Mỗi lần đi ngang cầu Ca Cút đều có cái cảm giác “trời đất bao la, chìm đắm trong ta” cho dù buổi sáng, buổi chiều hay có khi về đêm. Cuối năm, khi ngọn giáo đông bắc còn căm căm, cảm giác đó chừng se sắt hơn...
Có lẽ cái cảm giác bao la, bàng bạc với trời đất, mây nước đó đến từ những câu chuyện xưa và cái tên cầu Ca Cút. Thực ra cây cầu đã được mang tên là Tam Giang từ khi mới khánh thành với ngụ ý là cây cầu đã chấm dứt vĩnh viễn những chuyến đò ngang qua phá một thời.Nhưng cái địa danh bến đò xưa Ca Cút nó gợi cảnh quá, nó bàng bạc quá thành ra cầu vẫn cứ là Ca Cút trong lòng người...
Nằm trên đoạn hẹp nhất của phá Tam Giang, bến đò Ca Cút đã từng ghi dấu thời gian lịch sử cũng như số phận của đất và người bên phá “Thương em anh cũng muốn vô - Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang”. Con phá Tam Giang cũng như Bến đò Ca Cút ngày xưa là địa danh gợi về của sự xa xôi cách trở. Vẫn chưa có lời giải thích nào thật cặn kẽ và thuyết phục về cái tên Ca Cút. Có người nói rằng Ca Cút là âm thanh tiếng gọi đò, có người lại cho rằng Ca Cút là từ chỉ sự xa ngái từ bên này qua bên kia phá; lại có người cho rằng đó là tiếng kêu của một loài chim...Chuyện rằng, cô lái đò đã đưa người học trò sang sông trong một ngày mưa gió với những lời thề hẹn chàng sẽ trở về sau khi “ công thành danh toại”. Năm dài tháng rộng, chờ đợi đợi chờ bóng người xưa vẫn biệt tăm. Buồn tình mà cô gái đã quyên sinh trên bến đò xưa và biến thành một loài chim. Sau bao năm, người học trò năm xưa chợt nhớ lại lời hẹn thề năm cũ mà trở về. Bến đò còn đó nhưng người xưa không còn. Mưa gió kéo về trong ngày chàng trở lại và nghe khắc khoải tiếng chim như lời hẹn thề cũng như lời trách móc: “Ca cút...Ca cút...”. Câu chuyện đó mình đã được nghe một người đàn ông ở thôn Thuận Hòa- xã Hương Phong kể lại trong một lần về thăm bến đò Ca Cút... Từ khu dân cư Thuận Hòa phải đi vòng vèo qua mấy ao tôm chừng 3 cây số mới tời cái bến đò Ca Cút năm nao.
Khi chưa có cầu mình đã từng lội bộ đến ngay bến đò xưa để làm phóng sự: cũng chẳng còn dấu tích nào của một bến đò đã từng đi vào giai thoại ngoài khoảng cách khá gần có thể nhìn thấy bóng người khi nhìn qua bên kia phá Tam Giang. Ngày trước khi phương tiện đường thuỷ còn thô sơ, con phá Tam Giang thì quá rộng lớn không thể dùng tay chèo đi sang phá dễ dàng thì đoạn phá hẹp nhất này có lẽ cũng là bến đò duy nhất qua phá Tam Giang. Cũng dễ hiểu là vì sao mà cái tên Ca Cút vẫn còn lưu danh đến chừ như là một sự gợi nhớ, như là một niềm trắc trở, hoài mong của những phận người truân chuyên một thuở…Theo lời kể của những người già các làng ven phá, thì bến đò Ca Cút bắt đầu hoạt động từ 4 giờ sáng mỗi ngày để những người dân bên kia phá Tam Giang gánh khoai, gánh cá sang bên này buôn bán. Bến đò Ca Cút đã hình thành từ khi làng mới thành lập đời chúa Nguyễn Phúc Tần, khoảng năm 1648. Hồi đó dân cư thưa thớt, bến đò Ca Cút là một địa điểm rất ít người qua lại. Hay cái tên Ca Cút cũng chỉ về sự hoang vắng đó!?
Chuyện xưa đã cũ mèm theo ký ức. Những chuyến đò qua lại dưới dòng phá Tam Giang chỉ là những con đò nhỏ đánh cá lưa thưa mấy người. Bây chừ đứng trên cầu, không như cụ Tú “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” mà cứ như văng vẳng lời Bà nội mỗi lần gọi mấy anh em mình về ăn cơm thuở ấu thời: “ Mệ kêu mấy đứa bây như kêu đò Ca Cút...”
Theo TRT
Tải mã QRCode
Địa danh Thanh Hà thuộc xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay. Nằm phía bờ tả ngạn sông Hương, cách kinh thành Huế 4 km, cách cửa biển Thuận An khoảng 10km. Với vị trí trên bến, dưới thuyền, cư dân có truyền thống buôn bán, ở Thanh Hà sớm xuất hiện chợ làng, nơi hội tụ hàng hóa của cư dân các vùng lân cận.
Bộ sử bằng thơ này được các ông hoàng nhà Nguyễn khởi viết từ khoảng 1907-1916, kéo dài đến khoảng 1926. Ban đầu được lưu trữ ở thư viện gia đình Lục Khanh, sau được cất giữ ở chùa Từ Quang (Thừa Thiên - Huế). Vốn là tài liệu độc bản, viết tay bằng chữ Nôm, gồm 1.884 câu lục bát.
Huế có thể trở thành đô thị sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn, đô thị sang về Dĩ vãng và giàu về Hiện tại, nếu ta nhận thức rõ và ra sức bênh vực cái cơ ngơi mà nó sở hữu.
SHO - Chiều ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức lễ Tổng kết trại sáng tác văn học nghệ thuật“ về đề tài "Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại văn phòng Liên hiệp hội, 26 Lê Lợi, thành phố Huế. Hơn 50 tác phẩm thuộc các chuyên ngành gồm: văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, hội họa... đã được sáng tác trong đợt này. Trại sáng tác khai mạc vào ngày 10/4 tại khách sạn Phong Lan, vườn quốc gia Bạch Mã, kéo dài trong 10 ngày bao gồm 4 ngày thực địa và 6 ngày hoàn thành tác phẩm tại nhà.
Xe chạy tầm 45 phút thi tới đỉnh điểm đậu xe gần Vọng Hải Đài, xuống xe bắt đầu đi bộ ra. Vọng Hải Đài là điểm cao nhất Bạch Mã, từ đây có thể nhìn được vịnh Lăng Cô, Hồ Truồi…
Từng viếng thăm nhiều ngôi chùa nhưng khi đến Đông Thiền, tôi thật sự thích không gian xanh mát tĩnh lặng nơi đây, cảm giác như được sống trong một thế giới khác.
SHO - Chiều ngày 10/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tổ chức Khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật “Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại vườn Quốc gia Bạch Mã, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.
SHO - Sáng ngày 4/4, hàng trăm cựu chiến binh(CBB) của hai tiểu đoàn 804 - 810 (K4 - K10) đã có buổi họp mặt kỷ niệm 40 năm giải phóng Thừa Thiên Huế tại Ban chỉ huy Quân sự Thành phố, 25A Trần Cao Vân, Tp Huế.
Quốc tự Thánh Duyên toạ lạc ở Tuý Vân sơn, ngày trước thuộc phường Đông Am, tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên; nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cùng với Linh Mụ và Diệu Đế, Thánh Duyên là một trong ba ngôi quốc tự của xứ Thần kinh còn tồn tại cho đến ngày nay.
Không phải đền đài, lăng tẩm uy nghi mà chính những điều bình dị như góc phố yên bình hay giọng nói ngọt ngào đã để lại nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng du khách.
Nhắc đến cố đô Huế, người ta không thể không kể tới các nhà vườn, bởi kiến trúc của nhà vườn Huế cũng có một lịch sử lâu đời trên 200 năm kể từ khi nhà Nguyễn xây dựng kinh đô.
SHO - Tối 26/3, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức bắn pháo hoa tầm cao để chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên Huế (26/3/1975-26/3/2015).
SHO - Hòa chung trong không khí tiến tới kỷ niệm thống nhất đất nước, sáng ngày 26/3 tỉnh Thừa Thiên Huế trang trọng tổ chức Lễ mitting kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015) tại Sân vận động Tự Do, Thành phố Huế.
SHO - Chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng quê hương Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015), Liên hiệp các hội VHNT tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế tổ chức khai mạc triển lãm ảnh thời sự nghệ thuật với chủ đề: “Thừa Thiên Huế- 40 năm xây dựng và phát triển” vào chiều ngày 25/3, tại Bảo tàng Văn hóa Huế - số 25 Lê Lợi - Thành phố Huế.
Tiếp bước hành trình khám phá những ngôi chùa Huế, ta sẽ đến với một ngôi chùa – một tổ đình – nơi thể hiện tấm lòng bao dung của nhà Phật với những con người không toàn vẹn – Từ Hiếu. Chùa nằm ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế.
Khi bàn về Nhã nhạc người ta thường chú trọng nhiều đến thành phần, biên chế các loại dàn nhạc và bộ phận nhạc không lời do các nhạc cụ diễn tấu, mà ít đề cập đến một bộ phận quan trọng của Nhã nhạc là thể loại nhạc có lời.
Trong kiến trúc cung đình Nguyễn tại Huế, hình thức nhà tạ có mặt ở khắp nơi: Hoàng cung, Hành cung, Biệt cung và ở cả các lăng tẩm đế vương.
Để nhã nhạc cung đình Huế “sống lại” như ngày hôm nay, có công rất lớn của cụ Lữ Hữu Thi- nhạc công cuối cùng của triều Nguyễn. Cụ đã âm thầm, kiên trì vượt qua khó khăn trước những thăng trầm của lịch sử để giữ gìn và trao truyền ngọn lửa nhã nhạc, đưa nhã nhạc từ chỗ bị lãng quên trở thành di sản của nhân loại.
Nhà văn Nguyễn Tuân đã tinh tế nhận xét: “Người Huế ăn bằng mắt trước khi ăn bằng miệng”.
Ngài thủy tổ họ Hồ Đắc làng An Truyển, xã Phú An, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế vốn là gốc từ ngoài bắc vào lập nghiệp thường được dân làng gọi là Hồ Quản Lãnh.