Phê bình văn học - nhìn từ miền Trung

09:55 18/08/2015

PHẠM PHÚ PHONG   

Nhìn lại đội ngũ những người viết phê bình văn học trong cả nước ngày càng thưa vắng, thì ở các địa phương miền Trung càng thưa vắng hơn, đến mức có khi không tìm đâu ra chân dung một nhà phê bình thực thụ, đằng sau các bài điểm sách, đọc sách trên các báo.

Từ góc trong góc khuất xa xôi của miền Trung, hay nói như ngôn ngữ hiện đại, từ ngoại vi nhìn vào trung tâm, tôi chợt có mấy ý nghĩ tản mạn:

1.

Ở nước ta thực chất không có nhà phê bình chuyên nghiệp, hẳn là điều ai cũng phải thừa nhận. Về mặt lý thuyết, chúng ta vẫn thường xuyên lặp đi lặp lại và khẳng định bản chất của phê bình “vừa là khoa học vừa là nghệ thuật”. Là khoa học, nhưng khác với các hình thái ý thức xã hội khác, như triết học, đạo đức, chính trị và cả với khoa học “tuy cũng có ý kiến nhận xét, trao đổi qua lại, nhưng không có ngành phê bình cho riêng nó, như phê bình văn học. Hiện tựơng này nói lên tính đặc thù sáng tạo văn học, của sự tiếp thu văn học, cũng như nói lên sự cần thiết của phê bình văn học”(1). Là nghệ thuật, nhưng cũng khác với các loại hình nghệ thuật, bởi vì “các loại hình nghệ thuật khác không thể “trở thành” đối tượng của nó (ví dụ phê bình âm nhạc không thể “thành” âm nhạc)”(2), trong khi phê bình về tất cả các loại hình nghệ thuật, trong đó có cả văn học “ở một mức độ nhất định có thể trở thành văn học, tức là nghệ thuật ngôn từ”(3). Vì vậy, phê bình văn học trở thành một ngành của văn học, một nghề độc lập từng thu hút một đội ngũ đông đảo nhiều người tham gia. Chuyên nghiệp là gì? Một mặt, đó là người có chuyên môn sâu, có nhiều đóng góp về lĩnh vực mà anh ta hoạt động, mặt khác, anh ta phải kiếm sống được bằng chính cái nghề chuyên nghiệp đó. Ở nước ta, không ai kiếm sống bằng nghề làm phê bình văn học cả. Các ngành khoa học khác, các loại hình nghệ thuật khác, và ngay cả người sáng tác văn học, cũng có thể kiếm sống bằng chính cái nghề của mình, thậm chí, còn là cán bộ sáng tác có biên chế ở các cơ quan văn hóa văn nghệ và có thể sống bằng đồng lương. Còn nhà phê bình, chỉ là nghề làm thêm, làm tay trái. Danh không chính thì ngôn không thuận. Người làm phê bình, không thể hưởng lương để đi sáng tác được, điều đó, nếu trong thực tế có trường hợp nào như thế, đã thấy vô lý từ động thái, từ thao tác. Trong Lời dẫn cuốn Bình luận văn chương, Nguyễn Hữu Sơn cho rằng: “Tôi vẫn nghĩ trong thiên hạ vốn không có nhà phê bình chuyên nghiệp, không có sẵn nhà phê bình chuyên nghiệp”(4). Họ hầu hết vốn làm nhiều công việc chuyên môn khác nhau, tham gia công việc phê bình một cách tự nguyện xuất phát từ lòng mê đắm văn chương, viết nhiều, viết hay, viết giỏi, được xã hội thừa nhận (trong đó có cả việc được kết nạp vào các tổ chức văn học), được gọi một cách sang trọng là nhà phê bình, thế thôi. Đa phần họ là nhà giáo dạy văn, nhà nghiên cứu làm việc tại các viện nghiên cứu, nhà báo trông coi các chuyên mục phê bình, nhà biên tập ăn lương tại các nhà xuất bản, nhà lãnh đạo công tác văn hóa văn nghệ... Gần gũi nhất với công việc phê bình văn học, là các nhà nghiên cứu ở viện nghiên cứu văn học, công việc chính của họ là nghiên cứu văn học, chứ không phải phê bình văn học. Thực tế, lâu nay ở Viện Văn học, có các ban văn học cổ đại, cận đại, hiện đại, dân gian, nước ngoài, lý luận... chứ không hề có ban phê bình văn học. Ở các trường đại học cũng có các bộ môn tương tự, về lý thuyết có bộ môn lý luận văn học chứ không có bộ môn phê bình văn học.

Vậy là, từ trong đào tạo, đến hoạt động thực tiễn, và cả ở viện nghiên cứu đều không có chỗ cho phê bình văn học, làm chi có tính chuyên nghiệp trong phê bình? Ở các cơ quan trung ương đã thế, thì ở các địa phương hẳn cũng thế, và có khi còn kém cỏi hơn.

2.

Văn học là văn học, là của chung, không có địa phương và trung ương, nhưng lại có phê bình văn học tỉnh lẻ. Có văn học là có người thưởng thức, có sự khen, chê, bình giá, thẩm định. Nhưng đó chỉ là dạng phê bình sơ khai, có tính chất cảm tính, thù tạc, tâng bốc lẫn nhau, lời khen là lời tặng, chưa phải là khoa học về phê bình. Phê bình văn học xuất hiện với tư cách là một bộ môn khoa học trên cơ sở sự vận động thay đổi một thiết chế xã hội và trong quá trình đô thị hóa đời sống thị dân. “Từ thế kỷ XVII, nhất là từ thế kỷ XVIII, văn học trở thành một lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù, tương ứng với nó là sự hình thành những thiết chế xã hội của văn học (báo chí, xuất bản, công chúng, dư luận), là sự hình thành đời sống văn học với tư cách là một lĩnh vực đặc thù trong toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội. Phê bình văn học kiểu mới được phát triển trong bối cảnh đó của đời sống xã hội, với tư cách là một dạng thức và một bộ phận của dư luận xã hội”(5). Thậm chí, có thể chậm hơn, vào đầu thế kỷ XIX, khi công nghệ làm giấy, công nghệ in ấn hoàn thiện và phát triển, cùng với sự bứt phá mạnh mẽ của đời sống báo chí, phê bình văn học mới thực sự trở thành nhân tố tác động tích cực trong đời sống văn học: “Phê bình văn học theo nghĩa là hoạt động chuyên môn thì mãi đến đầu thế kỷ XIX, khi nhân loại đã bước vào thời đại mới, mới xuất hiện ở châu Âu. Đó là một loại hình sinh hoạt văn học gắn liền với văn hóa đô thị. Phê bình này ra đời trên cơ sở báo chí và xuất bản. Chính báo chí đã biến sách vở với tư cách là sản phẩm văn hóa, từ một thứ văn hóa quà tặng thành văn hóa hàng hóa”(6). Văn hóa giao tiếp nảy sinh ở đô thị lớn, gắn với nhu cầu thông tin dư luận xã hội, bao giờ cũng nhanh và mạnh hơn ở các tỉnh lẻ. Người đọc ở đô thị không chỉ là từng cá nhân riêng lẻ, một đám đông mà đã trở thành công chúng. Và, chính công chúng mới có nhu cầu dư luận và đẻ ra dư luận. Nhìn lại những tác phẩm mở đầu, có vóc dáng là những công trình đầu tiên cho khoa học văn học ở nước ta như Sự nghiệp và thơ văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) của Lê Thước (1890-1975), Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn (1907-1978) mở đầu cho phê bình văn học; Nữ lưu văn học sử (1929) của Lê Dư (1910-1967), Việt Nam cổ văn học sử (1941) của Nguyễn Đổng Chi (1915-1984) mở đầu cho lịch sử văn học; hoặc Khảo về tiểu thuyết (in báo từ 1922, in thành sách 1925) của Phạm Quỳnh (1892-1945) mở đầu cho lý luận văn học, đều ra đời ở các trung tâm. Nhưng “nhân loại hình thành nên không phải từ những cá nhân riêng lẻ, mà từ sự giao tiếp giữa họ với nhau”(7). Đó là sự tồn tại mang tính người. Sự giới hạn khó vượt qua của đời sống phê bình ở các tỉnh miền Trung so với hai trung tâm ở hai đầu đất nước, trước hết là ở sự hạn chế về giao lưu, họ, những nhà phê bình, hầu như chỉ là “những cá nhân riêng lẻ”, không có không khí làm việc, không khí học thuật. Thử nhìn vào đội ngũ những người làm phê bình văn học của hai mươi tỉnh, thành dọc theo dải đất miền Trung, tính không đủ trên mười đầu ngón tay: Đỗ Trí Dũng, Lê Hồ Quang, Hoàng Đăng Khoa, Hoàng Thụy Anh, Hồ Thế Hà, Trần Huyền Sâm, Bửu Nam; hoặc các nhà sáng tác, do sự thúc bách vì thiếu vắng đội ngũ phê bình, thỉnh thoảng đá lấn sân như Nguyễn Khắc Phê, Hồng Nhu, Ngô Minh, Mai Văn Hoan, Trần Thùy Mai, Lê Huỳnh Lâm, Phùng Tấn Đông, Thanh Thảo... Trong khi đó, nơi đây đã từng có một đội ngũ lý luận phê bình đông đảo, từ khi hình thành những bộ môn của khoa văn học cho đến xuyên suốt thế kỷ XX. Năm 2001, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã thực hiện một công trình dày hàng nghìn trang sách, Lý luận phê bình văn học miền Trung thế kỷ XX, tuyển mỗi người một bài viết, bao gồm 113 tác giả, trong đó có khoảng 20 người sáng tác có tham gia viết phê bình, còn lại, hơn 90 người chuyên viết nghiên cứu phê bình, trong đó có những người mở đầu cho phê bình văn học như Lê Thước, Trương Chính, Hoài Thanh; mở đầu cho lịch sử văn học như Lê Dư, Nguyễn Đổng Chi; hoặc những tên tuổi tỏa bóng che mát cả thế kỷ như Đặng Thai Mai, Hải Triều, Hoàng Xuân Nhị, Phan Ngọc, Lê Trí Viễn, Lê Đình Kỵ, Hoàng Trinh, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Hạnh, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Phương Lựu, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Q. Thắng, Lê Ngọc Trà... một đội ngũ ưu tú sừng sững như tường thành như vậy, hầu hết đều thành danh ở các trung tâm. Vậy, thử hỏi nơi các “ao làng” của miền Trung làm sao không thiếu vắng?

3.

Công chúng tiếp nhận phê bình hết sức hạn chế, ở các địa phương càng hạn chế hơn. Thực tế cho thấy, người thưởng thức tác phẩm sáng tác là công chúng rộng rãi, là đại chúng, không phân biệt tuổi tác, thành phần, tầng lớp xã hội, là tiếp nhận vĩ mô, còn người tiếp nhận tác phẩm phê bình là người đọc có chọn lọc, là tiếp nhận có tính chất vi mô, hầu hết chỉ gói gọn trong văn giới, mở rộng thêm, có thể có cả tầng lớp trí thức, những người hoạt động văn hóa. Một mặt, tác phẩm có đến được với đông đảo người đọc, mới kích thích sáng tạo; mặt khác, tác phẩm có được nhiều người tiêu thụ, với tư cách là một sản phẩm trong nền kinh tế thị trường, mới có thể nuôi sống người viết và tái sản xuất. Nhà sáng tác, thậm chí kể cả nhà nghiên cứu, có thể sống được bằng nhuận bút, nhưng nhà phê bình thì không. Thời buổi bây giờ, nếu không vì ân nghĩa hoặc một lý do tình cảm nào đó, không có nhà xuất bản nào bỏ tiền đầu tư cho sách phê bình văn học. Bên cạnh đó, nếu nhà phê bình tạm gác ý định đào sâu chuyên môn, cắt gọt bài viết thành các bài báo, thì cũng phải ở các trung tâm lớn mới nhiều tờ báo, có thị trường báo chí sôi động, có thể dễ dàng đăng tải, còn ở các địa phương, chỉ một hai tờ báo, lại kén chọn bài viết, nhằm “chủ yếu là phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương”. Một sáng tác, địa danh có thể phím chỉ và có thể in bất cứ đâu, nhưng phê bình thì không thể phím chỉ được.

Tôi có quá nhiều kỷ niệm với các tạp chí văn nghệ địa phương. Nhân mười năm ngày giổ Nguyễn Tuân, tôi viết bài gửi cho tạp chí địa phương, thì được trả lời ngay rằng: “Ông Nguyễn Tuân ít dính đến xứ Quảng, nên bài không thể dùng được, mong ông thông cảm!”. Tương tự, viết bài về Thiếu Sơn, về Trịnh Công Sơn gửi đến các tạp chí địa phương, đều nhận được câu trả lời giống nhau là ông đó chẳng hề dính dáng gì đến chúng tôi, hãy viết về những tác phẩm, tác giả ở địa phương, chúng tôi sẽ in ngay... Nhưng thử hỏi tác phẩm ở các địa phương có phải lúc nào cũng có sức thu hút người làm phê bình? Xin thật lòng thưa với các nhà quản lý, các ban biên tập tạp chí văn nghệ địa phương rằng, chúng ta nhân danh “phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương” để tự làm nhỏ mình lại, tự hạn chế tầm nhìn và nhu cầu thưởng thức của công chúng trong cái “ao làng” của mình, trong thời buổi thông tin giao lưu và hội nhập toàn thế giới là có tội với nhân dân. Trong các tạp chí địa phương, chỉ có Sông Hương tồn tại ba mươi năm qua, tuy có thăng trầm nhưng gần như không thay đổi tôn chỉ mục đích. Ngay từ những số đầu tiên, từ trong quan niệm của ban biên tập thời đó (Nguyễn Khoa Điềm làm Tổng Biên tập, Nguyễn Khắc Phê làm Phó Tổng Biên tập), đã tự cho mình cái quyền coi mình là tạp chí của cả nước, thậm chí của cả cộng đồng người Việt trên thế giới, họ không bao giờ có kiểu từ chối các bài “không dính đến địa phương”, mà chỉ từ chối một loại bài duy nhất là bài dở! Họ “phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương” bằng cách tạo điều kiện cho nhân dân thưởng thức những tinh hoa của cả nước và thế giới. Năm 2013, nhân kỷ niệm 30 năm thành lập tạp chí, ban biên tập có làm một tuyển tập lý luận phê bình 10 năm (vì trước đây đã làm tuyển nhân 20 năm), trong đó tuyển 33 bài viết của 36 tác giả, nhưng chỉ có 8 bài của 8 tác giả là người làm việc tại địa phương, còn lại là những cây đa cây đề gạo cội trong và ngoài nước như Hoàng Ngọc Hiến, Trần Đình Sử, Phong Lê, Nguyễn Văn Dân, Đặng Anh Đào, Phan Trọng Thưởng, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Đặng Tiến... Chính vì vậy, trải qua 30 năm với 7 đời tổng biên tập, Sông Hương đã tạo ra một dòng chảy văn hóa, trong đó có văn hóa báo chí, và quan trọng hơn, là đã làm giàu có thêm cho vùng đất văn hóa.

4.

Một vài kiến nghị về giải pháp, tất nhiên, cũng bằng góc nhìn ngoại vi, trước thực trạng “một đội ngũ phê bình như hiện nay là không đủ cả về số lượng lẫn chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu là “ý thức triết học của văn học”, là là yếu tố kích thích cho sự phát triển khỏe mạnh của nền văn học”(8), bởi những nhà phê bình thực thụ, có tên tuổi đã “lặng lẽ” rút vào làm nghiên cứu, phê bình xuất hiện trên báo chí hiện nay hầu hết là của các nhà báo, của các phóng viên văn nghệ, hoặc của các nhà sáng tác lấn sân. Phê bình là một bộ môn khoa học, là một nghề chuyên nghiệp, thì người làm phê bình phải có tri thức và tư chất riêng, không thể để tồn tại tình trạng đáng báo động “người người làm phê bình, nhà nhà làm phê bình” như nhà thơ (cũng có viết phê bình) Irasara đã cảnh báo(9). Hãy đánh thức lòng yêu nghề của những nhà phê bình thực thụ, tạo điều kiện cho nó mang tính chuyên nghiệp, các nhà quản lý, lãnh đạo phải “chủ động tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để cho mọi năng lực, năng khiếu, tư chất và sở trường của mỗi cá nhân có cơ sở phát huy”(10), cụ thể, theo tôi, phải tạo điều kiện tối đa cho người làm phê bình có cơ hội công bố tác phẩm, thông qua các giải pháp như:

- Cần phải có những đề tài, những công trình trọng điểm về phê bình. Lâu nay, khi nói đến đề tài khoa học các cấp đều nhằm đến các công trình nghiên cứu ở cấp độ lý thuyết, chứ chưa có công trình nào dành cho phê bình. Cần phải có các đề tài, các công trình dành cho phê bình, ở trung ương cũng như địa phương.

- Cần phải có một tạp chí dành cho phê bình văn học. Tạp chí Nghiên cứu văn học, ngay từ tên gọi đã không có chỗ cho phê bình văn học và trong thực tế vẫn dành cho mục tiêu nghiên cứu về văn học sử và lý luận văn học nhiều hơn. Tạp chí Lý luận phê bình văn học nghệ thuật của Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương mới ra đời gần đây cũng thực chất dành cho nghiên cứu, lý luận là chủ yếu, chưa thật sự quan tâm đến phê bình.

- Các tờ tạp chí văn nghệ địa phượng cần có một quan niệm cởi mở để tự nâng mình ngang tầm quốc gia và hội nhập quốc tế, nhằm tạo điều kiện cho độc giả địa phương có quyền được thụ hưởng những thành tựu thẩm mỹ, nắm được những thông tin về tình hình văn học trong và ngoài nước, qua đó tạo điều kiện cho người làm phê bình có cơ hội công bố tác phẩm.

Trên đây chỉ là những giải pháp có tính tạm thời và khả thi, theo tôi cần thực hiện để cứu vãn đời sống phê bình văn học, nhất là ở các địa phương.

P.P.P
(SH318/08-15)

-------------------
(1) Lê Đình Kỵ, Suy nghĩ về phê bình, in trong Lý luận phê bình văn học miền Trung thế kỷ XX, Nxb. Đà Nẵng 2001, tr.344.
(2), (3), (5) Lại Nguyên Ân, Từ điển văn học, Nxb. Thế giới 2004, tr. 1408.
(4) Nguyễn Hữu Sơn, Luận bình văn chương, Nxb. Văn học 2012, tr. 5.
(6) Đỗ Lai Thúy, Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy, Nxb. Hội Nhà văn 2011, tr.19.
(7) Georges Bataille, Văn học và cái Ác, (bản dịch của Ngân Xuyên), Nxb. Thế giới 2013, tr.302.
(8), (10) Phan Trọng Thưởng, Thẩm định các giá trị văn học, Nxb. Văn học 2013, tr. 60, 71.
(9) Inrasara, Phê bình văn học: hội chứng rên rỉ và đổ thừa, Tạp chí Sông Hương số 5.2012, tr.78.  







 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.

  • JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.