Phiếm đàm về hình tượng con chó trong văn chương

15:39 18/07/2025
Trong kho tàng văn chương Việt Nam, người ta thấy có năm ba tác phẩm đề cập chuyện loài vật, xưa hơn và đáng kể là: Trê Cóc, Trinh Thử, Lục súc tranh công.

Trong các loài gia súc, con chó có lẽ được xem như là gần gũi với con người hơn cả, thường thường nhà nào cũng có nuôi chó, cho nên trong thơ văn các tác phẩm kể trên, con chó cũng được nói đến nhiều.

Xem lại "Lục súc tranh công" chúng ta thấy tác giả vô danh đã tạo nên cuộc hội thoại giữa sáu con vật nuôi trong nhà khá lý thú. Tác giả không cho hai con vật đối thoại tranh luận nhau về một điểm nào mà lại để cho con này nhảy ra chê con vừa kể công trước, xong lại tự kể công nó để rồi con vật thứ ba cũng vậy cho đến hết.

Có lẽ tác giả đã chú ý nhiều đến khía cạnh ngụ ngôn, dụng ý nói lên cái chủ quan của người ta cứ thấy cái tốt của mình mà không bao giờ thấy cái xấu, nên ít chú ý đến tình tiết kết cấu hấp dẫn hơn. Nhưng, những chi tiết nêu ra cũng có phần tỉ mỉ. Chúng ta hãy nghe trâu chê chó:

"Chưa rét đã phô bằng rét, Xo ro đuôi quýt vào trôn.
Vấy bếp người tro trấu chẳng còn, Ba ông táo lộn đầu lộn óc".

Và chó nhảy ra kể công:

"... Đêm năm canh con mắt như chong. Đứa đạo tặc nép oai khủng động.
Ngày sáu khắc lỗ tai bằng trống, Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh".

Thật vậy, khi xã hội còn có những kẻ gian tham trộm cắp thì con người còn trông cậy vào con chó.

Ngày nay, bọn gian tham, hối lộ rất tinh vi rất khoa học, thì chó đâu có được huấn luyện kỹ càng như chó trận cũng khó đánh hơi ra đấy!

Nhưng con chó vốn một lòng trung thành với chủ, hễ ai khác chủ mà xâm nhập khuôn viên gia cư là chó hành động theo bổn phận của nó. Bởi vậy, cô gái nhà quê đã mộc mạc căn dặn trước người tình nhân:

- Nhà em có bụi mía mưng, có con chó dữ, anh đừngra.

Ngày nay, văn minh hơn, người ta có bảng đề trước ngõ "coi chừng chó dữ" chứ xa xưa, quê mùa, thì chi bằng dặn trước là hơn. Bụi mía rậm rạp có thể là nơi ngụy trang tốt nhất cho anh Hai anh Ba gì đó tạm thời chờ đợi, chứ nếu cứ vô ra thập thò thì không những bị chó cắn mà câu chuyện bí mật riêng tư còn bị bại lộ nữa.

Người ta thường bảo "dại như chó", có khi ngay tình mà mang lấy tội vạ vào thân:

Con mèo làm bể nồi rang, Con chó chạy lại mà mang lấy đòn.

Từ xưa, chó vẫn không phải chỉ có mỗi công dụng là giữ nhà mà còn để đi săn nữa. Phan Văn Trị trong khi họa vận với Tôn Thọ Tường, đã viết hai câu trong một bài gói ghém được hoài bão yêu nước của một con người:

"Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở, Bủa lưới săn nai cũng có ngày”.

Trong thi ca, hình ảnh con chó là cái gì không mấy đẹp đẽ dùng để điểm pha vào trong một khung cảnh có vẻ bi đát, tiều tụy. Cao Bá Quát, lúc làm giáo thọ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây), chốn xa xôi rừng núi mà bạn bè khách khứa chẳng mấy ai thiết đến đã chua xót ghi lại đôi câu:

"Nhà trống đôi ba gian, một thầy một cô, một chó cái. Học trò năm bảy đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi".

Trong truyện ngắn "Lão Hạc” của Nam Cao có "Cậu vàng". Trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, trong "Khách nợ" của Tô Hoài con chó cũng là nhân vật, chưa kể cả một loạt tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại - thỉnh thoảng thấy xuất hiện nhân vật... là chó (!) có khi còn là nhân vật trung tâm...

Epictète, triết gia Hy Lạp xưa cũng đã nói toạc cái tư tưởng tranh lợi của con người, khi viết: "Hai con chó đang giỡn với nhau, nếu ta ném cho chúng một cục xương, chúng sẽ giành nhau trối chết". Có nhiều người vẫn than mình "Khổ như chó" hay "cực như chó". Chó có thực là khổ không? Đó cũng là điều không đúng với ngày nay. Chó còn có huy chương, chức tước như chó trận v.v... Có nhiều người thừa thãi tiền bạc, đã nuôi chó bằng cao lương mỹ vị mà người nghèo suốt năm chưa hề mó tới được. Chó được ở nhà lầu, đi xe hơi, được người ta thương hơn người, ấy thật mới là những "tâm hồn chó”.

Thực tế, chó có khi được ưu đãi như vậy, nhưng trong văn chương nó không bao giờ thấy được cái vinh hạnh ấy mà còn là cái gì tệ mạt hơn những con vật khác. Người ta xem nó như sinh ra để mà dọn vệ sinh cho con người, nên mới nói "có con phải chiều lòng chó".

Có rủi nhưng cũng có may, đôi khi vô tình "chó ngáp phải ruồi" hoặc hoàn cảnh bị động mà đưa đến "chó ngồi giàn gác" - để mà vênh váo. Cụ Phan Chu Trinh đã dùng hình ảnh này để mỉa mai những tên tài hèn đức kém, nhưng gặp thời vận đưa đẩy mà tự đắc. Với bài "Lụt" chó ngồi giàn gác, cụ đã viết:

Kìa trên giàn gác, ối chao ôi! Nước lụt nên chi chó nhảy rồi
Rủi nhịp khỏa tràn đôi thước đẫy. May thời chò hỏ mấy tầng côi.
Liếm chân, liếm đít, xăng văng mãi, Trông dưới trông trên, nhớn nhác ngồi.

Ít bữa mãn cơn đâu lại đấy. Roi mây quất tưới, nhảy cong đuôi.

Những lời trên thật là chân thực nhưng rất chua cay nặng nề. Người biết, nghe vậy cũng lấy làm suy tư, kẻ sai lầm nhưng biết chữa lỗi cũng nể nang sợ sệt, còn hơn những kẻ mở miệng chửi nhau bằng chó. Xã hội vẫn có những người tâm địa không hơn loài vật, ngôn ngữ loại người với nhau có thể thô bỉ, nhưng, đó là hạng thấp kém của xã hội. Người hiểu biết, không ai làm như vậy. Mạnh Tử đã từng gọi Trụ Vương rằng: một đứa "Văn tru nhất phu Trụ hĩ, Vị văn thí quân dã" nhưng mặt khác đã răn dạy:

"Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù".

Có nghĩa là: "Vua coi bầy tôi (hay dân) như chân tay thì bầy tôi xem vua như lòng dạ mình. Vua xem bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi xem vua như người thường. Vua xem bầy tôi như đất cỏ thì bầy tôi xem vua như kẻ thù".

Đạo lý người xưa không phải là những gì viễn vông xa vời cho những kẻ muốn làm người đích thực, nhất là với ai có hoài vọng chăn dân trị nước.

N.T
(TCSH60/02-1994)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Tin nổi bật
  • NGUYỄN DƯƠNG CÔNThể loại tiểu thuyết đã ra đời và có lịch sử vận động khá lâu dài. Ít nhất, ở châu Âu, thể loại này đã có từ gần năm thế kỷ.

  • CHƯƠNG THÂUNói về sự nghiệp đấu tranh bảo vệ tổ quốc, chúng ta dễ dàng ghi nhận những thành tích của giáo dân, đặc biệt của các nhân sĩ trí thức, anh hùng liệt sĩ “kính Chúa yêu nước”.

  • Viện sĩ A-lếch-xan-đơ Đa-ni-lô-vích A- lếch- xan- đrốp là một nhà toán học lỗi lạc, đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khi ông mới 24 tuổi, sau đó nhiều năm giữ cương vị hiệu trưởng trường Đại học tổng hợp Lê- nin- grát. Ngoài toán học ra, ông còn quan tâm tới nhiều lãnh vực khoa học khác như đạo đức học, triết học, khoa học... Viện sĩ ưa thích làm thơ, và điều đặc biệt thú vị là ở tuổi 70, ông đã leo lên tới một trong những đỉnh núi của dải Thiên Sơn hùng vĩ... Sau đây là cuộc trao đổi giữa viện sĩ và phóng viên tờ “Nước Nga Xô viết”

  • LGT: Sau hơn chục năm nghiên cứu kết hợp với nhiều chuyến điền dã, ông Lê Quang Thái đã ghi chép lại Vè thất thủ Kinh đô (kể cả dị bản) trên cơ sở chú giải tỉ mỉ và cặn kẽ nhằm mở ra cho độc giả một cái nhìn bao quát về bối cảnh Kinh đô Huế ngày thất thủ và những năm tháng kế tục.Trân trọng tâm huyết và công lao của tác giả, Sông Hương xin giới thiệu tới bạn đọc một chương khá quan trọng trong công trình kể trên của ông Lê Quang Thái, hiện công tác tại Trung tâm Liễu quán Huế.S.H

  • LƯU KHÁNH THƠ“Hàng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường... Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO(Nhân đọc một bài viết của Lê Quý Kỳ)

  • HÀ VĂN LƯỠNG 1. Trên hành trình của văn học Việt Nam hiện đại mà nói rộng ra là văn học Việt Nam thế kỉ XX, bên cạnh việc phát huy và giữ gìn bản sắc và những truyền thống văn hóa dân tộc thì nhu cầu giao lưu, tiếp thu văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học phương Tây để góp phần hiện đại hóa nền văn học dân tộc trở thành một nhu cầu cần thiết.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHVấn đề bản sắc địa phương trên tạp chí văn nghệ tỉnh nhà chúng ta đã có dịp bàn bạc, trao đổi nhưng chưa ngã ngũ. Có lẽ trong trường lực báo chí, tờ văn nghệ vẫn là chỗ nhạy cảm nhất về phương diện văn hóa. Hẳn nhiên, trong địa hạt ấy, tờ văn nghệ cũng là nơi khả kiến nhất về phương diện nghệ thuật. Câu hỏi đặt ra ở đây là bản sắc địa phương của tờ báo được xét theo phương diện nào? văn hóa hay nghệ thuật?

  • THANH THẢOCâu trả lời có vẻ đơn giản: văn học là... văn học. Nhưng trả lời như thế chính là đặt tiếp một câu hỏi, và lại một câu hỏi nữa, mà câu trả lời đâu như còn thấp thoáng ở phía trước.

  • TRẦN THỊ THANHĐặng Huy Trứ là một trong những gương mặt nổi trội của các nhà trí thức lớn Việt Nam ở thế kỉ XIX. Tài năng và trí tuệ tuyệt vời đã hội tụ trong con người ông.

  • NGUYỄN XUÂN HÒA Ưng Bình Thúc Giạ thị (1877 -1961) và Thảo Am Nguyễn Khoa Vi (1881 - 1968) là hai nhà thơ Huế giàu tài năng sáng tác vừa có mặt chung, mặt riêng, phản ảnh cuộc sống xứ Huế được nhân dân mến mộ, khâm phục.

  • ĐỖ ĐỨC HIỂU* Thưa ông, qua hai tác phẩm gần đây nhất của ông, tôi được biết ông quan tâm nhiều đến vấn đề Phê bình Văn học ở nước ta. Theo ý ông, Phê bình, Nghiên cứu Văn học ở Việt Nam những năm gần đây có biến đổi gì không? Hay nó dậm chân tại chỗ như một vài người đã nói?

  • PHONG LÊIĐến với tôi một nhận xét: Đại hội nhà văn lần thứ VI, tháng 4- 2000, do việc bầu đại biểu từ 8 khu vực, nên vắng hẳn đi những người có thâm niên nghề nghiệp cao. Đặc biệt là những vị có sự nghiệp đáng trọng trên các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, những người có vị thế bậc thầy trên nhiều phương diện của kiến thức đối với các thế hệ viết trẻ.

  • HOÀNG NGỌC HIẾN(Tiếp theo Sông Hương số 253 tháng 3/2010)

  • HỒ THẾ HÀNhìn vào tiến tình văn học đương đại Việt Nam, căn cứ vào các giải thưởng văn học, các hiện tượng văn chương nổi bật trong hơn hai thập kỷ qua, - so trong tương quan các thể loại, nhiều người không khỏi lo lắng và lên tiếng báo động về sự xuống cấp của thơ.

  • TRẦN THIỆN KHANHSau chiến tranh khoảng 10 năm, đất nước có nhiều chuyển biến quan trọng. Các nhà văn đủ mọi thế hệ nghĩ và viết trong một bối cảnh mới. Song họ vẫn chưa thoát khỏi những yêu cầu của đoàn thể, họ vẫn phải phục vụ một “biểu tượng xã hội về chân lí”(1) cái biểu tượng có tính giai cấp, tính chiến đấu, hoặc ít ra cũng có tính nhân dân và màu sắc dân tộc đậm đà đính kèm.

  • BỬU NAMThiên nhiên là “không gian sống” và “không gian tâm tưởng” của con người và thi sĩ phương Đông, nó đã lắng sâu trong vô thức của họ và đã trở thành một loại “không gian văn hóa” và là một hằng số quan trọng trong thơ ca phương Đông.

  • THANH THẢOMỗi nhà văn đích thực đều là mỗi nhà không tưởng ở những mức độ khác nhau. Tônxtôi là nhà văn vĩ đại, đồng thời là nhà không tưởng vĩ đại.

  • THU TRANG (Paris) Có thể từ đầu thế kỷ, do hoàn cảnh lịch sử, người Việt Nam đã tiếp cận văn hóa Pháp. Chúng ta phải công nhận phần ảnh hưởng phong phú do các luồng tư tưởng, quan niệm Tây phương đã tác động đến giới trí thưc và văn nghệ sĩ nhiều ngành.

  • NGUYỄN THẾ - PHAN ANH DŨNGCầm trên tay cuốn Truyện Kiều tập chú (TKTC), NXB Đà Nẵng, 1999, dày hơn 1000 trang của các tác giả Trần Văn Chánh, Trần Phước Thuận, Phạm Văn Hòa, chúng tôi thấy đây là một công trình nghiên cứu công phu, tập hợp và chọn lọc được một số chú giải của các học giả nổi tiếng.