Thời thượng, đâu cũng piano, ghi ta thì có một người vẫn ngày đêm lưu giữ và phục chế hàng ngàn cây đàn cổ quý báu của tổ tiên để lại.
Nghệ sĩ Vĩnh Tuấn.
Từ nhung lụa
Ở ngoài Bắc tôi đã nghe nói đến một nghệ sĩ hoàng tộc con cháu dòng dõi nhà vua rất giỏi về cổ nhạc và cũng là một người thợ đóng đàn rất được tín nhiệm. Khi vào Nam tôi mới tình cờ gặp được anh, nghệ sĩ Vĩnh Tuấn. Mọi người giới thiệu với tôi rằng: “Những cao thủ nhất của cổ nhạc đều mơ ước có được cây đàn do Vĩnh Tuấn đóng”. Khi tới nhà nhạc sĩ Trần Văn Khê nghe ông nói chuyện về triết học trong nhạc cổ Việt Nam, mọi người cũng giới thiệu: “Cây đàn thầy Khê đang chơi là do Vĩnh Tuấn tặng”.
Vĩnh Tuấn là ai? Thật không dễ gì tìm được con người ẩn dật suốt 30 năm qua ở một dòng suối nhỏ vô danh thuộc tỉnh Đồng Nai. Chàng trai trẻ hào hoa năm xưa nơi nao? Vĩnh Tuấn có tiếng đẹp trai. Khi xưa, Phạm Duy đem đoàn nhạc của ông ra Huế giao lưu, biểu diễn trên thuyền. Hôm sau thì cô ca sĩ đẹp nhất biến mất mấy ngày, tìm khắp nơi không thấy. Hóa ra cô cảm mến Vĩnh Tuấn nên đã vào chùa, không chịu ra ngoài, tính ở lại Huế luôn. Tuấn nghe lời năn nỉ của Phạm Duy, bèn đi thuyết phục cô về theo đoàn.
Vĩnh Tuấn sinh ra trong gia đình hoàng tộc, tuy đã sa cơ lỡ vận nhưng vẫn giữ được truyền thống của mình. Anh là hậu duệ của Tuy Lý Vương (hiệu Vĩ Dã, con trai thứ 11 của vua Minh Mạng). Khi Tuy Lý Vương ra đời, lòng vua chộn rộn không yên, vài ba ngày lại qua thăm một lần, chăm sóc kỹ lưỡng, đó là điều hiếm có bởi vua có nhiều con. Vĩ Dã rất giỏi văn chương, nổi bật là Vĩ Dạ hợp tập gồm 12 quyển, được lưu hành ở đời. Ông còn là nhà sư phạm, phụ trách viện Tôn học, giảng dạy cho con cháu hoàng gia.
Sinh trưởng trong phủ Tuy Lý Vương, Vĩnh Tuấn đã sớm được học những bài học về tinh thần dân tộc. Bố của Vĩnh Tuấn từng được Pháp đào tạo để về làm những chức vụ lớn, nhưng ông cụ thoái thác, đi dạy học ở trường Quốc học Huế và chính là thầy giáo của Nguyễn Ái Quốc.
Trong thời loạn lạc, Vĩnh Tuấn được học nhiều về âm nhạc, để giữ vốn liếng văn hóa của dân tộc trước cảnh đất nước bị xâm lăng, chủ quyền đất nước vẫn còn đó, nhưng sự chi phối của ngoại bang quá lớn. Vĩnh Tuấn giảng dạy ở Nhạc viện Huế trước 1975, bộ môn nhạc cổ truyền.
Vào những năm 1970, Vĩnh Tuấn đã tổ chức ghi âm Nhã nhạc cung đình Huế, khi vẫn còn khá đầy đủ những cao thủ đại nội. Hôm đó, thay vì vào phòng thu, ban nhạc đã trình tấu và thu trực tiếp tại Tử Cấm Thành, giữa trời đất bao la. Băng nhạc quý báu này mấy chục năm sau được giáo sư Trần Văn Khê và các nhà nghiên cứu lưu trữ đệ trình lên UNESCO để xin công nhận Nhã nhạc Cung đình Huế là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Lưu lạc
Nhạc sĩ Vĩnh Tuấn giờ đây tóc đã bạc, dáng vẻ lam lũ của người nông dân nơi ruộng vườn phương Nam cho anh vẻ rắn chắc. Anh kể: “Chiến tranh li loạn xảy ra, tôi một mình vào Nam, đem theo 4 cây đàn cổ của hoàng tộc”. Anh nói: “Ngày xưa, vua chúa ai cũng mê nhạc. Bài nhạc nổi tiếng Tứ Đại Cảnh, tương truyền do vua Tự Đức soạn để nói bốn cảnh lớn ở đời là sinh, bệnh, lão, tử”.
Anh vào đến xứ Đồng Nai, nơi này thuở khai hoang lập ấp ở miền Nam, nhà Nguyễn cũng chọn làm nơi dừng chân. Vĩnh Tuấn mua được mảnh đất hoang, cỏ dại um tùm, xung quanh không người. Anh tự tay dựng nhà cửa. Lũ lụt nửa đêm dâng lên, muốn cuốn trôi tất cả.
Có người tới tìm xin mua bốn cây đàn. Vĩnh Tuấn buồn lắm, anh sợ lũ lụt cuốn đàn đi mất, bèn nhường cho họ. Anh nghĩ: “Tuy rằng bảo vật của âm nhạc, nhưng mình không giữ được thì nên cho người khác giữ”. Anh cũng tự nhủ với lòng mình khi qua được lúc khó khăn, sẽ tìm cách sưu tầm lại các nhạc cụ xưa.
Nhờ bán 4 cây đàn, với giá hàng trăm lượng vàng, anh có vốn liếng xây dựng nhà cửa, lấy vợ, nuôi con. Gia tài còn lại chỉ là một chiếc xe máy cũ, vừa đi vừa đẩy.
Hàng ngày vợ chồng con cái tự cung tự cấp, trồng trọt mưu sinh. Chàng quý tộc khi xưa quyết định sống bằng nghề đóng đàn. Anh đánh xe máy đi, mua lại những chiếc đàn cũ. Đi mua những mảnh gỗ hàng trăm năm đã mục mấy phần, mua cả những đôi liễn, câu đối mà thiên hạ bán như củi khô. Anh và vợ cặm cụi đóng những cây đàn bằng phương pháp cổ, vật liệu cổ. Anh nói: “Ngay cả những mảnh khảm trai trên đàn của chúng tôi làm cũng có tuổi hàng trăm năm rồi”.
Người mua đàn, một phần phục tiếng phủ Tuy Lý Vương, phần tò mò, phần muốn giúp đỡ Vĩnh Tuấn lúc khó khăn. Anh rời thành phố Huế ra đi trong cảnh trắng tay, công việc giảng dạy âm nhạc cổ truyền cũng đã bỏ từ lâu (Sau năm 1975 anh được bố trí dạy môn Văn, nhưng Vĩnh Tuấn từ chối, vì anh chỉ muốn dạy nhạc cổ).
Giữa vùng đất heo hút, anh tự dạy nhạc cho vợ, cho 3 người con. Họ lập ban nhạc, chơi với nhau, đặt tên là ban nhạc Duyệt Thị Trang. Quãng thời gian thật dài, bởi chờ con đầu Tần Tranh và các em lớn lên, biết nói, biết hát, biết chơi nhạc. Giờ đây, các con anh ở độ tuổi 20, và ban nhạc cũng từng được huy chương vàng trong một liên hoan nhạc cổ.
Vĩnh Tuấn không phải người thủ cựu. Anh đưa con lên học ở Nhạc viện TPHCM. Các con của anh hiện đang được các giảng viên kỳ cựu của trường hướng dẫn. Thỉnh thoảng gặp anh, tôi thấy anh trò chuyện say mê về âm nhạc dân tộc, về việc làm sao gìn giữ được những tinh hoa tổ tiên truyền lại. Anh nói: “Trong nhạc Huế không chỉ có nhạc Huế mà lưu giữ nhiều bài nhạc xưa không rõ từ đời nào, chỉ biết các triều đại trước cũng đều sử dụng và coi như báu vật của dân tộc ta”.
Tặng lại 95 cây đàn tranh
Hạnh phúc lớn của Vĩnh Tuấn là được mẹ anh, nghệ sĩ cổ nhạc nổi tiếng của đại nội, bà Hồng Thị Mỹ Thanh dạy bảo. Ngày 20/11 năm nay, mừng thọ cụ 95 tuổi, anh và gia đình đã quyết định tặng 95 cây đàn tranh cho những người yêu cổ nhạc trên toàn quốc để khuyến khích việc học nhạc cổ truyền. Ngay sau khi thông báo được đưa lên facebook Duyệt Thị Trang, người yêu nhạc xa gần đã đăng ký hết số lượng này. Gia đình đang cặm cụi đóng hộp để gửi tặng cho từng người.
Anh Vĩnh Tuấn nói: “Đóng đàn không khó, chơi được đàn mới khó”. Để đóng 95 cây đàn, anh đã miệt mài nhiều ngày tháng. Điều anh lo ngại nhất là: “Một số nghệ sĩ Việt Nam đang chơi nhạc ngày càng giống với một số nước khác, mà mất đi những cái hồn, những vẻ đẹp riêng của âm nhạc Việt Nam ta”.
Nghe Vĩnh Tuấn đàn những bản nhạc xưa, với cây đàn Tỳ Bà Việt Nam hơn 200 năm tuổi của hoàng tộc, có thể thấy một lịch sử dân tộc sinh động và ấm áp được tái hiện trong những âm thanh rộn rã với biết bao điều mong ước cho cuộc sống hưng thịnh của đất nước hôm nay và mai sau.
Theo Trần Nguyễn Anh (Tiền phong)
Tải mã QRCode
Xin những bậc chuộng sách vở từ chương đừng mất công dở sử sách Nhà Nguyễn để tìm địa danh này vì nó không phải là cái tên chính thức do vua đặt ra; may ra chỉ có cụ già Léopold Cadière nặng lòng với Huế nên đưa cái tên Nam Đài vào tập san Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) mà thôi...
Như một thói quen, một sự tò mò khó lý giải cứ vào những đêm trăng sáng, nhiều người lại đến khu phế tích Tháp Đôi Liễu Cốc (thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) để xem vàng hiển linh.
Đây là một dinh thự 2 tầng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại, khác với các tòa nhà mang phong cách truyền thống trong Tử Cấm Thành.
Đây không phải là sản phẩm gì quá xa hoa mà chỉ là một vật dụng rất quen thuộc của người Việt xưa...
Trước khi có sự biến mất hoàn toàn các dấu tích cuối cùng của cửa “quan ải An-nam” trên đỉnh đèo Hải Vân, địa điểm cao nhất của đường cái quan nối liền Huế với Đà Nẵng, tôi thiết nghĩ cần hồi phục các kỷ niệm của nó bằng cách đưa ra các bức ảnh cho thấy tình trạng hiện nay, cũng như đưa ra một số lời giải thích ngắn gọn liên quan đến cửa ải xưa chưa đầy một thế kỷ này; nhưng hiện nay hoàn toàn bị phế bỏ và đang lần hồi mai một do ảnh hưởng tác hại của mưa nắng, của các loài cây cỏ bám cứng.
Phạm Duy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, hơn một phần ba cuộc đời ông sống ở Sài Gòn, hơn một phần ba sống ở ngoại quốc. Ông đi nhiều, yêu và được yêu cũng nhiều, kể cả người Pháp. Nhưng rồi qua trải nghiệm ông thấy người con gái Huế ông yêu là đẹp nhất, sâu sắc nhất...
Huyền Không Sơn Thượng hay còn gọi là chùa Huyền Không 2 cách cố đô Huế chừng 14 km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm (Hòn Vượn), xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Không chỉ cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp, Huế trước đây còn là kinh đô của nhà Nguyễn hàng trăm năm, nên đã hội tụ văn hoá nhiều miền của đất nước, tạo nên một di sản văn hoá đồ sộ, trong đó có CA DAO.
Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử, xây rồi phá, phá rồi xây nhưng vẻ đẹp trong lối kiến trúc của nhà thờ chính tòa Phủ Cam vẫn luôn hiện hữu, thách thức với thời gian.
“Tứ thú” xưa gồm ăn trầu, uống trà, hút thuốc, uống rượu được các bậc cha ông chơi và đạt đến một trình độ đẳng cấp.
Trải dòng lịch sử bi tráng của nước Việt, Hải Vân không chỉ là cung đèo kỳ vĩ mà còn đẫm máu xương vệ quốc.
Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và lăng Minh Mạng. Trải qua thời gian với những biến cố lăng đã trở nên đổ nát.
Vua Hiệp Hòa (Nguyễn Phúc Hồng Dật, 1847 - 1883) là một trong những vị vua có số phận buồn nhất lịch sử Việt
Lễ bái ở lăng Minh Mạng, lính canh ở lăng Gia Long... là hình ảnh sinh động về con người ở kinh thành Huế xưa.
Bài viết liên quan:
Cách đây gần 100 năm nhiều công trình kiến trúc ở Huế vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị xuống cấp và đổ nát như bây giờ.
Nhiều hình ảnh quý giá về kinh thành Huế của nhà Nguyễn trong khoảng năm 1919-1926 đã được nhiếp ảnh gia Pháp ghi lại...
Trong khuôn viên lăng vua Minh Mạng ở Huế có một di tích độc đáo nhưng ít người biết đến, đó là Tả tùng phòng trên núi Tịnh Sơn. Điểm đặc biệt của công trình này là cánh cửa vòm cuốn đã bị một cây si cổ thụ "nuốt chửng". Đây là minh chứng cho sức mạnh tàn phá của thiên nhiên và thời gian đối với các công trình do con người xây dựng.
Một bà Hoàng con đại gia, vợ ông vua Nguyễn nổi tiếng, nhan sắc Việt
Người Huế vốn là người xứ kinh kỳ, nên lời ăn tiếng nói, cung cách ứng xử, đi lại cũng nhẹ nhàng, tri thức. Ẩm thực cung đình Huế cũng mang nhiều nét ảnh hưởng của cung cách hoàng gia: Ăn uống nhẹ nhàng, khoan thai, các món ăn ngoài khẩu vị ngon phải nhẹ và thanh, cách trình bày cũng phải đẹp, bắt mắt.
Ba giờ sáng, tại Đàn Nam Giao (Thừa Thiên Huế), không còn nghe tiếng hô đức vua xa giá, chỉ có âm thanh rì rầm dội vào rừng thông và những ánh mắt hướng về linh vị đặt trên bàn thờ. Những người dân đến Đàn Nam Giao để nguyện xin sự viên mãn, gia đình bình an.