Phát triển đội ngũ trí thức ở Thừa Thiên Huế - NGUYỄN XUÂN HOA

09:26 17/04/2009
Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

Qua những biến động của thời cuộc, đặc biệt trong trận đụng đầu lịch sử giữa triều Nguyễn và thế lực thực dân xâm lược phương Tây, khi năng lực trí tuệ của tầng lớp vua quan cai trị không bắt kịp những tiến bộ của thời đại và khát vọng của nhân dân, không đủ sức bảo vệ được nền độc lập tự chủ của đất nước, kinh đô Huế bị rơi vào một thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng, đội ngũ sĩ phu trí thức ở Thừa Thiên Huế phân hóa thành nhiều mảng (chủ hòa-chủ chiến, hợp tác-từ quan). Một bộ phận trí thức ưu tú đã lựa chọn con đường từ bỏ vị thế được ưu đãi ở triều phủ để tham gia các phong trào Cần Vương, Văn Thân, Đông Du, Duy Tân, Quang Phục Hội,...

Trải qua những thời kỳ phát triển rồi phân hóa, có lúc suy thoái rồi phục hưng, nhưng trong nền tảng của nó, Thừa Thiên Huế vẫn là một trung tâm chính trị văn hoá sôi động, với một đội ngũ trí thức khá đa dạng, tiêu biểu cho năng lực trí tuệ một thời của đất nước, mà mãi đến sau nầy năm 1981 - ông A. M. Baw, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO khi đề cập về những giá trị truyền thống của cố đô Huế đã khẳng định:

“... Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc, mà còn là một cao điểm về tinh thần và là một trung tâm văn hoá sôi động.

Chính tại thành phố nầy, nơi mà những người dân đều nổi tiếng là bẩm sinh có một hồn thơ lai láng, nhạc cổ điển cũng như nhạc dân gian đã được phát triển. Quê hương của nhiều nghệ sĩ, trung tâm sáng tạo nghệ thuật sân khấu, cố đô Việt Nam cũng đã là một trung tâm hoạt động văn hoá và khoa học. Y học và thiên văn học đã có sự phát triển đặc biệt ở đây. Và uy tín của các nhà bác học, học giả đã từ lâu lan truyền xa thành phố” (Phát biểu ngày 25-11-1981 của Tổng Giám đốc UNESCO tại Hà Nội “Vì công cuộc bảo vệ, giữ gìn, tu sửa và tôn tạo di sản văn hoá của thành phố Huế” ).

Cách mạng Tháng Tám 1945 nổ ra ở Thừa Thiên Huế như triều dâng thác đổ, góp phần quan trọng cùng với cả nước làm sụp đổ triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam. Huế từ một kinh đô tàn lụi trở thành cố đô của một đất nước vừa đứng lên giành độc lập. Đội ngũ trí thức ở Thừa Thiên Huế trải qua các đợt vận động cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1944-1945 đã hình thành một lớp trí trức mới với những nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà khoa học trẻ, hợp cùng những sĩ phu yêu nước kỳ cựu, tạo thành một đội ngũ trí thức cách mạng, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của tầng lớp trí thức, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ nền độc lập còn non trẻ của đất nước, biến Huế trở thành một trung tâm chính trị văn hoá cách mạng sôi động của Việt Nam.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, trong thế trận của cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cách sinh”, đông đảo trí thức Huế đã có mặt trong các lực lượng đấu tranh vũ trang và hoạt động văn hoá kháng chiến. Trí thức là đội ngũ chủ lực tham gia xây dựng các cơ sở y tế, trạm xá, các trường học kháng chiến, các cơ xưởng sản xuất và sửa chữa vũ khí, các tờ báo “Giết Giặc” (1947), “Đánh Thắng” (1949), “Công Đoàn” (1949). “Chiến Đấu” (1950)... Một bộ phận trí thức từ Thừa Thiên Huế được điều động bổ sung cho trung ương và các tỉnh bạn, làm nòng cốt hình thành các trường trung học kháng chiến (Nguyễn Chí Diễu, Phan Đình Phùng...), đại học kháng chiến (Đại học Y, Đại học Sư phạm), các tổ chức Mặt trận Liên Việt và những hội đoàn cứu quốc.

Sau thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước còn tạm thời bị chia cắt, Thừa Thiên Huế trở thành vùng tiếp cận với khu vực giới tuyến tạm thời, chế độ Ngô Đình Diệm đã chủ trương biến Huế thành một trung tâm chính trị văn hoá giữ vai trò tiền đồn chống phá cách mạng và là sào huyệt đầu não của gia đình họ Ngô ở miền Trung. Một loạt các thiết chế quan trọng như Văn phòng Cố vấn chính trị của Tổng thống ở miền Trung, Tòa Đậi biểu Chính phủ và các Nha, Sở Trung nguyên Trung phần, Viện Đại học Huế,... được thành lập. Trong hoàn cảnh đối đầu trực tiếp với thế lực độc tài Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Cẩn, trí thức yêu nước ở Thừa Thiên Huế, dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng đã hình thành Phong trào Hòa Bình, xuất bản tập văn Ngày Mai để hướng dẫn dư luận, cổ vũ tình yêu quê hương đất nước, bày tỏ khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước.

Từ trong lòng Đại học Huế, trong đội ngũ trí thức nội thành, phong trào trí thức, sinh viên, học sinh yêu nước, có sự lãnh đạo của tổ chức cách mạng đã phát triển nhanh chóng, kết hợp với các phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào Phật giáo, của tiểu thương, công nhân, nhân dân lao động... trở thành ngòi pháo xung kích trong phong trào đô thị ở miền Nam, làm khởi phát các phong trào đấu tranh chống Mỹ- Diệm, chống ngụy quyền Sài Gòn, được ghi nhận như một sự kiện lịch sử trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Bằng nhiều hình thức đa dạng (hội thảo, diễn thuyết, viết báo, đêm không ngủ, hát cho đồng bào tôi nghe, bãi khóa, đình công, tuyệt thực, biểu tình, từ chức tập thể, kháng cáo, kháng nghị...) văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên Thừa Thiên Huế đã tham gia đấu tranh bảo vệ văn hoá dân tộc, chống văn hoá đồi trụy, chống quân sự hóa học đường, đòi Mỹ rút quân, đòi quyền tự quyết dân tộc, đấu tranh đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa hợp dân tộc. Từ phong trào trí thức yêu nước ở Thừa Thiên Huế đã hình thành một đội ngũ những người cầm bút trẻ với những tờ báo đấu tranh (Quật Khởi, Lực Lượng, Việt Nam, Sinh Viên Huế, Tự Quyết, Mặt Trận Hòa Bình, Lập Trường, Chiến Đấu, Việt Nam Việt Nam, Tranh Thủ, Tiếng Gọi Sinh Viên, Tiếng Gọi Việt Nam, Thái Hòa, áo Trắng, Đại Dân Tộc...), những tác phẩm thơ, nhạc, họa “tranh đấu” tiêu biểu cho dòng văn học đấu tranh đô thị, được khai sinh từ “trận địa đường phố” ở miền Nam trước năm 1975.

Trong vùng giải phóng, một đội ngũ trí thức được đào tạo từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tuy chưa nhiều, nhưng đã có mặt trong các tổ chức chính trị và lực lượng vũ trang, cùng với trí thức từ nội thành, chủ yếu là lực lượng sinh viên, giáo chức thoát ly tham gia kháng chiến, hình thành lớp văn nghệ sĩ, nhân sĩ trí thức hoạt động trong các cơ quan dân vận, tuyên huấn, các tổ chức văn nghệ, báo chí, với các tờ báo Giải Phóng, Cờ Giải Phóng, Vùng Lên, Cứu Lấy Quê Hương,... hình thành một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu cho dòng văn học vùng giải phóng Thừa Thiên Huế.

Bên cạnh lực lượng trí thức tham gia hoạt động cách mạng, trong hai cuộc kháng chiến, ở vùng bị tạm chiếm, trong vòng ảnh hưởng của những quan điểm chính trị từ phía các thế lực thống trị, cũng có một bộ phận trí thức mơ hồ, hoài nghi về cách mạng, thậm chí có những người đứng hẳn về phía chống phá cách mạng, đối lập với nhân dân. Nhưng phần đông trí thức Thừa Thiên Huế trong vùng bị tạm chiếm vẫn sống gần gũi với nhân dân, giữ tinh thần tự trọng, thái độ kẻ sĩ, biết hướng vọng về Tổ quốc, đồng bào, khi có điều kiện vẫn bày tỏ tinh thần ủng hộ độc lập, dân tộc. Một số trí thức vẫn miệt mài hoạt động đóng góp trên các lĩnh vực khoa học, giáo dục, văn hoá.

Trong nhiều biến thiên của lịch sử, Thừa Thiên Huế, mà trung tâm là thành phố Huế vẫn giữ được vị thế là một thành phố văn hoá, thành phố của trí thức và học trò, là một môi trường văn hoá tương đối lành mạnh đủ sức đề kháng với những ảnh hưởng của văn hoá thực dân mới độc hại đồi trụy, là không gian nuôi dưõng và là môi trường văn hoá thích hợp cho các hoạt động giáo dục đào tạo đại học, hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật, báo chí giàu bản sắc truyền thống của dân tộc nhưng vẫn có khả năng hội nhập với đời sống văn hoá của thời đại.

Sau ngày Thừa Thiên Huế và miền Nam hoàn toàn giải phóng, thành phố Huế là nơi hội ngộ của lớp trí thức, văn nghệ sĩ từ nhiều nguồn: Ngoài lực lượng trí thức tại chỗ và từ các vùng giải phóng trở về, một số trí thức khá đông từ Hà Nội và các trường Đại học phía Bắc chuyển về Huế, trí thức và văn nghệ sĩ từ Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Trị chuyển đến sau ngày hình thành tỉnh Bình-Trị - Thiên... đã tạo ra một sắc thái đa dạng. Sự tập hợp trí thức từ nhiều nguồn, chưa có quá trình tiếp cận, hòa nhập, trong một bối cảnh khó khăn đặc biệt của thời kỳ 1975-1978, với một mô hình hành chính (tỉnh Bình Trị Thiên) và mô hình kinh tế chưa phù hợp, sau một thời gian náo nức phấn khởi của thời kỳ đầu giải phóng, dần dần nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp về kinh tế xã hội nẩy sinh, trong đó đội ngũ trí thức ở Thừa Thiên Huế có những diễn biến theo chiều hướng tiêu cực: một số trí thức chuyển vào phía Nam, trở về Hà Nội, chuyển sang làm những nghề kiếm sống qua ngày, một số ít giao động nãn lòng, thậm chí tìm cách vượt biên, cá biệt có người tham gia hoạt động chống phá cách mạng. Đã có lúc có những nhận định Huế không còn là đất “tụ” của trí thức, ngược lại là đất “tán”. Vị thế của thành phố Huế, của Đại học Huế, của một trung tâm khoa học, giáo dục, trung tâm báo chí và sáng tạo văn hoá nghệ thuật tiêu biểu của miền Trung bị chao đảo, trên một số mặt lại tụt hậu xa so với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; yếu kém hơn một số tỉnh và thành phố tương cận.

Trong quá trình đổi mới, đặc biệt từ khi lập lại tỉnh Thừa Thiên Huế đến nay, tình hình đã có những chuyển biến tiến bộ. Những thành tựu của công cuộc đổi mới đang làm thay đổi bộ mặt kinh tế-xã hội. Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, trong thời kỳ tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng giao lưu quốc tế và hòa nhập với khu vực đang tạo ra môi trường thuận lợi cho người trí thức phát triển tài năng.

Đặc biệt vị thế trung tâm văn hoá du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo của Thừa Thiên Huế ngày càng được khẳng định. Sự kiện UNESCO công nhận di tích cố đô Huế, rồi Nh• nhạc cung đình Huế là di sản văn hoá nhân loại đã mở ra một thời cơ mới để Thừa Thiên Huế phát huy lợi thế so sánh. Đội ngũ trí thức trẻ ở khu vực Đại học Huế được tiếp tục bổ sung, năng lực trí tuệ của một bộ phận trí thức được nâng cao. Các thiết chế hoạt động khoa học, kinh tế, văn hoá, giáo dục, du lịch, đối ngoại được mở rộng, năng lực nghiên cứu, sáng tạo, thực hành khoa học của phần lớn trí thức được giải phóng khỏi những ràng buộc của cơ chế hành chính quan liêu cũ, nhiều yếu tố phát triển thuận lợi đang mở ra đối với trí thức ở Thừa Thiên Huế.

Đại học Huế qua thời kỳ củng cố đang tiếp tục phát triển theo mô hình Đại học khu vực, được trung ương xác định là trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, đa cấp, có chất lượng cao, là đầu mối giao lưu khoa học và văn hoá miền Trung, là một môi trường thuận lợi cho sinh hoạt của trí thức Huế.

Bệnh viện trung ương Huế là một trong ba bệnh viện lớn nhất nước, là Trung tâm y tế chuyên sâu ở miền Trung, có nhiều chuyên khoa chuyên sâu, là cơ sở thực hành, phối hợp đào tạo tất cả các chuyên khoa cho khu vực 14 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

Đội ngũ cán bộ văn hoá, văn nghệ sĩ, trí thức khoa học hoạt động trong các chuyên ngành văn hoá nghệ thuật, khoa học và công nghệ có bước phát triển mới.

Cơ cấu kinh tế Thừa Thiên Huế đang chuyển đổi theo hướng phát triển dịch vụ công nghiệp và nông nghiệp toàn diện. Trên địa bàn Thừa Thiên Huế đã hình thành được một hệ thống cơ sở công nghiệp, tuy chưa lớn, nhưng đã tạo ra một khối lượng hàng hóa có khả năng đứng được ở thị trường (Công ty Dệt Huế, Nhà máy bia Huế, Nhà máy Xi măng LuksVaxi, Nhà máy men Frit, Nhà máy thực phẩm Huế... ). Khu công nghiệp Phú Bài, Khu đô thị mới Chân Mây-Lăng Cô và một số tiểu khu công nghiệp làng nghề đang được triển khai. Hoạt động du lịch đã phát huy được lợi thế của một cố đô có di sản văn hoá thế giới, có các vùng du lịch cảnh quang sinh thái đa dạng. Thừa Thiên Huế ngày càng được khẳng định là một trung tâm du lịch quan trọng, một thành phố Festival của Việt Nam. Tiềm năng và cơ hội đầu tư vào thế kỷ XXI có triển vọng được khơi dậy và phát triển. Đây là môi trường thuận lợi để trí thức hoạt động, phát huy tài năng.

Vị thế của Huế với lợi thế so sánh là cố đô của Việt Nam, một vùng văn hoá mang đậm bản sắc truyền thống, nơi có di sản văn hoá thế giới, một trung tâm đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế chuyên sâu ở miền Trung... đang tạo ra những lợi thế về đối ngoại, giao lưu hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, tạo điều kiện cho trí thức Huế tiếp cận với những thông tin và tiến bộ mới của thế giới.

Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, Thừa Thiên Huế vẫn chưa thoát khỏi những khó khăn và một số hạn chế cơ bản. Nhìn tổng thể, đây còn là một tỉnh nghèo. Và quan trọng hơn, với nhiều khó khăn phải giải quyết, Thừa Thiên Huế chưa thực sự rũ bỏ được những ràng buộc cố hữu để chuyển mình, trở thành một tỉnh năng động, một vùng đất trọng hiền đ•i sĩ, có chính sách chăm chút ươm mầm nuôi dưỡng những tài năng của đất nước quê hương.

Và càng quan trọng hơn, đội ngũ trí thức Thừa Thiên Huế trước những khó khăn cụ thể của cuộc sống, phần đông chưa có điều kiện tự nhận thức lại mình để lựa chọn một hướng hoạt động nhằm phát triển tài năng của mình phù hợp với điều kiện đặc thù của Thừa Thiên Huế.

Trong bối cảnh đó, theo chúng tôi, nổi lên có mấy vấn đề cần phải lưu ý:

-Thừa Thiên Huế có ưu thế của một trung tâm văn hoá du lịch, nhưng lại thiếu thích ứng về hoạt động kinh tế, công nghệ, kỹ thuật, kể cả hoạt động kinh tế nhằm khai thác lợi thế văn hoá du lịch cũng thiếu năng động, hiệu quả không cao. Có một sức ỳ trong xu hướng hoạt động ở Thừa Thiên Huế, phần đông người dân làm việc cần cù nhưng ngại lao vào những lĩnh vực kinh doanh, đầu tư phát triển sản xuất. Thanh niên có xu hướng nghiêng về các lĩnh vực khoa học nhân văn, nhiều người muốn làm công chức bàn giấy hơn làm cán bộ kỹ thuật kinh doanh. Trí thức ở Thừa Thiên Huế cũng có xu hướng đi vào giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn, sáng tác văn học nghệ thuật nhiều hơn đi vào tổ chức ứng dụng công nghệ, tổ chức kinh doanh. Sở trường của trí thức Huế là tư duy sáng tạo và nghiên cứu cơ bản. Năng lực thực hành và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, tiến bộ quản lý không nổi trội. Các thiết chế giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học ở Huế cũng nặng về khoa học cơ bản, khoa học xã hội nhân văn, nhẹ về khoa học công nghệ, quản lý kinh tế tài chính... Đây là một hiện tượng mất cân đối mà nếu không có giải pháp điều chỉnh phù hợp thì dễ dẫn tới tình thế Thừa Thiên Huế mất dần vị trí của một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học có tính thời đại. Trí thức Thừa Thiên Huế khó giữ được ưu thế của đội ngũ tiêu biểu cho trí tuệ của thời đại mới. Ngược lại, dễ lún sâu vào tình huống những trí thức nghèo, sống an bần lạc đạo. Tầng lớp trí thức trẻ được đào tạo về các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật buộc phải xa quê, tìm đến những trung tâm phát triển kinh tế kỹ thuật, nhân tài sẽ hao hụt dần.

-Ngay trên lĩnh vực có ưu thế, nếu thiếu các chính sách phù hợp, Thừa Thiên Huế có khả năng sẽ chỉ là một trung tâm văn hoá truyền thống đặc sắc. Vai trò một trung tâm báo chí, trung tâm sáng tạo văn học nghệ thuật, trung tâm hoạt động âm nhạc, sân khấu sôi động, trung tâm đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học của miền Trung mà Huế đã từng nắm giữ hàng trăm năm, kể cả những năm chiến tranh ác liệt sẽ chuyển đến một vùng đất khác nếu ở đó có những điều kiện kinh tế thuận lợi và lãnh đạo địa phương có một quyết tâm cao để đầu tư phát triển văn hoá. Hiện tượng nói trên có những dấu hiệu đang chuyển động (?)

-Thừa Thiên Huế được cả nước thừa nhận là một trung tâm văn hoá du lịch quan trọng. Chúng ta đang phấn đấu để Thừa Thiên Huế thực sự là một trung tâm đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế chuyên sâu ở miền Trung... Nhưng về mặt chính sách, Thừa Thiên Huế chưa hoạch định rõ những chính sách cụ thể của một trung tâm văn hoá. Sau 30 năm giải phóng quê hương, chúng ta chưa có, dù trên trang giấy những thiết chế về một làng báo chí, văn nghệ sĩ, một trung tâm sinh hoạt văn hoá cho trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, v.v... thậm chí một chính sách khuyến khích để trí thức văn nghệ sĩ tự lo liệu về nhà ở nhằm an cư, có môi trường sinh hoạt thuận lợi theo đặc thù của nghề nghiệp. Đầu tư cho các công trình giáo dục, khoa học, văn hoá thường rất chậm, thiếu một quyết tâm cao.

-Về chính sách cán bộ, Thừa Thiên Huế chưa thật sự có một chính sách về bồi dưỡng lực lượng trí thức. Nhiều khuôn mặt trí thức, văn nghệ sĩ có tài ở Huế chưa được nhìn nhận, đối xử như những khuôn mặt trí thức tiêu biểu, dẫn đến tình thế Huế dần dần trống vắng những khuôn mặt có tầm trên các lĩnh vực khoa học, văn hoá nghệ thuật cấp quốc gia. Nhiều cơ chế khoa học của trung ương (ủy ban Biên tập Tự điển Bách khoa Toàn thư, các Hội đồng Khoa học chuyên ngành cấp quốc gia) không có khuôn mặt trí thức ở Thừa Thiên Huế, mà trong thực tế không phải Huế không có nhưng tự ta nhìn nhận, đánh giá chưa đúng. Mặt khác, những chính sách nhằm chuẩn bị đội ngũ trí thức trẻ chậm được xây dựng, Thừa Thiên Huế hoàn toàn thiếu chính sách khuyến khích, gây men cho trí thức trẻ đến với công nông, nhân dân lao động, đến với thực tiễn sản xuât... Đáng lo ngại là chính cách cán bộ chưa chuẩn xác trong một số lĩnh vực đã dẫn đến hiện tượng vô tình dung dưỡng sự yếu kém về mặt tri thức, làm cho giới trí thức e ngại, xa lánh, không tạo được uy tín để tập hợp lực lượng.

Đi liền với việc xây dựng thực lực của địa phương, Thừa Thiên Huế cần mở rộng các mối quan hệ hợp tác, liên kết với các tỉnh, thành phố trong khu vực và với cả nước, cần phát huy quan hệ Hà Nội-Huế-thành phố Hồ Chí Minh, quan hệ Bình Trị Thiên, Khu IV, quan hệ đối ngoại, kết nghĩa, hợp tác quốc tế để mở rộng tầm hoạt động và tạo thế hợp tác cho đội ngũ trí thức Thừa Thiên Huế. Mọi xu hướng khép kín đều bất lợi, trước hết là tự hạn chế sức mạnh của một trung tâm, nhất là trung tâm văn hoá.

“Đổi mới là sự nghiệp văn hoá và trí tuệ”, “Định hướng xã hội chủ nghĩa là văn hoá”. Những luận điểm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu ra trong tác phẩm “Văn hoá và Đổi mới” cũng như quan điểm của Ban chấp hành TW Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc xác định “Văn hoá là sự nghiệp của quần chúng, do Đảng lãnh đạo, trong đó trí thức giữ vai trò quan trọng” càng làm rõ vai trò của trí thức trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.

Là một trung tâm văn hoá, trung tâm đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học, vấn đề tạo điều kiện thuận lợi, hạn chế những khó khăn để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Thừa Thiên Huế càng là một vấn đề lớn, vấn đề xây dựng nguồn lực trí tuệ để phát triển đất nước, quê hương.

NGUYỄN XUÂN HOA
(201/11-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.

  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.