Phong Điệp - nóng và hót

16:26 02/10/2009
…Có thể thấy gần đây có những xu hướng văn học gây “hot” trong độc giả, ví như xu hướng khai thác truyện đồng tính. Truyện của tôi xin khước từ những “cơn nóng lạnh” có tính nhất thời ấy của thị trường. Tôi bắt đầu bằng chính những câu chuyện giản đơn của cuộc sống hàng ngày, những điều giản đơn mà có thể vô tình bạn bước qua…

Nhà văn Phong Điệp



- Đọc tập truyện ngắn “Kẻ dự phần” cũng như nhiều truyện ngắn của chị, bạn đọc cảm nhận chúng lưu giữ và lan tỏa một “luồng khí nóng”, vậy đâu là bí quyết tạo nên điều này trong tác phẩm của chị? Nóng và “hot” có phải là thế mạnh của truyện ngắn Phong Điệp?
- Tôi tự nhận thấy rằng: Nếu như trước kia tôi có thể viết rất nhanh những câu chuyện bất chợt hình thành trong đầu, còn bây giờ tôi phải ngẫm ngợi nhiều hơn, để cho cảm xúc đến trong mình thật trọn vẹn và khi những cảm xúc lắng lại thì tôi bắt đầu ngồi vào bàn.Tôi sẽ dừng lại nếu tự cảm thấy mình đang bắt đầu nhàm chán và nhạt nhẽo. Dừng lại để làm nóng lại cảm xúc, nóng lại những câu chữ. Và vì vậy tôi rất vui khi nghe bạn nói điều này - đó là “luồng khí nóng”. Sự giao hòa giữa người đọc và người viết đó là điều mà người cầm bút chúng tôi rất cần, như một chất xúc tác để khuyến khích mình viết tiếp. Nhưng cũng xin dừng lại một chút ở ý này, nóng và “hot” trong truyện của tôi - như cách nói của bạn, thực ra không phải nằm ở đề tài. Có thể thấy gần đây có những xu hướng văn học gây “hot” trong độc giả, ví như xu hướng khai thác truyện đồng tính. Truyện của tôi xin khước từ những “cơn nóng lạnh” có tính nhất thời ấy của thị trường. Tôi bắt đầu bằng chính những câu chuyện giản đơn của cuộc sống hàng ngày, những điều giản đơn mà có thể vô tình bạn bước qua.

- Vừa là nhà văn, vừa là phóng viên, có điều kiện đi nhiều, tiếp xúc nhiều. Điều này đã tác động tới các sáng tác của chị như thế nào?
- Vâng, nếu chỉ ngồi yên một chỗ, vốn liếng của người viết sẽ cạn dần. Nghề báo cho tôi tiếp cận những cảnh đời, những số phận, và chính những câu chuyện đời thực ấy - chúng sống động hơn bất kì trí tưởng tượng nào - đã thúc giục tôi viết.

- Gần như tất cả các tác phẩm của chị đều được viết bằng thể loại truyện ngắn, vậy tại sao chị lại chọn thể loại này?
- Sự ngắn gọn, sức “công phá” của thể loại này khiến truyện ngắn luôn là sự lựa chọn số 1 của tôi. Tuy nhiên có những vấn đề buộc phải giải quyết bằng thể loại tiểu thuyết nên tôi vẫn tìm cách duy trì song song cả hai. Mặc dù nếu “nướng thời gian” vào việc viết tiểu thuyết thì thật khó làm được những việc khác. Nên lâu nay tôi ưu tiên truyện ngắn hơn chăng? Bạn biết không, thậm chí tôi đã lên kế hoạch viết cho mình khi về hưu (cười)

- Những con người từ làng quê “lạc bước chốn thị thành” trong truyện ngắn của chị đều mang những nét khó nhọc, như hai ông bố trong truyện ngắn “Bát phở”, hay anh Nhân trong “Trở về” và cô Phan trong “Tầng hai”, vậy thông điệp của chị là gì?
- Tôi luôn mong muốn điều này: khi tôi viết ra tác phẩm của mình, tôi gửi gắm những suy tư, hay nói cách khác là những thông điệp của mình ở trong đó; nó sẽ giống như những “mã khóa” cho tác phẩm, và chờ sự giải mã ở người đọc. Bạn sẽ hào hứng hơn khi tham gia một trò khám phá mà chưa biết kết thúc sẽ như thế nào. Tuy nhiên, những vấn đề mà bạn vừa đặt ra, tôi cũng xin được chia sẻ thế này: dù đã sống ở Hà Nội 15 năm, hưởng những điều kiện sinh hoạt tiện nghi của một thành phố hiện đại; nhưng trong thẳm sâu lòng mình - tôi luôn tự thấy mình giống như một đứa trẻ nông thôn bị lạc vào chốn đô thành ồn ã, với đầy những hoang mang, đầy sự lạc lõng trong mình. Tôi chú ý nhiều hơn những người có cùng “cảnh ngộ”. Thực ra ai cũng có những nơi chốn thiêng liêng, giữ riêng trong tim mình, song vì cuộc sống mà phải cất bước “giang hồ” vậy. Tôi có người em họ, cách đây mấy năm cậu ấy đi lao động ở Malaysia. Công việc là thợ xây dựng. Có một năm mùng một tết, cậu ấy gọi điện về hỏi thăm và chúc tết tôi. Tôi nghe sóng điện thoại réo ù ù, nên hỏi: “em đang ở đâu?” Bên kia trả lời: “em đang trên nóc công trình, đang đặt sắt để chuẩn bị đổ mái”. Giọng nói bên kia đứt quãng. “Ở nhà chị đón tết thế nào?” Mùng một tết, lẽ ra người ta có thể ở bên người thân, bên đứa con gái vừa chào đời, thế mà vì mưu sinh, người ta phải lưu lạc nơi xa. Những cuộc đời ấy, những số phận ấy - lẽ nào không đủ sức nặng khiến người cầm bút phải ngồi vào bàn để viết?

- Những bậc làm cha, làm mẹ được đề cập trong các truyện ngắn “Tiếng ru”, “Bát phở”, “Ngôi nhà hoang vắng” trong tập “Kẻ dự phần” đều rất giàu đức hy sinh? Vì sao chị đi theo đề tài này khi mà hiện nay giới cầm bút trẻ lại chỉ thích viết về những cái lập dị, méo mó?
- Có thể tôi ảnh hưởng từ chính mẹ mình. Bà là người cả đời chỉ biết hy sinh cho con cho cái. Và tôi thiển nghĩ thế này: gốc của cuộc sống này nếu không là sự hy sinh, nhân ái thì sẽ là điều gì đây? Văn học nếu không hướng thiện thì sẽ là gì đây? Người viết - đương nhiên có nhiều sự lựa chọn về phong cách, về đề tài… cho tác phẩm của mình. Điều ấy giúp làm nên một đời sống văn học phong phú, đa dạng.

- Đọc truyện “Thùng rác” dễ khiến bạn đọc có liên tưởng tới F.Kafka, A.Camus,... (những nhà văn viết theo khuynh hướng huyền thoại), vậy chị có ảnh hưởng gì từ họ không?
- Tôi khước từ những “người quen” khi ngồi trước trang giấy của mình. Những thay đổi trong cách viết cũng là cách giúp người viết tự làm mới mình và khám phá thế mạnh của mình. Vì vậy tại sao chúng ta không thử xem, phải không?

- Được biết chị là một nhà văn trẻ và đã từng tung ra tác phẩm “Mạn đàm văn chương thời @”, vậy theo chị, nét nổi bật lớn nhất của văn chương thời @ là gì?
- Quả là một câu hỏi có tầm vĩ mô. Cảm ơn bạn đã nhắc đến cuốn sách tản mạn văn học của tôi có nhan đề là “Mạn đàm văn chương thời @”. Trong cuốn sách này, tôi chỉ xin phép làm vai trò như một cầu nối để chính các tác giả bộc lộ mình. Bạn đọc được gặp những tác giả đã rất quen thuộc như: Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Vĩnh Tiến, Phan Triều Hải,… và qua những tâm sự văn chương của họ, chắc hẳn bạn sẽ khám phá thêm nhiều điều thú vị. Mỗi người trong số họ đang đóng góp một viên gạch vào con đường “văn chương thời @” này. Vì vậy xin đừng tìm một mẫu số chung cho họ. Chúng ta hãy nhìn nhận “văn chương thời @” như một giai đoạn văn học đa phong cách, mà những người viết trẻ hôm nay vẫn đang nỗ lực hết mình để đóng góp cho nền văn học nước nhà những giá trị văn học đích thực.

- Vâng, xin cảm ơn chị!

VƯƠNG QUỐC HÙNG thực hiện
(247/09-09)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.

  • Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.

  • PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.

  • ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.

  • NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".

  • HOÀNG KIM DUNG      (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập  truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)

  • PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.

  • ANH DŨNGLTS:  Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.

  • SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?

  • MINH QUANG                Trời tròn lưng bánh tét                Đất vuông lòng bánh chưng                Dân nghèo thương ngày Tết                Gói đất trời rưng rưng...

  • NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.

  • Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.

  • NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.

  • ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.

  • HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.

  • FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.

  • KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.