng hòa sắc tương phản. Cách hòa màu phù hợp với phương thức “tổng hợp gia tăng” và tạo ra một ấn tượng vừa quý, nhã, lại vừa lộng lẫy.

Người vẽ đã dùng đến bảy sắc, mà hầu hết là những màu tươi, nhưng hiệu quả cuối cùng, sở dĩ không rối mắt, không gây ấn tượng “khoe của” là nhờ cách bố trí ngăn nắp, có hệ thống. Màu sắc chủ đạo được phân thành hai mảng lớn: mảng phi hình (nền, tô vàng và mảng hình (toàn bộ hình vẽ) nhuộm gam chàm. Nhìn kỹ gam này, tôi thấy “tình hình” ở đây khá là phức hợp, vì nó phân ra những ba nhóm màu có sắc thái khác nhau:

- Những đốm trắng đặt cạnh chàm làm cho màu chàm sáng hẳn lên, như trên mặt rồng hay trên đám mây.

- Những nét đen đan thành mắt cáo và đặt trên màu chàm làm cho màu này sẫm xuống, như trên thân rồng.

- Những đốm màu còn lại đỏ, tía, bích ngọc, chàm nâu thì quy tụ lại để tạo ra một thứ màu chàm khi thì tươi thắm, như ở gần thân rồng, lúc thì sáng tươi, như khi nằm trên nền vàng.

Nhìn dưới góc độ cách thể hiện tinh vi, tôi chú ý trước tiên đến các hợp sắc vàng - chàm, và đỏ tía - bích ngọc trên nền vàng: đây là những cặp màu tương phản phù hợp với các cặp màu trong dĩa khoa học của Rút. Tiếp đó là những nét đen hoặc nâu viền rất đúng chỗ. Sau hết, những đốm nâu xếp rải rác làm cho toàn thể màu sắc trong dĩa dịu xuống.

Hoặc xin dẫn “đoạn trích từ nắp một quả đựng mứt”, họa tiết mang nét đặc thù của nghệ thuật thời Thiệu Trị. Cách diễn tả qua nét bút và màu sắc, rất thoải mái, biến dị. Lối hòa màu, tuy vẫn vận dụng phương thức “hòa lẫn bằng thị giác” nhưng lại có phần phức tạp hơn so với cái dĩa trong bộ khay mứt “Cửu Long” nêu trên. Những đốm màu vàng, đỏ tía, huyết dụ, nâu, lá mạ, hòa thành gam hổ phách lượn trên nền xanh phỉ thúy (bleu cyané). Màu xanh này là sắc chủ đạo, màu do những đốm lá bích ngọc rắc trên nền xanh dương tạo thành.

Hổ phách với xanh phỉ thúy cũng là cặp màu tương phản phù hợp với sắc trên dĩa khoa học của Rut.

Màu sắc pháp lam Huế đã đến với tôi cùng một lúc với tiếng ru ban đầu của mẹ. Màu sắc Huế vuốt ve tôi, ru tôi ngủ, nhí nhảnh đùa với tôi theo tiếng nhịp của nôi tre. Khi tôi đến tuổi hoa niên màu sắc Huế vẫn theo tôi bén gót. Tôi cũng cảm thấy mềm lòng nên cũng nguyện theo màu sắc đến trọn đời.Màu sắc luôn luôn gắn bó với tôi trong đời sống tinh thần lẫn đời sống thường của cơ thể.

Cũng bởi vậy mà tôi không dám đưa ra một lời kết luận về màu sắc pháp lam, e rằng thiên vị chủ quan. Chỉ xin nêu lên vài thắc mắc của mình với hy vọng sẽ nhận được lời giải đáp: Phải chăng, thành quả nghệ thuật mà pháp lam Huế đạt được chỉ là ngẫu nhiên? hay do ảnh hưởng từ ngoài đến? hay do trình độ nhận thức của người xưa?

Riêng về giả thuyết thứ nhất (ngẫu nhiên), tôi đã tự ý loại bỏ nó từ đầu, bởi vì sự thành công của pháp lam Huế không đóng khung chỉ trong một hai tác phẩm.

Còn về hai câu hỏi sau, tuy chưa tìm ra lời đáp, song vì nhớ đến một đoạn viết - hình như của Matila Ghica thì phải - nên phần nào tôi cũng bớt băn khoăn... “Có khía cạnh nghệ sĩ là nhà toán học lỗi lạc, mà chính họ cũng không ngờ mình như vậy”. (Trích Nghiên cứu Nghệ thuật, số 3 (44) 1982).

P.Đ.T
(TCSH333/11-2016)

-----------
(1) Dĩa Niutơn (Newton) hình tròn, phân thành 4 phần đều nhau mỗi phần lại phân thành 5 múi đều nhau, mỗi múi có sắc riêng. Múi 1: nửa đỏ nửa cam; múi 2: vàng; múi 3: lục; múi 4: xanh; múi 5: nửa chàm, nửa tím. Khi dĩa quay nhanh quanh trục tâm theo hướng kim đồng hồ, mọi màu trên các múi đều biến đi, nhường chỗ cho trắng.

(2) Dĩa Benham (Benham): hình tròn, phân thành hai nửa, một nửa để trắng, nửa kia phân thành ba múi đều nhau, mỗi múi một màu. Hai múi ở hai đầu cùng: đen; múi giữa: trắng. Khi dĩa quay nhanh quanh trục tâm theo hướng kim đồng hồ, sẽ hiện ra quanh trục tâm bốn viền màu lạt, kể từ trục tâm ra: đỏ, vàng, lục, xanh. Nếu dĩa quay ngược chiều, kể từ trục tâm ra: xanh, lục, vàng, đỏ,

(3) Theo T. Giơng (T. Young), những tế bào non ở võng mô mắt ta có khả năng thâu nhận và chuyển đi ba loại cảm giác. Nói cách khác, trên diện tích võng mô có ba loại sợi thần kinh. Loại 1 thâu nhận luồng sóng dài (tạo ra cảm giác thường được gọi là đỏ); loại 2, luồng sóng trung (lục); loại 3, luồng sóng ngắn (tím). Vào một thời điểm, cả ba loại sợi đều thâu nhận những Iuồng sóng có tần số khác nhau (đủ màu).

(4) Nếu dùng spectroscope thay lăng kính để quan sát quang phổ cho chính xác hơn, ta nhận thấy: vùng ảnh hưởng đỏ - vàng và vùng ảnh hưởng xanh bằng nhau. Cả hai vùng cộng lại chiếm quá nửa diện tích màu sắc, nên tạo ra một vùng “xôi đậu” màu lục ở giữa. Lục phát ra luồng sóng trung bình, vùng từ đỏ đến vàng phát ra luồng sóng dài, vùng từ xanh đến tím phát ra luồng sóng ngắn.

(5) Vẫn theo T.Giơng, cả ba loại sợi thần kinh trên võng mô mà tác động mạnh và cùng một lúc thì tạo ra cảm giác trắng! Đây là tác động thuần sinh lý. Những cặp màu bổ túc chính xác tức các cặp màu tương phản trong dĩa khoa học của Rut, đều gây ra “cảm giác trắng”. Ví dụ: trong trường hợp cặp màu tương phản đỏ - bích ngọc, đỏ tác động mạnh vào loại sợi thần kinh 1 (đỏ), còn bích ngọc thì tác động mạnh cả vào hai loại sợi thần kinh 2 (lục) và 3 (tím).







 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)

  • HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...”  Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

  • LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.

  • LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.

  • INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?

  • VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

  • HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).

  • THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

  • NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...

  • TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!

  • HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.

  • MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

  • ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc                                  Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.

  • TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.

  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.