TRẦN THỊ LINH CHI
Hễ nhắc đến Huế là ngoài bao kỷ niệm cũ xưa, bao hình bóng tưởng như đã phôi pha lại vụt hiện ra rõ mồn một như mới ngày hôm qua.
Minh họa: Nhím
Trong cái chuỗi mênh mông của ký ức, cả năm giác quan cũng như bừng sống dậy để rồi quy tụ vào những đối tượng mà hình như lắm người xa Huế đều công nhận, và nói ra e kém thi vị: món ăn. Tôi ngỏ ý này với Như Khuê khi Như Khuê từ Mỹ về đến thăm tôi ở TP. Hồ Chí Minh. “Quả đúng vậy”, Khuê nói, “Mình nhớ Huế đến quay quắt, nhớ món ăn Huế đến ngẩn ngơ”. Thế là chúng tôi quyết định về thăm Huế để được sống lại với những hình ảnh ngày xưa và để có dịp thưởng thức các món ăn Huế. Nghĩ cho cùng thì sự thưởng thức này không chỉ yêu cầu ở khẩu vị mà chủ yếu là niềm mong ước được sống, được “nếm” Huế của những chuỗi ngày cũ đã vời xa.
Chuyến xe lửa của chúng tôi sẽ khởi hành vào sáng hôm sau. Trong lúc ngồi tán gẩu, chúng tôi bỗng nhắc đến bà Bích Liên, một nữ sĩ của đất thần kinh. Bà cũng từ Mỹ về từ nhiều tháng nay để dưỡng căn bệnh lao đang ở thời kỳ cuối, và hình như để được nằm xuống mãi mãi tại quê nhà. Thế là tôi và Như Khuê quyết định đến thăm bà.
Tôi hồi hộp đưa danh thiếp cho người nhà, không biết bà còn nhận ra tôi. Thời gian xa cách đã gần nửa thế kỷ. Mình đến thăm bà vì lòng thương yêu hay là để thỏa tính tò mò? Chúng tôi được đưa vào một căn phòng thoáng rộng. Bà cũng vừa ngồi dậy xỏ hai chân vào đôi dép cườm, chị người nhà dìu bà ngồi xuống bộ ghế xa lông đặt gần đó. Tóc bà bạc phơ, tuy gầy yếu xanh xao, nhưng gương mặt còn phảng phất những đường nét đẹp. Đôi mắt bà trũng sâu, vừa lạc lõng, hoang vu, vừa có cái gì rất gợi nhớ.
Chúng tôi kính cẩn chào bà:
- Mời hai cháu ngồi.
Tôi và Khuê cùng ngồi xuống.
Bà nhìn Khuê rồi chuyển qua nhìn tôi:
- Cháu là Đông Hương.
Tôi dạ một tiếng thật nhỏ, mà lòng băn khoăn thán phục sự minh mẫn của bà. Bà vui vẻ tiếp:
- Cô bé Nam Giao ngày xưa, ta nhận ra cô chỉ vì đôi mắt... cô đó.
- Dạ thưa bác, cháu chẳng bao giờ quên được những năm tháng xưa... Cứ mỗi lần tết đến, ba mẹ cháu đều thôi thúc hai chị em cháu đến hồ Vọng Nguyệt chúc tết bác. Mỗi lần như vậy bác đều tặng cho cháu và em Hoa, mỗi đứa một cái đãy bằng vải hoa rất đẹp, trong đãy lại có thêm mấy tờ giấy bạc mới tinh. Thế là hai chị em cháu chạy xuống ngả ba chùa Từ Đàm ăn bánh đúc mật.
- Ừ, ngày tết mấy cô gái bán bánh đúc mật, áo dài phết đất, chân đi guốc mộc ung dung với đôi gánh quảy trên vai. Bánh màu xanh lục, thơm mùi lá dứa, được rưới đường mật làm bằng mộng nếp. Chỉ vậy thôi mà thơm ngon tuyệt vời!
Bà nhìn qua Khuê.
- Hình như bác có gặp cháu ở đâu.
- Dạ ở San José qua một đôi lần họp Quốc Học Đồng Khánh.
- A, ra cháu mới về thăm quê.
- Dạ cháu mới về hôm qua. Sáng mai cháu và Đông Hương về thăm Huế.
- Vui quá hí, còn khỏe mạnh cứ đi chơi.
Đôi mắt bà xa xăm nhìn nắng chiếu hoi hóp trong sân. Bà chợt nói:
- Hai cháu về Huế nhớ giúp bác một việc: “Ghé Kim Luông ăn bánh ướt thịt nướng”. Không biết bây giờ ra sao, ngày xưa thì ngon lắm! Hai cháu nhớ tìm đến “Quán Gió”, chỉ là mái tranh, gió lộng bốn bề, có rặng trúc la đà bên sông. Dường như bác còn nghe cả tiếng chèo khua nước. Và cả tiếng gió giữa chiều xanh xao...
Tôi cảm động tiếp:
- Hẳn là nơi đó bác còn có một kỷ niệm?
Bà im lặng một chút rồi nói:
- Ngày xưa bác vẫn thường đến Quán Gió với một người. Không biết nơi đó có còn nguyên vẹn? Buổi chia tay cuối cùng bác có tặng... ông ấy một sợi tóc. Chỉ vậy thôi.
Bà lấy khăn chặm những giọt mồ hôi vừa vả ra, bà ôm ngực ho lên mấy tiếng. Cơn đau vừa dấy lên, căn bệnh khắc nghiệt hành hạ bà.
Trên đường trở về, Khuê nói:
- Người tình của bà có thể là...
- Là ai... dù cho là ai cũng được! Chuyến đi Huế của mình thêm hấp dẫn bởi mình có thêm một nhiệm vụ!
Khuê còn nói với tôi:
- Bà ấy lãng mạn quá!
- Không đâu, người già họ rất thành thật, nhất là bà ta đang cận kề với cái chết.
Hai hôm sau chúng tôi đến Huế. Chị dâu tôi đã chờ sẵn khi chúng tôi bước xuống ga. Tất cả chúng tôi cùng về bằng taxi.
Nắng đã tắt, con đường Lê Lợi tấp nập áo trắng đi về. Trong sân trường Đồng Khánh, Quốc Học, vải bông hoa phượng cuối mùa còn đỏ rực như những hoa đèn được thắp lên giữa bầu trời mờ đục. Cầu Trường Tiền đã hiện ra, vẫn màu trắng xám đó mãi đến bây giờ tôi vẫn ân cần ngưỡng mộ. Tôi nhìn qua Như Khuê và thấy bạn đang cầm chiếc khăn tay dụi vào mắt.
Xe taxi dừng lại ở phố Trần Hưng Đạo, cả nhà đón tiếp chúng tôi vui vẻ và thân ái.
![]() |
Một mâm cơm đang chờ sẵn, ôi, thật là thịnh soạn, hình như các món ăn đặc sản của Huế đều được đặt ở trên bàn.
Chị dâu tôi nói:
- Cháo gà nấu với hạt sen Tịnh, thím dùng thử.
- Dạ chắc là ngon lắm! Có bao giờ em được ăn, hạt sen Tịnh nấu với cháo gà?
Tôi nhìn dĩa bánh khoái vàng rụm, dĩa cải non xanh tươi, những cọng ngò điểm xanh và mấy lát vả trắng muốt thật gợi thèm. Còn thêm dĩa bánh cuốn rau muống có tôm chua và thịt heo luộc thật hấp dẫn. Tôi cảm động nhìn những món ăn đặc sản của Huế, không biết mình nên ăn món gì trước, thì chị dâu đã gắp bỏ cho tôi và Khuê mỗi đứa một chiếc bánh khoái. Tôi gắp một ít rau nhúng vào chén nước chấm và cảm nhận được mùi vị quê hương chan chứa. Khuê nói với chị dâu tôi:
- Em ăn đã nhiều nơi và cũng đã tập làm nhiều lần, nhưng không thể làm được một chén nước chấm tuyệt vời như ri.
Trong bầu không khí vui vẻ, chị dâu tôi còn hứa sẽ cho chúng tôi ăn nhiều món cháo như: cháo cá kình, cháo cá diếc, cháo nấm tràm, cháo khoai mài... Chị nói: “Những món cháo này ăn vào thì bệnh chi cũng hết”. Bỗng nhiên mà cả tôi và Khuê lại nhìn nhau, có lẽ cũng đang nghĩ đến bà Bích Liên.
Tôi vừa ăn vừa suy nghĩ miên man. Hồi nhỏ tôi có nghe nói đến: Cá kình trị bệnh mất ngủ; cá diếc giải nhiệt; nấm tràm trị thận; khoai mài trị bệnh tiểu đường. Bệnh của bà Bích Liên không nằm trong dạng này!
Sáng hôm sau chúng tôi dậy sớm. Trời nhiều mây êm ả, hứa hẹn một ngày đẹp đẽ. Tôi nói với Khuê:
- Mỗi đứa cứ đi lo công việc riêng cho mình, nhưng dù bận rộn bao nhiêu thì hai ngày nữa tụi mình phải đi tìm “Quán Gió”...
Đúng như đã định, hai hôm sau chúng tôi theo con đường phía tả ngạn, ngược dòng sông Hương. Tôi và Khuê đi tới đi lui suốt con đường Kim Luông. Tất cả đường sá đều được xây dựng lại. Nhà ngói nhà lầu đẹp đẽ khang trang. Các cửa hàng bán bánh ướt đều có tầm cỡ lớn. Không còn có một mái tranh hay “Quán Gió” nào! Sau cùng tôi và Khuê chọn được một nơi có vẻ “Quán Gió” hơn hết. Đó là một căn nhà trệt nằm bên bờ sông. Tuy không có rặng trúc là đà, nhưng có vẻ êm đềm thuần khiết.
Trong lúc Khuê gọi nước và bánh ướt.
Tôi vơ vẩn nhìn những làn khói từ bếp lan rộng trên sông. Mùi thịt nướng bay tận mây xanh. Có lẽ bác Bích Liên đang có một sự truyền cảm.
Khuê nói:
- Chà thơm quá! Có lẽ họ ướp đủ cả 11 thứ gia vị: tiêu, hành, tỏi, muối, nước mắm, sả, mè, đường, bột ngọt, ngũ vị hương và ruốc. Điều cần thiết không phải ướp đủ 11 thứ gia vị, nghệ thuật là ướp cho đúng liều lượng của mỗi thứ.
Bánh ướt được trình bày trang nhã. Những cọng rau thơm và thịt kín đáo ẩn dưới lớp bánh mỏng. Khi ăn mình có cảm giác lạnh của bánh, nóng của thịt vừa nướng thật là thú vị. Khuê xuýt xoa khen ngon tuyệt vời, vừa ăn vừa nói:
- Giá mà mình cho vào bọc, đem về làm quà cho bà Bích Liên.
- Sáng mai mình mới lên máy bay, làm sao đem về được?
- Tất cả đã đổi thay, không Quán Gió, không rặng trúc la đà. Sợi tóc chỉ nằm trong giấc mơ, chắc bà ấy buồn lắm!
Tôi nhìn thẳng vào mắt Khuê chậm rãi nói:
- Sợi tóc thì có.
Đôi mày nhíu lại, Khuê chầm chập nhìn tôi, vẻ ngạc nhiên:
- Sợi tóc!
- Ừ, mình vừa kiếm được cho bác ấy một sợi tóc. Sợi tóc để đời qua một bài thơ.
Tôi loay hoay mở cái “xắc” lấy ra một tờ giấy, cẩn trọng đọc:
“Em tặng tôi sợi tóc của em,
Rồi ngày tháng vèo trôi, em không nhớ nữa.
Năm mươi năm sau,
Khi tìm về được chốn cũ
Tôi gặp một bà già tóc bạc.
Bà chẳng biết tôi
Tôi tặng bà sợi tóc
Bà khóc.
Sợi tóc vẫn còn đen”(*)
Khuê phác một cử chỉ, định nói nhưng lại thôi. Một cơn gió thoảng ngoài sông...
Tôi nhìn lên trời.
Sao tình yêu không trôi qua đi như thời gian?...
T.T.L.C
(SDB9/6-13)
--------------
(*) Thơ Phạm Đình Ân
Tải mã QRCode
NGÔ DIỆU HẰNG
Ngày ngày nhìn qua cửa sổ, thấy bạn bè tung tăng đến trường, những tà áo trắng bay thướt tha trên đôi bánh xe đạp xinh xinh tôi lại ngồi co rúm mình vào góc phòng.
NHỤY NGUYÊN
Cô hướng dẫn viên trẻ, giọng mềm và nhẹ, cho hay động Thiên Đường được phát hiện nhờ một người dân tộc. Từ thời điểm động được đưa vào khai thác, những hang động khác giảm hẳn lượng du khách. Người ta chỉ muốn đến thiên đường.
ĐÔNG HÀ
Dịu nói nàng sẽ đi.
Tôi ậm ừ qua chuyện. Tôi nhủ Dịu rời nơi này cả chục bận, lần này thứ bao nhiêu, tôi không buồn đếm, nhưng biết chắc nàng chưa đủ can đảm bước đi, dẫu chỉ là bước thứ nhất. Chặp đâm ra chỉ biết ậm ừ.
THÁI NGỌC SAN
Người đàn ông ôm cái cặp da to tướng bước nhanh vào phòng khách vận nhà ga. Cái cặp to gần bằng nửa người ông ta so với chiều cao. Thế nhưng mọi động tác của ông đều nhanh nhẹn, linh hoạt đến láu lỉnh. Có lẽ đó là đặc tính bẩm sinh của những người lùn.
VŨ MẠNH LẬP
Cây ngô cao vồng lên giữa bãi, lạ lắm.
Già A-nông thầm đặt cho nó cái tên: cây ngô chướng.
VÕ MẠNH LẬP
Truyện ký
Ông nội tôi nghèo của, nhưng giàu con. Ông có những hai mươi hai người con, tài sản của những ba bà. Tất cả theo nghiệp con trâu đi trước cái cày theo sau. May mắn thầy tôi rẽ ngang theo con đường học chữ Hán, chí thú tìm thầy học bạn, mở hiệu bán thuốc bắc, bắt mạch, đoán bệnh.
PHẠM PHƯƠNG
Đỉnh núi dựng đứng, lởm chởm cây bụi và những vỉa rêu xõa xượi dưới không gian trầm buồn sương. Buổi sớm, con chó to lớn tập tễnh bước trên đường.
HOÀNG NHẬT TUYỀN
- Nhắn chú ấy chiều nay vào ngay. Vào ngay đây! Tôi chẳng sống được mấy ngày nữa đâu thím Đóa à!
NGUYỄN THỊ KIM THOA
Em có cái tên mộc mạc như củ khoai củ sắn, như trái thơm trái cà ở nhiều vùng quê thôn dã: Lê Thị Sim.
NGUYỄN LAM THỦY
Người Hung gọi chị ta là “thiếu phụ quàng khăn đỏ”. Nhưng chị ta chẳng bao giờ quàng khăn đỏ, bởi tên chị ta là Piroska. (Piroska tiếng Hung khi còn bé gọi một cách trìu mến có nghĩa là “cô bé quàng khăn đỏ”, khi lớn lên đi lấy chồng thì gọi “thiếu phụ quàng khăn đỏ”).
DẠ NGÂN
Tờ giấy màu vàng rơm. Đã khá xa cái thời giấy hoàn toàn tái chế, thỉnh thoảng ngòi viết vấp phải một ít cặn bột cứng sảng. Thùy vẫn nhớ độ thô vàng vàng của tờ giấy, như nhớ một kỷ niệm buồn, nhớ mùi vị ngậm ngùi từ ký ức xộc ra. Tờ thư là dấu hiệu của nghèo khó nhưng nó có cái uy của sự áp đặt. Thô và vàng. Không chỉ thư mời, nó có hơi hướm giấy triệu tập hơn.
LÊ MINH KHUÊ
Xe vừa dừng thì từ phía ghế lái phụ có tiếng đập cửa gấp gáp. Vĩnh chồm dậy, mắt nhắm mắt mở. Nhưng không. Có phải báo động máy bay đâu? Vĩnh quay sang tôi nhe răng cười và mở cửa.
ĐINH DUY TƯ
Tin ông Khòa từ chức bay ra như một ổ mối cánh lúc trời mưa. Người này nói với người kia, truyền vào tai nhau lượng thông tin nóng hổi nhất. Họ đánh giá, phân tích và bình phẩm, kèm theo những kết luận theo cách nhìn nhận của mình.
PHẠM DŨNG
Thay xong bộ đồ ngủ, định đi nằm thì Diễm Trinh thấy trên bàn có một tờ giấy đánh máy.
ĐỖ HÀN
Bân trằn trọc mãi không ngủ được. Thế là lại mất toi con hổ mang nữa. Bữa trước vợ Bân cho rắn ăn, quên không đóng cửa chuồng. Một cặp hổ mang và một con hổ chúa bò ra ngoài. Dân làng đi xem văn công về, nhìn thấy một cặp rắn, họ kêu ầm lên. Bố con Bân phải vất vả lắm mới túm được đôi hổ mang. Con chúa chuồn đi mất.
LÝ THỊ MINH CHÂU
Con đường len lỏi qua những cánh rừng nối các buôn bản vùng cao lại với nhau giống như con rắn khổng lồ trên lưng có vệt vảy trắng.
PHÙNG PHƯƠNG QUÝ
Cuối buổi họp, “Thừa tướng” còn cho Trưởng ban Văn-Xã lên có đôi lời phát biểu. Thanh than thầm: “Thôi rồi Lượm ơi!”. Thằng lùn này nó nói dai còn hơn trâu đái.
NGUYÊN QUÂN
Những giọt nước mắt lăn tròn rơi xuống giữa lòng chén ngọc. Từng giọt... từng giọt xóa nhòa dần hình bóng con thuyền. Chén vỡ tan ra từng mảnh nhỏ, hồn thoát khỏi tình yêu hóa ngọc, bay vút vào không gian mang theo điệu sáo não nùng, cõi lòng oán uất.
TRẦN HƯƠNG GIANG Trong sân chùa chỉ còn lại Hương và chú tiểu. Cây liễu rũ thả những nhành lá lắc lay, qua ánh nắng lấp loáng hình dáng chú tiểu đang quét sân, lâu lâu chú nhìn Hương cười đầy thiện cảm.
MƯỜNG MÁN Những ngọn đèn mầu ẩn dưới tán lá phả xuống mặt đất thứ ánh sáng vàng nhạt, xanh dịu, tím loãng tạo khung cảnh huyền hoặc giả. Những chiếc bàn vuông thấp kê rải rác dưới các vòm cây.