PHÙNG TẤN ĐÔNG
“Ta con phù du
ao trời chật chội”
(Hoàng Cầm)
Minh họa: Nhím
1.
Dễ cũng đã hơn hai mươi năm tôi mới trở lại sông Côi. Vẫn là dòng nước côi cút chạy dài dọc biển, một nhánh nhỏ của dòng sông lớn. Sông Côi có gì để tôi trở lại? Chẳng có chi. Những lúc lòng hoang hoải như thể không nơi nương tựa là tôi nghĩ đến sông Côi. Ở thành phố, lâu ngày thấy chán, thấy mọi sự bế tắc, trì đọng, muốn trôi chảy, lại nghĩ đến sông. Và chỉ riêng một sông Côi. Với tôi, sông Côi đau đớn, sông Côi đòi đoạn, những ngày tuổi trẻ lo âu và kiêu hãnh, những sớm mai hy vọng đổi thay, chợt đã buổi chiều mờ mịt, rồi những chạng vạng se thắt vì câu chuyện đời những bạn bè. Sông cứ trôi dòng nước, sương bóng thời gian còn ở với tôi. Lúc trên bến Mưa không có mưa, những ánh lửa như pháo bông từ lò rèn lúc chiều tối điểm nhịp sóng đùa, vài sợi tóc Nhiên bay vắt qua mặt tôi, bay trong lời Q. hát “thời gian nào trôi bềnh bồng trên phận người, biệt ly nào không muộn phiền trên dấu môi...”. Và lúc ấy sông trôi như kẻ mộng du. Lúc ấy tôi thèm Q. biến mất để tôi ôm em, ừ nhỉ, tại sao tôi ngày đó không dám nói lấy một lời dù cầm chắc em từ chối và tôi đau... Từ đó tôi chúa ghét sự chừng mực, sự biết điều, tại sao phải mang vác sự thật để suốt đời nặng nhọc vì nó. Nhiên là dịu ngọt như sông, hai mươi mấy năm không phôi phai màu da thịt như làn gió sớm của những ban mai không dễ gì có hai lần trong một đời người, chỉ một điều dạ hai điều thưa thô mộc mà lũ mình đồng da sắt đã chịu không thấu, sau này trong chặng cuối cơn say, cơn nhớ, Q. lảm nhảm như triết gia “Nhiên ơi mi là một tra vấn đời đời về bản chất của hiện hữu”, lúc ấy tôi phụ họa “mi đã làm chi đời bạn, đời ta”...
2.
Xưa, xưa lắm, lúc trời đất mới hình thành, chỗ ni không có sông, chỉ có biển, biển cho muối mặn nhưng không cho con người nguôi cơn khát, mà thiệt lạ tại làm sao con người cần sự ngọt, sự mát mà không thích ứng với sự mặn ngay từ thủa dò dẫm trên mặt đất... Có đôi vợ chồng đi biển bị bão làm dạt thuyền vào bãi Rộc ni, đói, khát nhiều ngày, khát mới dễ khiến người ta chết và trong cơn cùng quẫn đến khốn nạn, người chồng đã - như một ác thú - cắn vào cổ vợ để tìm đường sống. Đêm ấy trời nổi cơn tố lốc cuốn bay thằng chồng khốn nạn ra biển, nơi hắn rớt xuống nay là hòn Khốn - nơi mà vừa rồi để tiện cho việc mời mọc khách du lịch, mấy tay làm phim quảng cáo đổi tên thành hòn Phu - nghĩa là chồng, chồng chi mà ác rứa tề. Lại nói về người vợ, sau khi bị chồng uống máu tưởng chết thì có một anh dân chài được tiên nhân báo mộng đến cứu kịp và trận hồng thủy sau cơn lốc đã cho đôi vợ chồng mới kia (sau này họ đến với nhau vì anh dân chài cũng góa vợ) nhánh sông ni đây - sông Côi... Côi là côi cút, bơ vơ, thương lắm... Tôi nói với bác thợ rèn là chuyện ni bác tự nghĩ ra, bác cười khơ khơ, ừ thì chú tính ở trên đời ni rốt lại, chuyện chi mà không do thiên hạ nghĩ ra, đất có thổ công, sông có hà bá, cây cỏ, sỏi đá cái chi cũng có sự tích hết, vấn đề là tin hay không tin thôi, ông bà nói rồi, linh tại ngã bất linh tại ngã, linh hay không cốt ở tâm mình...
3.
Cơ duyên nào run rủi để kết hợp tôi với sông - một kết hợp mà Q. nói trong một lần Q. nhờ tôi “làm chứng” khi tác hợp Q. với Nhiên, một hôn sự tượng trưng với ba người có mặt ngay bên sông - đó là sự kết hợp của đấng tối linh, một kết hợp mà loài người không có quyền phân ly, chia cắt. Có đêm nằm với vợ, tôi lại chiêm bao ân ái với sông trong vóc hình một nữ thần da thịt ngào ngạt hương thơm, tỉnh dậy tôi ngồi vừa nhớ Nhiên vừa ân hận mình “đồng sàng dị mộng” với vợ. Mà thôi, tất thảy là do tôi gặp và làm quen với Q... Chúng tôi là một cặp đôi ăn ý - bây giờ người đời hay gọi là cặp đôi hoàn hảo - trong các vai diễn kịch nói, khi thì tôi vào vai chính diện thì Q. phản diện và ngược lại. Tôi và Q. từng vinh quang và cay đắng qua các vở “Con cáo và chùm nho”, “Erostras - kẻ đốt đền”, “Nhân danh công lý”, “Tôi và chúng ta”... Than ôi thời oanh liệt còn đâu khi sân khấu đột ngột về chiều, đoàn kịch tan đàn xẻ nghé, tôi về phụ trách một gánh hát bội nghiệp dư, nhiều lần suýt vỡ đầu vì ăn đá của “khán tặc” khi đào kép chạy sô chưa đến kịp, bản thân phải ra “tấu hài” mà mình thì không có chuyên môn chọc cười thiên hạ, Q. thì về huyện sông Côi làm anh lính thông tin tuyên truyền chuyên cờ đèn kèn trống “vị khứ anh hùng ẩm hận đa”, nhiều đêm say lên trong vai Êdốp của “Con cáo và chùm nho” rằng “ta biết với cuộc đời này, cuộc đời là chùm nho chưa chín, nho còn xanh lắm nhưng trong ta, ta biết chắc là tự do, tự do đã chín muồi” khiến hàng xóm và đồng nghiệp tưởng gã hóa điên, hùn nhau đưa đơn cho cấp trên đề nghị sa thải. Chẳng đợi được lâu Q. đã thành người của tự do, tự do ơi, Q. lại la lên bi kịch của ngươi là khi đạt được ngươi rồi ta chẳng biết phải dùng ngươi vào việc chi đây. Q. đi “địu” - đi tìm trầm, tìm Nhiên sau khi cha Nhiên đánh gẫy chân mà không một lời oán thán. Q. mang vác thập giá đời mình lên núi Sọ. Hơn hai mươi năm tôi hoàn toàn bặt tin Q. Mấy lần hóng được tin là mấy lần buồn “Q. sông Côi à? Chết rồi, nghe đâu say rượu, nhảy từ đỉnh Măng Lùng xuống thác Bay, ôi tài hoa lắm, kể chuyện kiếm hiệp Kim Dung hay phải biết, “độc cô cầu bại”, lần khác, “Q. à, đàn hát tuyệt vời, tâm hồn lắm, Tống Giang đó, Cập Thời Vũ Q. buồn quá, chết vùi trong bãi mìn, có lẽ do cố tình hay trụy tim nên đốt dây cháy chậm rồi mà không chạy ra chỗ nấp...”; lần nữa, “ôi chán chết, lấy một con vợ mập ú bán thịt chó ở chợ Kim, cơm no bò cỡi, ôi lại còn bày đặt làm thơ Đường luật tán mấy mụ nạ dòng “kinh đã tắt mà lòng còn lí lắc” nữa cơ, ôi thôi đi đâu cũng “nổ” vang trời đất...”. Rằng đâu là Q. bạn tôi, Q. của con sông Côi dặt dìu kỷ niệm.
4.
Nhiên độ rày hay mail cho tôi, em nói rằng có lần em và Q. đã gặp ma trên bến Mưa, rằng một đêm trăng hai đứa đang ngồi ôm nhau thì có một bóng đen nhảy ùm xuống nước, hai đứa hoảng hồn một chặp mới vùng chạy, sớm mai cứ chờ tin có ai chết đuối không mà chẳng có chi. Tôi báo cho Nhiên biết, rằng tôi về bến Mưa, gặp bà Thơi, dì ruột của em, bà nói rằng thằng Nhi của em tháng trước đem thuốc nổ về khúc sông chỗ bụi tre Nưa đánh cá, cá bị thuốc nổ nổi trắng sông, riêng con ma bến Mưa chỉ là con rái cá đã già đời, thân nó to như một đứa con nít lên mười, nó chết vì mảnh mìn đâm thấu ngực. Tôi lại nghĩ đến bến Mưa - Mưa là tên mẹ của Nhiên, người đàn bà đã tự trầm trên bến sông vì những cơn ghen cuồng điên của chồng chỉ vì người đàn bà đó vốn là một cô đào hát đã tưởng bến sông Côi là bến đỗ bình yên. Sau này người chồng ấy tục huyền nhưng vẫn khôn nguôi chuyện cũ, cứ gọi bọn làm ra câu hát, câu thơ là bọn lăng loàn, trắc nết, vô loại và đó là lý do ông cấm cản chuyện Q. và Nhiên. Em bảo em mới là người phụ rẫy Q., em phụ bạc những mùa tháng năm rạm sông bơi xanh dòng, mùi thơm rạm nướng thơm hoài trong ký ức, em phụ bạc dòng nước lũ mùa mưa cho em những cành khô mục nhóm lò, phụ bạc mùi cỏ sông Côi thơm mùi da thịt Q., mùi nước hến luộc, mùi sương mù tháng chạp những chuyến đò, em chừ câm lặng sống không yêu ai được ngoài yêu cát bụi chốn về để gặp Q. gặp anh, gặp quá vãng, tội nghiệp cho ba em, cũng là nghiệp căn nặng nợ, ba em khi hiểu được lẽ đời thì không còn kịp nữa, em biết mấy đứa em đời sau đang “bán trôn nuôi miệng”, hay sắm sanh bốc trời cũng là lòe thiên hạ thôi, phù ảo hết, em và Q. và cả anh nữa cũng chỉ là phù du bay đôi. Anh còn nhớ thơ Q. chứ “ta còn lại gì đâu/ sau bạc tiền của cải/ sau dục tình đực cái/ trơ khấc một linh hồn/mà những gì linh hiển/em đã mang đi...”.
5.
Tôi quyết gồng mình giăng võng dưới hàng xoan ngủ một đêm trên bến Mưa. Ông thợ rèn đã mất, lò rèn đã thôi đỏ lửa, trên nền lò rèn cũ là quán karaoke nhiều em chân dài đến nách tay dài hơn chân, bà Thơi chửi, mẹ hắn, tau mà còn trẻ chỉ cần tốc váy lên là có cái ăn, đâu phải già nua mò cua bắt ốc như ri, sông dường chỉ riêng dành cho ba chúng tôi. Tôi tin Q. đã tro bụi, đã bay, đã lao vào ánh sáng chết chóc cùng với Nhiên vì hắn không thể sắm vai một kẻ đạo hạnh mà tầm thường hoặc sống bằng một vai suông nhạt, còn tôi Nhiên ơi, tôi cầm chắc rồi cũng chết vì đuối nước trên dòng ký ức sông Côi...
P.T.Đ
(SH291/5-13)
Tải mã QRCode
NGÔ DIỆU HẰNG
Ngày ngày nhìn qua cửa sổ, thấy bạn bè tung tăng đến trường, những tà áo trắng bay thướt tha trên đôi bánh xe đạp xinh xinh tôi lại ngồi co rúm mình vào góc phòng.
NHỤY NGUYÊN
Cô hướng dẫn viên trẻ, giọng mềm và nhẹ, cho hay động Thiên Đường được phát hiện nhờ một người dân tộc. Từ thời điểm động được đưa vào khai thác, những hang động khác giảm hẳn lượng du khách. Người ta chỉ muốn đến thiên đường.
ĐÔNG HÀ
Dịu nói nàng sẽ đi.
Tôi ậm ừ qua chuyện. Tôi nhủ Dịu rời nơi này cả chục bận, lần này thứ bao nhiêu, tôi không buồn đếm, nhưng biết chắc nàng chưa đủ can đảm bước đi, dẫu chỉ là bước thứ nhất. Chặp đâm ra chỉ biết ậm ừ.
THÁI NGỌC SAN
Người đàn ông ôm cái cặp da to tướng bước nhanh vào phòng khách vận nhà ga. Cái cặp to gần bằng nửa người ông ta so với chiều cao. Thế nhưng mọi động tác của ông đều nhanh nhẹn, linh hoạt đến láu lỉnh. Có lẽ đó là đặc tính bẩm sinh của những người lùn.
VŨ MẠNH LẬP
Cây ngô cao vồng lên giữa bãi, lạ lắm.
Già A-nông thầm đặt cho nó cái tên: cây ngô chướng.
VÕ MẠNH LẬP
Truyện ký
Ông nội tôi nghèo của, nhưng giàu con. Ông có những hai mươi hai người con, tài sản của những ba bà. Tất cả theo nghiệp con trâu đi trước cái cày theo sau. May mắn thầy tôi rẽ ngang theo con đường học chữ Hán, chí thú tìm thầy học bạn, mở hiệu bán thuốc bắc, bắt mạch, đoán bệnh.
PHẠM PHƯƠNG
Đỉnh núi dựng đứng, lởm chởm cây bụi và những vỉa rêu xõa xượi dưới không gian trầm buồn sương. Buổi sớm, con chó to lớn tập tễnh bước trên đường.
HOÀNG NHẬT TUYỀN
- Nhắn chú ấy chiều nay vào ngay. Vào ngay đây! Tôi chẳng sống được mấy ngày nữa đâu thím Đóa à!
NGUYỄN THỊ KIM THOA
Em có cái tên mộc mạc như củ khoai củ sắn, như trái thơm trái cà ở nhiều vùng quê thôn dã: Lê Thị Sim.
NGUYỄN LAM THỦY
Người Hung gọi chị ta là “thiếu phụ quàng khăn đỏ”. Nhưng chị ta chẳng bao giờ quàng khăn đỏ, bởi tên chị ta là Piroska. (Piroska tiếng Hung khi còn bé gọi một cách trìu mến có nghĩa là “cô bé quàng khăn đỏ”, khi lớn lên đi lấy chồng thì gọi “thiếu phụ quàng khăn đỏ”).
DẠ NGÂN
Tờ giấy màu vàng rơm. Đã khá xa cái thời giấy hoàn toàn tái chế, thỉnh thoảng ngòi viết vấp phải một ít cặn bột cứng sảng. Thùy vẫn nhớ độ thô vàng vàng của tờ giấy, như nhớ một kỷ niệm buồn, nhớ mùi vị ngậm ngùi từ ký ức xộc ra. Tờ thư là dấu hiệu của nghèo khó nhưng nó có cái uy của sự áp đặt. Thô và vàng. Không chỉ thư mời, nó có hơi hướm giấy triệu tập hơn.
LÊ MINH KHUÊ
Xe vừa dừng thì từ phía ghế lái phụ có tiếng đập cửa gấp gáp. Vĩnh chồm dậy, mắt nhắm mắt mở. Nhưng không. Có phải báo động máy bay đâu? Vĩnh quay sang tôi nhe răng cười và mở cửa.
ĐINH DUY TƯ
Tin ông Khòa từ chức bay ra như một ổ mối cánh lúc trời mưa. Người này nói với người kia, truyền vào tai nhau lượng thông tin nóng hổi nhất. Họ đánh giá, phân tích và bình phẩm, kèm theo những kết luận theo cách nhìn nhận của mình.
PHẠM DŨNG
Thay xong bộ đồ ngủ, định đi nằm thì Diễm Trinh thấy trên bàn có một tờ giấy đánh máy.
ĐỖ HÀN
Bân trằn trọc mãi không ngủ được. Thế là lại mất toi con hổ mang nữa. Bữa trước vợ Bân cho rắn ăn, quên không đóng cửa chuồng. Một cặp hổ mang và một con hổ chúa bò ra ngoài. Dân làng đi xem văn công về, nhìn thấy một cặp rắn, họ kêu ầm lên. Bố con Bân phải vất vả lắm mới túm được đôi hổ mang. Con chúa chuồn đi mất.
LÝ THỊ MINH CHÂU
Con đường len lỏi qua những cánh rừng nối các buôn bản vùng cao lại với nhau giống như con rắn khổng lồ trên lưng có vệt vảy trắng.
PHÙNG PHƯƠNG QUÝ
Cuối buổi họp, “Thừa tướng” còn cho Trưởng ban Văn-Xã lên có đôi lời phát biểu. Thanh than thầm: “Thôi rồi Lượm ơi!”. Thằng lùn này nó nói dai còn hơn trâu đái.
NGUYÊN QUÂN
Những giọt nước mắt lăn tròn rơi xuống giữa lòng chén ngọc. Từng giọt... từng giọt xóa nhòa dần hình bóng con thuyền. Chén vỡ tan ra từng mảnh nhỏ, hồn thoát khỏi tình yêu hóa ngọc, bay vút vào không gian mang theo điệu sáo não nùng, cõi lòng oán uất.
TRẦN HƯƠNG GIANG Trong sân chùa chỉ còn lại Hương và chú tiểu. Cây liễu rũ thả những nhành lá lắc lay, qua ánh nắng lấp loáng hình dáng chú tiểu đang quét sân, lâu lâu chú nhìn Hương cười đầy thiện cảm.
MƯỜNG MÁN Những ngọn đèn mầu ẩn dưới tán lá phả xuống mặt đất thứ ánh sáng vàng nhạt, xanh dịu, tím loãng tạo khung cảnh huyền hoặc giả. Những chiếc bàn vuông thấp kê rải rác dưới các vòm cây.