Trong các loài gia súc, con chó có lẽ được xem như là gần gũi với con người hơn cả, thường thường nhà nào cũng có nuôi chó, cho nên trong thơ văn các tác phẩm kể trên, con chó cũng được nói đến nhiều.
Xem lại "Lục súc tranh công" chúng ta thấy tác giả vô danh đã tạo nên cuộc hội thoại giữa sáu con vật nuôi trong nhà khá lý thú. Tác giả không cho hai con vật đối thoại tranh luận nhau về một điểm nào mà lại để cho con này nhảy ra chê con vừa kể công trước, xong lại tự kể công nó để rồi con vật thứ ba cũng vậy cho đến hết.
Có lẽ tác giả đã chú ý nhiều đến khía cạnh ngụ ngôn, dụng ý nói lên cái chủ quan của người ta cứ thấy cái tốt của mình mà không bao giờ thấy cái xấu, nên ít chú ý đến tình tiết kết cấu hấp dẫn hơn. Nhưng, những chi tiết nêu ra cũng có phần tỉ mỉ. Chúng ta hãy nghe trâu chê chó:
"Chưa rét đã phô bằng rét, Xo ro đuôi quýt vào trôn.
Vấy bếp người tro trấu chẳng còn, Ba ông táo lộn đầu lộn óc".
Và chó nhảy ra kể công:
"... Đêm năm canh con mắt như chong. Đứa đạo tặc nép oai khủng động.
Ngày sáu khắc lỗ tai bằng trống, Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh".
Thật vậy, khi xã hội còn có những kẻ gian tham trộm cắp thì con người còn trông cậy vào con chó.
Ngày nay, bọn gian tham, hối lộ rất tinh vi rất khoa học, thì chó đâu có được huấn luyện kỹ càng như chó trận cũng khó đánh hơi ra đấy!
Nhưng con chó vốn một lòng trung thành với chủ, hễ ai khác chủ mà xâm nhập khuôn viên gia cư là chó hành động theo bổn phận của nó. Bởi vậy, cô gái nhà quê đã mộc mạc căn dặn trước người tình nhân:
- Nhà em có bụi mía mưng, có con chó dữ, anh đừng vô ra.
Ngày nay, văn minh hơn, người ta có bảng đề trước ngõ "coi chừng chó dữ" chứ xa xưa, quê mùa, thì chi bằng dặn trước là hơn. Bụi mía rậm rạp có thể là nơi ngụy trang tốt nhất cho anh Hai anh Ba gì đó tạm thời chờ đợi, chứ nếu cứ vô ra thập thò thì không những bị chó cắn mà câu chuyện bí mật riêng tư còn bị bại lộ nữa.
Người ta thường bảo "dại như chó", có khi ngay tình mà mang lấy tội vạ vào thân:
Con mèo làm bể nồi rang, Con chó chạy lại mà mang lấy đòn.
Từ xưa, chó vẫn không phải chỉ có mỗi công dụng là giữ nhà mà còn để đi săn nữa. Phan Văn Trị trong khi họa vận với Tôn Thọ Tường, đã viết hai câu trong một bài gói ghém được hoài bão yêu nước của một con người:
"Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở, Bủa lưới săn nai cũng có ngày”.
Trong thi ca, hình ảnh con chó là cái gì không mấy đẹp đẽ dùng để điểm pha vào trong một khung cảnh có vẻ bi đát, tiều tụy. Cao Bá Quát, lúc làm giáo thọ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây), chốn xa xôi rừng núi mà bạn bè khách khứa chẳng mấy ai thiết đến đã chua xót ghi lại đôi câu:
"Nhà trống đôi ba gian, một thầy một cô, một chó cái. Học trò năm bảy đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi".
Trong truyện ngắn "Lão Hạc” của Nam Cao có "Cậu vàng". Trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, trong "Khách nợ" của Tô Hoài con chó cũng là nhân vật, chưa kể cả một loạt tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại - thỉnh thoảng thấy xuất hiện nhân vật... là chó (!) có khi còn là nhân vật trung tâm...
Epictète, triết gia Hy Lạp xưa cũng đã nói toạc cái tư tưởng tranh lợi của con người, khi viết: "Hai con chó đang giỡn với nhau, nếu ta ném cho chúng một cục xương, chúng sẽ giành nhau trối chết". Có nhiều người vẫn than mình "Khổ như chó" hay "cực như chó". Chó có thực là khổ không? Đó cũng là điều không đúng với ngày nay. Chó còn có huy chương, chức tước như chó trận v.v... Có nhiều người thừa thãi tiền bạc, đã nuôi chó bằng cao lương mỹ vị mà người nghèo suốt năm chưa hề mó tới được. Chó được ở nhà lầu, đi xe hơi, được người ta thương hơn người, ấy thật mới là những "tâm hồn chó”.
Thực tế, chó có khi được ưu đãi như vậy, nhưng trong văn chương nó không bao giờ thấy được cái vinh hạnh ấy mà còn là cái gì tệ mạt hơn những con vật khác. Người ta xem nó như sinh ra để mà dọn vệ sinh cho con người, nên mới nói "có con phải chiều lòng chó".
Có rủi nhưng cũng có may, đôi khi vô tình "chó ngáp phải ruồi" hoặc hoàn cảnh bị động mà đưa đến "chó ngồi giàn gác" - để mà vênh váo. Cụ Phan Chu Trinh đã dùng hình ảnh này để mỉa mai những tên tài hèn đức kém, nhưng gặp thời vận đưa đẩy mà tự đắc. Với bài "Lụt" chó ngồi giàn gác, cụ đã viết:
Kìa trên giàn gác, ối chao ôi! Nước lụt nên chi chó nhảy rồi
Rủi nhịp khỏa tràn đôi thước đẫy. May thời chò hỏ mấy tầng côi.
Liếm chân, liếm đít, xăng văng mãi, Trông dưới trông trên, nhớn nhác ngồi.
Ít bữa mãn cơn đâu lại đấy. Roi mây quất tưới, nhảy cong đuôi.
Những lời trên thật là chân thực nhưng rất chua cay nặng nề. Người biết, nghe vậy cũng lấy làm suy tư, kẻ sai lầm nhưng biết chữa lỗi cũng nể nang sợ sệt, còn hơn những kẻ mở miệng chửi nhau bằng chó. Xã hội vẫn có những người tâm địa không hơn loài vật, ngôn ngữ loại người với nhau có thể thô bỉ, nhưng, đó là hạng thấp kém của xã hội. Người hiểu biết, không ai làm như vậy. Mạnh Tử đã từng gọi Trụ Vương rằng: một đứa "Văn tru nhất phu Trụ hĩ, Vị văn thí quân dã" nhưng mặt khác đã răn dạy:
"Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù".
Có nghĩa là: "Vua coi bầy tôi (hay dân) như chân tay thì bầy tôi xem vua như lòng dạ mình. Vua xem bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi xem vua như người thường. Vua xem bầy tôi như đất cỏ thì bầy tôi xem vua như kẻ thù".
Đạo lý người xưa không phải là những gì viễn vông xa vời cho những kẻ muốn làm người đích thực, nhất là với ai có hoài vọng chăn dân trị nước.
N.T
(TCSH60/02-1994)
Tải mã QRCode
NGUYỄN QUANG HÀHình như trong máu của người Việt đều có một chút máu thi nhân. Cho nên thấy ai cũng mê thơ cả. Chả thế mà tít mãi vùng hẻo lánh, các bà mẹ ru con bằng Kiều, bằng ca dao. Lời ru giống như một sự ngẫu hứng, cứ thế tự trào ra từ tâm hồn mình.
TRẦN THANH ĐẠMNgày13 tháng 06 năm 2002 vừa qua là dịp kỷ niệm lần thứ 75 ngày mất của một trong những nhà yêu nước và cách mạng tiền bối, một nhà giáo dục lớn của nước ta đầu thế kỷ XX: chí sĩ Lương Văn Can (1854-1927).
LÊ HỒNG SÂM Cách đây mươi năm, trong một cuộc phỏng vấn thân mật, chị Lộc Phương Thuỷ có hỏi tôi về những kỷ niệm đáng nhớ, liên quan đến văn học, nhất là văn học Pháp. Tôi đã kể cho chị Thuỷ mẩu chuyện nhỏ mà hôm nay tôi xin thuật lại, dưới tiêu đề phù hợp với một trong hai nội dung của hội thảo Fantine, Cosette và chiếc đòn gánh Việt .
HỒNG NHULTS: Những cuộc trao đổi mang tính nghề nghiệp về thơ ở tầm "vĩ mô" dường như đang co lại ở tầm "vi mô". Các ý kiến khác nhau, thậm chí ngược nhau trong tranh luận học thuật là chuyện bình thường. Song, sẽ không bình thường khi công cuộc đổi mới của Đảng đã bước vào nền kinh tế tri thức mà vẫn còn những "tư duy thơ" theo cơ chế suy diễn với những mục đích gì đó, ngoài thơ.Nhằm rộng đường dư luận, Sông Hương xin được trao đổi lại một trường hợp cụ thể sau đây.
MAI VĂN HOANỞ Huế tôi đã có nghe bạn bè nói sơ qua về cuộc hội thảo tập thơ "Đám mây lơ lửng" của Hoàng Vũ Thuật, tác phẩm đoạt giải A giải thưởng VH-NT Lưu Trọng Lư lần thứ hai (1996 - 2000) do Hội Văn nghệ Quảng Bình tổ chức.
ĐÀO DUY HIỆP“Đi tìm thời gian đã mất” của Marcel Proust (1871-1922) là một tiểu thuyết đồ sộ gồm bảy tập với trên dưới ba nghìn trang ngày nay đã được độc giả toàn thế giới say sưa đón đọc và được nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đánh giá rất cao.
THÁI THU LANThông thường, mỗi văn nhân nghệ sĩ đều có nỗi đau đời, nỗi đau nhân thế. Nỗi đau này băt nguồn từ tấm lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc sống và số phận con người qua những biến động của xã hội.
HOÀNG QUẢNG UYÊNTôi yêu mến và quý trọng những câu thơ như là "không thơ" của chị:Câu thơ nước chảy bèo trôi/ Vẫn nghiêng về phía phận đời khổ đau. (Hương cỏ)
FRANÇOIS JULLIEN LTS: Hạ tuần tháng tư năm 2001, nhà triết học F.Jullien đến thăm Hà Nội nhân dịp lần đầu tiên công trình của ông được giới thiệu ở Việt Nam trong văn bản tiếng Việt (Xác lập cơ sở cho đạo đức- N.x.b Đà Nẵng, 2000). Cuối năm nay sẽ được xuất bản bản dịch công trình Bàn về tính hiệu quả ( F.Jullien. Traité de l’efficacité.Grasset, 1997). Sau đây là bản dịch chương III của tác phẩm này (do khuôn khổ của tạp chí, có lược đi một số đoạn). Nhan đề do chúng tôi đặt. Trong bài, số thiên đơn thuần (chẳng hạn th.81) là số thiên trong sách Đạo Đức Kinh còn gọi là sách Lão tử.
NGÔ MINH Tôi quen biết với anh Tường hơn 25 năm nay ở Huế như một người bạn vong niên thân thiết. Trong máy tính của tôi còn lưu trữ bài Anh Tường ơi viết từ năm 1998, gần 3000 chữ chưa công bố. Đó là bài viết mà nhà văn Nguyễn Quang Hà, Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương lúc đó, bảo tôi viết, sau chuyến chúng tôi đi thăm anh Tường bị trọng bệnh đang nằm hôn mê ở Bệnh viện Đà Nẵng về.
HỒ THẾ HÀHoàng Phủ Ngọc Tường dấn thân vào nghiệp bút nghiên bằng thơ cùng những năm tháng "hát cho đồng bào tôi nghe" sục sôi nhiệt huyết đấu tranh chống thù và ước mơ hòa bình trên quê mẹ Việt yêu dấu.
PHẠM PHÚ PHONG"Tôi ngồi nhớ lại tất cả nỗi trầm tư dài bên cạnh mớ hài cốt khô khốc của anh Hoàng. Trước mắt tôi, tất cả cuộc sống đầy những hùng tráng và bi thương vốn đã từng tồn tại trên mảnh đất rừng này, giờ đã bị xoá sạch dấu tích trong sự câm nín của lau lách. Như thế đấy có những con đường không còn ai đi nữa, những năm tháng không còn ai biết nữa, và những con người chết không còn hắt bóng vào đâu nữa...
LÊ THỊ HƯỜNG1. Yêu con người Hoàng Phủ Ngọc Tường trong thơ, quý con người Hoàng Phủ trong văn, tôi đã nhiều lần trăn trở tìm một từ, một khái niệm thật chính xác để đặt tên cho phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường.
TRẦN THÙY MAICó lần anh Hoàng Phủ Ngọc Tường nói: tính chất của người quân tử là phải "văn chất bân bân". Văn là vẻ đẹp phát tiết ra bên ngoài, chất là sức mạnh tiềm tàng từ bên trong. Khi đọc lại những bài nghiên cứu về văn hóa – lịch sử của anh Tường, tôi lại nhớ đến ý nghĩ ấy. Nếu "văn" ở đây là nét tài hoa duyên dáng trong từng câu từng chữ đem lại cho người đọc sự hứng thú và rung cảm, thì "chất" chính là sức mạnh của vốn sống, vốn kiến thức rất quảng bác, làm giàu thêm rất nhiều cho sự hiểu biết của người đọc.
TRƯƠNG THỊ CÚCXuất thân từ một gia đình hoàng tộc, cử nhân Hán học, giỏi chữ Hán, thông thạo chữ Pháp, từng làm quan dưới thời Nam triều, nhưng Ưng Bình Thúc Giạ Thị là một nhân cách độc đáo.
HỮU VINH Chúng ta đã thưởng thức thơ, ca Huế, ca trù, hò, tuồng của thi ông Ưng Bình Thúc Giạ Thị, một nhà thơ lừng lẫy của miền sông Hương núi Ngự. Nhưng nói đến sự nghiệp văn chương của thi ông mà không nói đến thơ chữ Hán của thi ông là một điều thiếu sót lớn.
ĐỖ LAI THÚYQuang Dũng nói nhiều đến mây, đặc biệt là mây trời Sơn Tây, Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm! Mây là biểu tượng của tự do, của lãng du. Mây trắng là xứ sở của tiêu dao trường cửu. Chất mây lãng tử ở Quang Dũng, một phần do thổ ngơi xứ Đoài, phần kia do văn học lãng mạn.
CAO XUÂN HẠOĐọc bài Nỗi đau của tiếng Việt của Hữu Đạt (H.Đ) trong tuần báo Văn nghệ số 9 (2-3-2002), tôi kinh ngạc đến nỗi không còn hiểu tại sao lại có người thấy mình có thể ngồi viết ra một bài như thế. Tôi cố sức bới óc ra nghĩ cho ra người viết là ai, tại sao mà viết, và viết để làm gì. Rõ ràng đây không phải là một người hoàn toàn không biết gì về giới ngôn ngữ học Việt . Nhưng hầu hết những điều người ấy viết ra lại hoàn toàn ngược với sự thật.
MAI VĂN HOAN.Tôi biết Nguyễn Duy qua bài thơ “Tre Việt ” in trên báo Văn Nghệ. Từ đó, tôi luôn theo sát thơ anh. Mở trang báo mới thấy tên anh là tôi đọc đầu tiên. Với tôi, anh là một trong những người hiếm hoi giữ được độ bền của tài năng.
THỦY TRIỀU SUNG HUYỀN"Đây thôn Vĩ Dạ" là một bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử đã từng có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau. Đành rằng ngôn ngữ thơ ca thường hàm súc, cô đọng, đa nghĩa do đó có thể có nhiều cách tiếp cận tác phẩm.