Chỉ cần nhìn làn da bất chấp tuổi tác của những người phụ nữ trong gia đình này, bạn sẽ thấy bí quyết làm đẹp từ hoàng cung mà họ được truyền lại qua mấy đời thực sự diệu kỳ đến thế nào. Đó là bí mật để làm ra những viên phấn nụ, dưới công thức của các ngự y triều Nguyễn, chỉ dành cho những giai nhân ở chốn cấm cung.
Những viên phấn mang hình hài nụ hoa được tạo ra từ tinh hoa của đất trời chính là bí mật làm đẹp của các giai nhân đã đi vào sử sách Việt Nam: thái hậu Từ Dũ, Nam Phương hoàng hậu, thứ phi Mộng Điệp…
Mọi công thức chế biến mỹ phẩm hoàng cung luôn được giữ kín, từ cách pha chế cho đến tô vẽ sao cho gương mặt đẹp nhất. Mỗi loại mỹ phẩm được giao cho một thị nữ tin cẩn phụ trách pha chế, sản xuất và truyền từ đời này sang đời khác. Vì vậy, rất nhiều bí mật đã theo các cung nữ ra đi. Thật may mắn khi có một loại mỹ phẩm hoàng cung đã được truyền đến tận hôm nay nhờ biến cố lịch sử, khi triều đại nhà Nguyễn cáo chung, các cung nữ được về lại với đời thường. Đó là phấn nụ - loại “phấn Annam” khiến nhiều phụ nữ nước ngoài phải tò mò tìm mua cho bằng được vì nghe truyền miệng về bí mật làm đẹp của nhiều giai nhân triều Nguyễn. Cung nữ giữ bí mật làm phấn nụ tiếp tục làm ra loại mỹ phẩm này để bán. Sau này, bà truyền lại cho con gái là Trần Thị Thiểu (còn gọi là bà Hường, theo tên chồng). Bà Hường lại tiếp tục truyền cho hai cô con gái là Trần Thị Tùng và Trần Thị Phương. Bà Tùng nay đã ở tuổi 80 và sống ở Mỹ cùng con cháu. Vì vậy, truyền nhân hiện tại giữ bí quyết tiếp tục làm ra loại mỹ phẩm quý giá này chính là bà Trần Thị Phương và cô con gái của bà: Nguyễn Phương Khanh sẽ là thế hệ tiếp nối. Phương Khanh đã mang đến cho loại phấn vốn chỉ là bí mật truyền miệng này hơi thở của nhịp sống hiện đại khi chuẩn bị những bước quan trọng để Phấn nụ Hoàng Cung trở thành thương hiệu mỹ phẩm quốc gia, như người Nhật tự hào với Shiseido, người Hàn tự hào với Ohui, Whoo hay Sulwhasoo…
Nhìn những gì họ đang làm và gìn giữ mới thấy, để có được những viên phấn nụ, không đơn giản chút nào. Đó là sự kết hợp của cao lanh hảo hạng và hơn mười vị thuốc Bắc, hòa trộn cùng nước mưa Huế và trải qua các công đoạn ủ sương, phơi nắng cho âm dương hài hòa. Mỗi lần làm phấn, bà Phương và cô con gái đã được làm quen với công việc này từ năm sáu tuổi đều phải về Huế, ở trong phủ của gia đình từ một đến ba tháng, tập trung toàn bộ sức lực và tâm huyết không khác gì những ngày đầu được giao trọng trách này, cũng như giữ một lời thề. Chỉ có những hạt mưa dầm xứ Huế, được hứng từ trời và lắng lại cho trong; chỉ có nguồn thảo dược do những gia đình trước đây được hoàng cung giao nhiệm vụ trồng trọt để cung cấp làm phấn nụ, vẫn được truyền lại qua mấy đời cho đến hôm nay; và chỉ có khí hậu của xứ Huế mới đảm bảo những yêu cầu để làm ra loại phấn không thay đổi về chất lượng hàng trăm năm qua.
Chính vì những điều này mà Phấn nụ Hoàng Cung không đơn thuần là loại mỹ phẩm dưỡng da hay trang điểm mà còn là viên phấn đi cùng lịch sử, mang theo tinh hoa làm đẹp của một triều đại phong kiến.
Theo dep.com.vn
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.