Phật giáo dấn thân phục vụ cộng đồng giữa đại dịch

14:46 18/12/2020

Cho đến nay, đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên toàn cầu, giải pháp phong tỏa kiểm soát lây lan dịch bệnh trong cộng đồng được áp dụng rộng rãi ở các quốc gia, đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và tinh thần của người dân, đặc biệt là các cộng đồng yếu thế nhiều nơi trên thế giới.

Các nhà sư và mạnh thường quân thuộc Hội Atish Dipankar (ADS) tặng quà cứu trợ đến người dân khó khăn tại Bangladesh

Trong thời gian qua, các tổ chức Phật giáo quốc tế với tinh thần nhập thế sâu sắc đã liên tục triển khai nhiều hoạt động thiết thực và ý nghĩa, giúp xoa dịu tinh thần và kịp thời hỗ trợ đời sống người dân trong cơn khốn khó do bệnh dịch.

Tây Tạng: Cộng đồng Phật giáo Tergar, Dự án 84000 giúp an định tinh thần người dân trong dịch bệnh

Các thành viên của Cộng đồng Thiền Phật giáo Tergar (do thầy Yongey Mingyur Rinpoche, truyền thống Phật giáo Nyingma thành lập) trong 11 tháng qua đã cùng nhau nỗ lực, loại giảm khổ đau thông qua các chương trình hành thiền tập thể, lan tỏa và thực hành giáo pháp của Đức Phật.
 
Những hoạt động mang tính cộng đồng này “giúp mọi người bình tĩnh, có cơ hội tu dưỡng lòng từ bi, nhận diện sự bất an và tách biệt trong thời gian chiến đấu với dịch bệnh một cách đầy đủ và tích cực”.
 
Lãnh đạo cộng đồng Phật giáo này đã tổ chức nhiều khóa tu trực tuyến, phát hành hàng loạt bài giảng và các video hướng dẫn thực hành thiền, trực tuyến các buổi pháp thoại,… với mục đích giúp đỡ mọi người vượt qua khó khăn hiện tại trên nền tảng trí tuệ và lòng từ bi của nhà Phật.
 
“Thiền tập là một thành tố quan trọng trong sự thực hành Phật giáo và là suối nguồn mang lại bình yên, trí tuệ, sự chuyển hóa cho vô số người trên thế giới từ hàng ngàn năm qua. Thiền tập giúp chúng ta đạt được sự bình yên nội tâm, định tĩnh và chấp nhận hoàn cảnh để vượt qua bất an và khủng hoảng tinh thần” - thầy Yongey Mingyur Rinpoche nhấn mạnh giá trị của thiền tập trong một video hướng dẫn hành thiền.
 
Mặt khác, đối diện với dịch bệnh, mỗi người nhận thức rõ ràng hơn về quy luật vô thường. Vị thầy này nhấn mạnh: Dù không ai nhắc nhở chúng ta về vô thường, mọi thứ vẫn liên tục thay đổi. Và mỗi cá nhân trải nghiệm sự thay đổi, biến chuyển trong từng ngày trôi qua. Điều chúng ta cần chính là sự tương trợ; cần có người bên cạnh, cùng bước đi với mình. Chúng ta cần bạn bè xung quanh giúp mình nhìn thấy sức mạnh và trí tuệ bên trong của bản thân để đối diện, xử lý đau khổ; cảm nghiệm sự vô định và dịch chuyển không ngừng của các pháp.
 
“Chúng ta có thể tự mình đi trên con đường của sự tỉnh thức nhưng thiếu tính tương quan trong cộng đồng, mỗi người có thể bỏ qua nhiều cơ hội học hỏi và phát triển, khuyến tấn nhau cùng tu học. Tình bạn, thời gian cùng trải nghiệm, đối thoại,… mang mọi người lại gần nhau hơn, giúp nhau tỉnh giác và hướng đến cuộc sống ý nghĩa, giảm bớt sợ hãi, lo lắng và sân giận trong mỗi người” - thông điệp từ Cộng đồng Thiền Tergar.
 
Trong khi đó, Dự án 84000 hướng đến việc chia sẻ tuệ tri và sức mạnh chữa lành của giáo lý Phật-đà với cộng đồng, thông qua chuỗi các bản thu âm những bài kinh được tuyển chọn từ kho tàng kinh điển Phật giáo Tây Tạng. Lắng đọng với các sản phẩm này, người nghe có thể tự mình chữa trị những tổn thương tinh thần, thúc đẩy trạng thái hạnh phúc.
 
84000 đã bắt đầu sản xuất và phát hành các “ấn phẩm số” trị liệu này từ tháng 6 năm nay. Các bản kinh thu âm bằng tiếng Tây Tạng và tiếng Anh được đọc tụng bởi các vị thầy Phật giáo Tây Tạng (Sakya Trichen, Garchen Rinpoche, Jigme Khyentse và Pema Wangyal Rinpoche).
 
Các bài kinh được tuyển chọn thu âm phù hợp với bối cảnh khủng hoảng hiện nay, có tiềm năng mang lại sự chữa lành, phục hồi trên nền tảng của trí tuệ và sự bình yên bên trong từ những lời dạy của Đức Phật. Đồng thời, thông qua các tác phẩm này, cộng đồng có thể tiếp cận Phật pháp ở mức độ sâu sắc hơn.
 
“Chúng tôi hy vọng những thanh âm này có thể truyền chuyển và lan tỏa lòng từ bi, cảm hứng sống tích cực; xoa dịu những ai đang cảm thấy khổ đau, khủng hoảng cũng như nhắc nhở mọi người về sự vô thường. Và trên hết, chúng tôi mong muốn chuỗi sản phẩm tâm linh này trở thành nguồn năng lượng phục hồi, mang lại cảm giác hạnh phúc và bình an trong cuộc chiến chống lại đại dịch nguy hiểm này” - theo 84000.
 
84000 là dự án Phật giáo phi lợi nhuận dài hơi, với mục tiêu biên dịch và phát hành toàn bộ hệ thống kinh điển Phật giáo từ cổ ngữ Tây Tạng sang các ngôn ngữ hiện đại. Dự án đặt ra kế hoạch biên dịch 70.000 trang kinh trong 25 năm và 161.800 trang luận Phật giáo trong 100 năm.
 
Các tổ chức Phật giáo tiếp tục hướng đến người yếu thế trong đại dịch Covid-19
 
Vừa qua, Tổ chức nhân đạo xã hội JTS Hàn Quốc (Join Together Society, Korea) do Thiền sư Pomnyun Sunim sáng lập, phối hợp với Mạng lưới Phật tử Nhập thế Quốc tế (INEB, trụ sở tại Thái Lan) đã phân phối số tiền cứu trợ 50.000 USD đến các cộng đồng đang bị ảnh hưởng và nhạy cảm với bệnh viêm đường hô hấp cấp tại khu vực Nam và Đông Nam Á.
Quỹ Kalyana Mitta (KMF) tặng thực phẩm và vật dụng phòng chống dịch tại tu viện Phaung Daw Oo (Mandalay, Myanmar)


Theo đó, các tổ chức này đã phân bổ nguồn tài trợ trên đến 12 tổ chức xã hội tại Bangladesh, Ấn Độ, Myanmar và Nepal - 4 quốc gia châu Á bị virus SARS-CoV-2 tấn công dữ dội trong thời gian qua. Nguồn tài chính này được sử dụng trong cung ứng thực phẩm và các vật dụng vệ sinh cho hơn 4.400 hộ gia đình (khoảng hơn 23.000 người) tại 94 khu vực ở các quốc gia nói trên.
 
Từ đầu năm nay, INEB đã vận hành và kêu gọi Quỹ cứu trợ khẩn cấp ứng phó với Covid-19 mang tên “Hành động Chánh niệm”, kịp thời hỗ trợ cho người dân nghèo khó nhiều nơi trên thế giới. Quỹ này phục vụ hoạt động tiếp tế khẩn cấp lương thực, thuốc men, vật dụng bảo hộ phòng chống dịch cho các cộng đồng nghèo khó khắp nơi trên thế giới.
 
Tại Bangladesh, nhiều người lao động thu nhập thấp phải đối diện với tình trạng khánh kiệt thực phẩm từ nhiều tháng qua. Các tổ chức phi lợi nhuận như Hội Atish Dipankar (ADS) và Parbatya Bouddha Mission (PBM) đã cung cấp nhu yếu phẩm (gạo, dầu ăn, muối và khoai tây), xà phòng rửa tay và khẩu trang y tế cho người dân khó khăn ở nước này.
 
Tính đến giữa tháng 11, theo ghi nhận của Chính phủ Ấn Độ, nhiều công nhân, người thu nhập thấp, người nhập cư lâm vào cảnh mất công ăn việc làm và buộc phải di chuyển về các miền quê với mức sinh hoạt phí thấp hơn. Vấn đề cấp thiết của nhóm đối tượng này chính là thực phẩm để duy trì sự sống. Một số người không có hộ khẩu địa phương không nhận được cứu trợ của Chính phủ; thậm chí việc đi đến các văn phòng cứu trợ quốc gia để xin hỗ trợ trong thời gian phong tỏa cũng là điều khó khăn. Tại nước này, hiện có 6 tổ chức từ thiện xã hội Phật giáo hoạt động rộng khắp, đảm bảo cung ứng thực phẩm và vật dụng bảo hộ phòng dịch cho các khu vực hẻo lánh.
 
Tại Myanmar, Quỹ Kalyana Mitta (KMF) cung cấp thông tin hướng dẫn phòng chống dịch bệnh; tặng xà phòng, dung dịch rửa tay diệt khuẩn, mùng tránh muỗi, áo mưa và sách cho thiếu nhi, thanh thiếu niên tại các trại tị nan. Tổ chức này cũng lắp đặt nhiều bồn rửa tay cơ động, tặng thực phẩm và vật dụng bảo hộ cá nhân tại tu viện Phaung Daw Oo (thị trấn Aungmyethazan, Mandalay).
 
Còn tại Nepal, công nhân và người sống ở các thị trấn nghèo cũng đối diện với nhiều thách thức khi nhà nước áp dụng chính sách phong tỏa phòng chống dịch bệnh từ nhiều tháng qua. Mật độ dân số cao và thiếu các giải pháp phòng bị hiệu quả khiến các thị trấn này tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm Covid-19 cao. Các tình nguyện viên từ Bikalpa và Quỹ Chokgyur Lingpa đã liên tục hỗ trợ thực phẩm và chia sẻ với các phụ nữ cô thế trong dịch bệnh tại nhiều vùng của nước này.

Theo Trần Trọng Hiếu - GNO
 
 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.

  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.