Quán quân dân

16:20 24/12/2009
NHẤT LÂMTrời về tối lúc tạnh lúc mưa, lại có gió nên càng mịt mờ như khuya khoắt, nhà nào cũng ăn cơm lúc chập choạng, bởi mưa gió chẳng biết làm gì. Tháng mười chưa cười đã tối. Mùa mưa miền Trung vốn tự cổ xưa đã não nề, những năm chiến tranh càng buồn hơn.

Minh họa: Trần Thanh Bình

Hôm nay có ba người khách, ba anh bộ đội còn rất trẻ, đến từ chiều, coi bộ đi đường xa, nhờ mẹ nấu cho ăn bữa cơm tối và bây giờ ôm nhau ngủ ngon lành trên cái sạp nứa ghép lại, một kiểu giường ra đời trong năm đầu kháng chiến chín năm.

Mẹ Chắt thấy lạnh, tuy đã mặc thêm cái áo bông, nhưng áo đã cũ mà gió Bắc hun hút giữa đêm tối, mẹ có cảm giác như trời có bao nhiêu gió cứ tìm nhà mẹ mà thổi vào. Bên Lào trời có lạnh không? Nếu lạnh thì đốt củi chứ áo quần đâu có nhiều. Nhìn những anh bộ đội đến quán mẹ thì biết, có anh bận quần cụt, chờ quần dài khô mới có cái mặc. Mẹ nhớ và thương Tùng, thiếu vài tháng là đủ hai năm, cầu trời cho con chân cứng đá mềm, để trở về với mẹ. Mẹ mủi lòng nhớ thằng con trai duy nhất, đang cày ruộng thì hò trâu mà xung phong nhập ngũ và ra đi không kịp về thăm mẹ.

Mẹ lên giường nằm chưa ấm chỗ thì có tiếng gọi, mẹ Chắt dậy mở cửa. Ai gọi tui đó, mẹ nói vọng ra sân, trời tối ngả bàn tay không thấy.

- Chúng con mẹ ạ

- Có việc chi mà khuya gió...

- Dạ có phải là quán Quân Dân không ạ...?

- Phải.

- Mẹ cho chúng con ngủ lại... Khiếp trời cả mưa cả gió.

Khi ánh sáng từ chiếc bật lửa tàu bò được bật sáng, mẹ Chắt nhờ châm vào chiếc đèn hoa kỳ đã cũ, và quả nhiên ngôi nhà ấm áp hơn.

Điều làm mẹ Chắt ngạc nhiên là thấy người con gái... Con gái cũng đi bộ đội sao. Cô còn trẻ chưa vượt qua tuổi 20, dong dỏng cao, da trắng, đôi mắt đen đẹp. Có lẽ họ đi từ xa đến, anh bộ đội thì còn sung sức, cô gái lấm tấm mồ hôi nên khi mẹ rót nước mời, cô cám ơn và uống ngon lành.

Anh bộ đội cao hơn cô một cái đầu, người khỏe mạnh, tóc dày đen, nét nổi trội là cái miệng có duyên, anh ta mang cái ba lô chật căng, lại khoanh bụng cái bao gạo, một cái xắc cốt da thêm khẩu súng lục, khi anh bỏ những thứ ấy xuống cái ghế băng, như trút gánh nặng, người anh như lớn cao một ít, cái áo xita vải dày ướt đẫm mồ hôi sau phía lưng. Ấy vậy mà anh không tỏ ra mệt nhọc, vui vẻ hỏi thăm mẹ Chắt thân tình. Lát sau anh ta mở ba lô đưa cho cô gái bộ áo quần, tấm vải đen dài dùng làm chăn đắp cho kẻ đi đường và bảo cô:

- Em đi thay áo quần mà nghỉ ngơi.

Anh đặt ba lô ruột tượng gạo lên sạp nứa, riêng khẩu súng lục thì không rời thân.

Nằm bên mẹ Chắt, cô gái thao thức khó ngủ, làm mẹ cũng mất ngủ theo, nên khi có tiếng gà mẹ và cô vùng dậy, cả hai mẹ con ngồi bên bếp lửa và cô hỏi chuyện làm quen. Khi nồi cơm đã sôi, mẹ nhờ cô bóc đậu phụng để rang làm muối bới cơm nắm cho ba anh đến trước đi đường.

Trời sáng dần, cô hỏi mẹ đường ra bờ sông, khi cô trở về đang phơi áo quần thì anh bộ đội trách yêu sao không gọi anh dậy cùng đi, anh cũng thay bộ quần áo lấm bụi đường trường. Ba anh bộ đội đến trước đang ăn cơm mời cô gái và anh bộ đội có súng lục. Họ thì thầm là cấp gì... C hay D...?, còn cô gái là gì thì họ nhìn nhau nghi ngại, em gái, đồng đội (y tá) chẳng hạn, hay vợ chưa cưới... Bây giờ họ giữ ý tứ để khi ra đường tha hồ mà tranh cãi không phân thắng thua.

Mấy ngày sau trời đẹp hẳn lên, nắng ấm mùa đông không những cây lá trẻ trung, xanh lại mà những cụ già ngày lạnh co ro hớn hở ra vườn. Khách của quán Quân Dân cũng chỉ anh bộ đội có súng lục cùng cô gái đến trong đêm, thành thử đến bữa ăn mẹ cùng ăn như một gia đình và cô gái đi ra thị trấn bên bờ sông mua được cá tươi, hến... bữa ăn tươi hơn. Dù họ mời ép mẹ Chắt cũng chỉ tròn ba bát.

- Các con ăn đi, mẹ ăn vậy là đủ no rồi, người già ăn no quá nặng bụng.

Khi đặt bát đũa xuống mâm, mẹ nhìn hai người. Ngày kia có chợ phiên cuối tháng, đông vui lắm, nếu còn ở lại đi chợ mà xem. Chợ họp về đêm đông người lắm.

Họ đã ở đến ngày thứ năm, anh không thể dùng dằng không đi, điều cần nói với bà mẹ thì chưa thể nói, họ đi trên đê La Giang, con đê chạy dài theo bờ sông, đã qua mùa lụt, nước trong vắt và những chiếc đò căng buồm từ dưới chợ Tràng lên họp chợ phiên tối nay nhộn nhịp. Những bè nứa dài như hạm đội kỳ lạ từ Phố Châu về, Ngàn Trươi xuống tấp vào ven sông, khói cơm chiều từ khum lá che tạm trên bè bóc lên giữa trời nước con sông La hai bên bờ từ Linh Cảm về lá dâu xanh tốt. Nếu chiếc cầu sắt Thọ Tường không bị giật mìn đổ gục chắn dòng thực hiện tiêu thổ kháng chiến, thì không ai nghĩ đến chiến tranh. Diên thấy vui khi đi bên Cao và nói những ý định khi anh trở về, hai người sum họp thành vợ thành chồng. Nhưng điều cần nói với mẹ trước lúc anh chia tay thì cả hai người chưa nói được. Cao không thể không nói để ngày kia ra đi. Chợ đã đông người, đèn hoa kỳ được thắp sáng như sao sa, không thiếu một thứ gì, từ cây lá làm nhà ở đến cái giường tre, đôi đũa, hàng ăn được bày bán ở nơi cao ráo và mùi thơm thức ăn kho nấu lơ lửng một vùng rộng cuốn hút những ai cần ăn.

Cao mua năm yến gạo và hỏi người đi xe đạp thồ có biết quán Quân Dân... Người thanh niên nhận lời chở giúp và xin chéo dù loang lổ làm ngụy trang.

Sáng dậy Cao gói ghém ba lô và khi ăn cơm anh mới thưa với mẹ Chắt xin gửi Diên, anh nói ngập ngừng, vừa nói vừa thăm dò.

Thật ra qua mấy đêm ngủ mẹ đã dò biết những gì ở người con gái, uẩn khúc ở quê nhà, cuộc kháng chiến đã chuyển qua giai đoạn mới, làng quê của Diên có những thay đổi mới, phân chia ruộng đất, thay đổi thành phần. Cha mẹ của Diên vốn có ruộng đất, có nhà ngói trâu mộng, ông biết tổ chức làm ăn trở nên giàu có bát ăn bát để. Diên được đi học, sau làm công tác Đoàn. Diên chơi thân với Hiền em ruột Cao, và Hiền là chiếc cầu cho hai người đến với nhau. Hiên đã biên thư nói rõ sự tình với anh trai, Cao gửi thư cho Hiền dặn Hiền gần gũi Diên và bảo Diên đừng làm điều gì không hay. Không được công tác thì vui vẻ ở nhà giúp đỡ công việc, thành phần nọ thành phần kia chỉ là sự quy định của con người của một thời, cái chính là từ mỗi con người dù ở thành phần nào thì cái nhân cách của anh mới quyết định. Trong một lá thư sau anh bảo Diên “ Chờ anh về”, một ngày gần đây thôi, anh về trước dự định khi có quyết định đề bạt và ra chiến trường. Diên đồng tình những gì Cao bàn định và ra đi trong đêm đến một nơi xa nhà gần ngày đường và Cao đã chờ cô ở đó.


(Minh họa: Trần Thanh Bình)


Vậy mà đã ba năm, ba năm hai mẹ con sống hẩm hút với nhau trong quán Quân Dân mà anh bộ đội nào ghé qua cũng lầm tưởng họ là mẹ con đúng nghĩa và trong số họ không ít anh âm thầm nuôi hy vọng. Có anh bồng bột rất bộ đội đặt vấn đề.

- Mẹ ơi, cho con cô Mộng Diên mẹ nhé...

 Mẹ Chắt cười, vừa vui vừa độ lượng.

- Con của mẹ đó, nhưng bây giờ mẹ đâu ép buộc, con hỏi nó, nó ừ thì gật. Nhưng theo mẹ thì con gái còn trẻ, chờ vài ba năm nước nhà độc lập có chi mà lo muộn.

Diên cười ngất, tự nhiên mình có tên mới: Mộng Diên. Bộ đội trẻ đến hồn nhiên, cũng chính họ đặt tên quán mẹ Chắt thành quán Quân Dân.

Quán mà chẳng có gì mua bán, gạo của bộ đội gửi mẹ thổi cơm giúp, từ thức ăn, củi lửa gói gọn trong lon rưởi sữa bò gạo. Từ ngày có Diên, mẹ như có thêm tay thêm chân, những việc củi, lửa, nước non Diên giúp mẹ, lại còn chăn nuôi trồng rau, bữa cơm thêm tươi, tình thương con của mẹ, nỗi nhớ người yêu của Diên đang chiến đấu nơi xa dồn vào bữa cho mỗi anh bộ đội ghé qua. Có đêm chỉ có hai mẹ con, mẹ nói:

- Khi Tùng về, mẹ mong có con dâu đẹp nết. Còn Cao về mẹ sẵn sàng cắt nửa mảnh vườn cho Cao và Diên được ở gần mẹ. Rồi nửa tháng sau có đoàn thương binh từ mặt trận trở về, hai mẹ con đến chăm sóc theo đoàn thể hội Mẹ Chiến sĩ và đoàn thanh niên địa phương. Đêm về nhà lặng lẽ nỗi buồn nặng trĩu nghĩ đến người thân, không thư từ gửi về, không hề có tin tức tháng này qua năm nọ rồi năm sau, năm sau nữa lại đến.

Ngày lễ ngày tết một mẹ một con và hôm nào có anh bộ đội đi qua ghé vào, hai mẹ con vơi đi nỗi nhớ và đó là điều an ủi lớn nhất, niềm vui lớn nhất khi anh bộ đội ấy thông thạo tin tức, biết cách nói chuyện quân ta đang thắng trên mọi miền đất nước, con của mẹ nhất định sẽ trở về...

Và Tùng, anh bộ đội từ mặt trận Trung Lào đã trở về nguyên vẹn làm mẹ Chắt sung sướng ôm con mà khóc, nhìn Diên tràn đầy hy vọng.

- Con yên tâm, ngày một ngày hai thôi Cao nhất định về đây. Hai mẹ con ta với Tùng chuẩn bị những gì để đón.

Tùng ở nhà được một tháng, anh ra đi về đơn vị buổi sáng thì buổi chiều có hai người đến nhà giới thiệu với mẹ, họ là công an cần gặp Diên, họ chờ cho đến khi Diên trở về, nàng đau khổ chờ tin tức Cao, không lý do gì đất nước đã có hòa bình, anh Tùng đã trở về, biết bao người đã trở về, tại sao anh ấy... không có một mẩu tin. Diên đã khai hết những gì như sự việc vốn đã xảy năm ấy.


Cao đạp xe đi dọc con đường sắt hơn mười năm trước còn đầy đủ tà vẹt, đường ray. Bây giờ chỉ còn trơ sóng đường do người đi bộ đã mòn.

Anh đi như vậy 18 cây số lóc xóc đôi khi phải dùng chân xuống đất để tránh nguy hiểm.

Bây giờ anh đang đứng chờ đò bên bờ Bắc cầu sắt Thọ Tường, chiếc cầu khá dài oằn mình xuống lòng với sức nặng hàng ngàn tấn sắt thép, nước trong đến độ Cao nhìn thấy những thanh sắt dọc dưới làn nước sâu. Với con mắt của một vị chỉ huy tiểu đoàn, đã qua bao trận đánh Cao ước tính khối lượng mìn khi phá sập chiếc cầu này, bây giờ cần bắc lại thì bắt đầu từ đâu. Anh thấy vui và quên đi những ngày tháng quá nặng trĩu bởi mảnh đất, ngôi nhà ngói để chịu thành phần mà đáng lẽ sau nhiều năm trận mạc được trở về anh và đồng đội, ai đã chết thì đành một nhẽ, hy sinh vì Tổ Quốc... Ai còn sống thì công việc phải làm. Vậy mà mất đi những gì thật đáng tiếc. May nỗi oan của anh được một cán bộ hiểu biết tổ chức xác minh làm rõ cho anh. Ông đánh giá Cao là một cán bộ cấp tiểu đoàn bậc trưởng đầy triển vọng, cần được cử đi học hành chính quy hơn, chiến tranh là thảm họa của dân tộc chả ai muốn. Nhưng chiến tranh còn đè nặng lên chiến sĩ... và lúc nó xảy ra thì người thay thế lớp ông chỉ huy sư đoàn, quân khu là những cán bộ như Cao.

Đò qua được một nửa, niềm cháy bỏng gặp lại Diên, mẹ Chắt làm anh bồn chồn. Mẹ Chắt đã già thêm theo năm tháng. Còn Diên... Anh muốn có đôi hài vạn dặm như câu chuyện cổ tích để qua sông không cần con đò chậm chạp mỗi ngày chèo vài chuyến. Nhưng khốn nỗi ngoài chiếc xe đạp Super của Pháp thì ngôi sao vàng trên mũ là niềm thiêng liêng, anh còn có gì đáng giá, đôi giày vải mới nhận đi được vài tuần chỉ có giá đi chơi trên đường phố. Cao hăm hở đạp nhanh đến ngôi nhà đơn sơ mà một thời gọi là quán Quân Dân thì lạ thay vắng hoe như nhà vô chủ, anh bơ vơ chẳng biết làm gì, chẳng biết hỏi, ngoài hai người thân yêu anh nào quen ai ở đây.

Từ phía đường tàu, một cụ già đi tới, chả lẽ đó là mẹ Chắt, sao mẹ lại như vậy, một bà mẹ bốn năm anh đã gặp cùng ngồi ăn cơm nói chuyện...

- Con chào mẹ

- Anh hỏi ai?

- Dạ con hỏi... M...

- Cao đấy hử... Trời.

Nếu Cao không nhanh đến đỡ mẹ thì bà cụ đã khuỵu xuống.

- Mẹ làm sao vậy, thế cô ấy đi đâu...?

- Sao anh về muộn vậy, để hắn chờ đỏ con mắt.

Khi bóng chiều lụi nắng, mẹ Chắt mới nói xong những gì đã xảy ra. Tình yêu, tình thương Diên dâng lên, anh muốn làm cái gì đó mà chẳng biết làm gì. Mẹ Chắt khuyên anh chuyện đã vậy đừng nóng nảy. Khi đến trước đồn công an thị trấn vừa mới lợp lá gồi còn mới, mẹ vẫn chậm rãi; bình tĩnh nghe con.

Thấy anh xuất hiện Diên chỉ kêu lên:

- Anh Cao.

Anh nhào tới, Diên trong vòng tay anh. Mẹ Chắt ràn rụa nước mắt, người chiến sĩ trực đồn nhìn ba người lặng lẽ như nhìn lên sân khấu xem vở kịch đoạn kết.

Huế 12. 98
  N. L
(122/04-99)


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • THÁI NGỌC SAN

    Cách đây mười lăm năm tôi có viết một truyện ngắn về vợ chồng ông Lâm. Truyện ấy sau khi đăng trên một tờ báo văn nghệ Sài Gòn tôi liền nhận được một lá thư của ông. Lá thư vỏn vẹn chỉ có một câu như sau: "Cậu là một thằng mất dạy!".

  • HOÀNG THU HÀ

    Không biết ai đã đặt tên cho cái hồ này như thế. Hồ nằm cách xa thành phố khoảng chín mươi cây số, dưới thung lũng của đồi núi mọc đầy cây dương liễu. Bấy giờ đang là mùa hè phương nam, gió thoáng đãng và ẩm ướt thổi từ đại dương vào khiến sự hoang vu của hồ càng xao động hơn.

  • LTS: Tác giả Hoàng Trọng Định (Hoàng Nguyệt Xứ, sinh 1959) là một nhà văn xứ Huế ít người biết đến đã vĩnh viễn ra đi từ hai năm trước, sau khi chọn cho mình một lối sống cô độc và chết trong im lặng, với một cái tên ẩn dật trong giới cầm bút. Truyện ngắn của Hoàng Trọng Định có cách tổ chức hình tượng nghệ thuật độc đáo và khác biệt. Tác phẩm của anh là kiểu dạng của một truyện ngắn ý niệm được chuyên chở bằng lớp ngôn ngữ đẫm chất triết học.

  • THÁI BÁ TÂN

    Các bạn thử hình dung một chuyện thế này: Có đôi trai gái yêu nhau, rất yêu nhau. Cưới xong được ít hôm thì chàng trai lên đường ra trận, để lại người vợ trẻ ở nhà một mình vừa làm lụng vất vả, vừa mỏi mòn chờ đợi.

  • HỒNG NHU

    Mỗi lần không vừa ý tới điều gì đó, với ai đó trong nhà hay nói rộng ra là trong thiên hạ, cha tôi thường buột ra một câu nói mà nếu không phải là người làng thì không thể nào hiểu được: "Cứ như là thằng Đô"!

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    Khi chàng ngồi dậy giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác người, chàng không còn nhìn thấy gì cả ngoài một vùng đêm tối tăm nhờ nhợ. Cái thứ đen đặc rộng lớn đó đã nuốt vào trong lòng nó những tiếng giục la, tiếng hét thất thanh, rên xiết giã từ sự sống, và cả nỗi đau khốn cùng của những kẻ bị thương, vô vàn sự tiếc nuối trong cuộc tử sinh vô nghĩa.

  • Trên mặt đất, trong bầu trời - Trái tim xôn xao

  • LÊ ANH HOÀI

    Cùng với tiếng loảng xoảng của cái gáo tôn trên nền xi măng khu vệ sinh, tiếng lệt xệt dép nhựa là tiếng khan khan của cô Đ “Mày dậy chưa? Gớm, con gái con lứa gì mà ngủ ngáy ghê thế. Hôm qua mày lại mơ cái gì mà tao thấy mày cứ nghiến răng kèn kẹt. Khiếp quá, đêm nằm cứ nghiến răng thế sau này chồng nào chịu nổi?”

  • MAI NINH

    Ông ta bị giục lên xe lúc 2 giờ chiều, không kịp nói. Người đàn bà leo sau chắn ngang cửa, che mất cô gái đứng dưới đường. Giọng cô lẫn giữa tiếng người gọi nhau và trong gió lùa dưới mấy tấm tôn đập mải miết:
    - Ông nhớ nằm nghỉ và thưởng thức trà nhà vua đấy.

  • NGUYÊN QUÂN  

    Lão Đạo vẫn ngồi chò hỏ, kiểu ngồi đặc trưng đôi chân trần dính kết bùn đất trên giường ruộng của nền văn minh lúa nước. Hai khuỷu tay lòi cục, trơ xương, chống tựa lên hai đầu gối cũng lòi cục trơ xương. Bốn khớp linh động tỳ lên nhau, trở thành bất động.

  • ĐỖ NGỌC THẠCH

    Hứa Tam Giang là dòng dõi Trạng Ngọt Hứa Tam Tỉnh ở làng Vọng Nguyệt (làng Ngọt) xã Tam Giang, huyện Yên Phong tỉnh Bắc Giang.

  • NGUYỄN THỊ MINH DẬU

    Thực ra mà nói, cái bức tường ngăn ấy nó chẳng có tội tình gì! Nhưng dưới con mắt của tôi thì nó lại là nguồn gốc của nỗi bất hạnh.

  • ĐOÀN LÊ

    Cơn mưa, sầm sập đổ hồi suốt buổi chiều đó, nàng ngồi cạnh cửa sổ ngắm mưa qua làn kính. Tôi ngồi chếch phía sau ngắm nàng.

  • ĐẶNG NGUYÊN SƠN

    Cây Đời. Cây là họ. Đời là tên. Cũng như bao loại Cây khác của dòng dõi nhà Cây trong cánh rừng nhiệt đới.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG

    Cô ngồi trước ba máy đánh chữ, cái trước mặt màu kem đã sờn, hai cái xanh ngọc hai bên còn mới. Bàn làm việc hướng vào vách, bên phải là cửa sổ nhìn ra con đường tráng xi măng cũ gần bến đò.

  • VỊ TĨNH

    Ngày xưa mái tóc mẹ xanh, bay trong gió làm vướng chân bao gã si tình. Mắt mẹ là một vườn quả chín, và đôi môi đỏ dù mím lại vẫn không giấu được men say chực trào ra làm chao đảo cả những trái tim sắt đá. Mẹ đã từng tự hào vì điều đó biết bao.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG  

    Nó bảo, mày và tao chơi trò âm dương cách biệt đi. Tao âm, mày dương.
    Anh hỏi, để làm gì?
    Thì là trò chơi, thử cho biết. Mày đeo cái mặt nạ này vào.

  • THÁI NGỌC SAN

    Kính tặng anh T.L
    và anh em TNXP ở Tây Nguyên

  • LÊ MINH PHONG 

    Tôi cam đoan rằng một bé gái cũng có thể làm được những điều như thế. Nghĩa là tôi cũng có thể trèo lên ban-công và đi trên dãy lan can mỏng manh ấy. Điều đó thật đáng sợ.