Phan Khôi, người đa tài

14:33 07/10/2014

Tiếp sau Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh..., đến lượt Phan Khôi được mở hội thảo khoa học tại quê hương Quảng Nam hôm qua 6.10, đúng 127 năm ngày sinh của ông, để vinh danh một con người đa tài.

Phan Khôi (người đội nón) chụp chung với Tố Hữu (bìa phải), Văn Cao (bìa trái) và Tú Mỡ tại Việt Bắc - Ảnh: gia đình cung cấp

Người “gây sự”

GS Nguyễn Đăng Mạnh gọi Phan Khôi là người có cảm hứng “gây sự”. Cùng với đặc điểm chỉ nói lý không nói tình, bác học mà bình dân, hài hước châm biếm..., yếu tố “gây sự” đó đã làm nên một phong cách nghị luận, bút chiến độc đáo.

Những công bố gần đây của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân về di sản Phan Khôi càng làm sáng rõ hơn tầm vóc của “người gây sự”, người sở hữu di sản đồ sộ gồm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, khảo cứu, lý luận, phê bình văn hóa, văn học, dịch thuật... chứ không chỉ “đóng khung” ở hoạt động báo chí. Hơn 50 tham luận gửi đến hội thảo Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa dân tộc do Sở VH-TT-DL và Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật tỉnh Quảng Nam tổ chức sáng qua 6.10, trong đó có 19 ý kiến trình bày, phát biểu trực tiếp tại hội trường, đã phác họa một Phan Khôi đa tài. Sự nghiệp học thuật của ông gây kinh ngạc ở hàng loạt lĩnh vực: nhà báo, nhà tư tưởng, người yêu quý lịch sử nước nhà, nhà ngữ học, nhà Trung Hoa học, nhà khoa học... Riêng lĩnh vực văn chương, ông tung hoành trên các mảng: phê bình (giai đoạn 1918 - 1941), sáng tác thơ (khởi xướng phong trào Thơ mới), văn xuôi (viết truyện bằng Hán văn, viết tiểu thuyết Quốc ngữ...), tiểu phẩm, hồi ký, dịch giả (dịch tác phẩm của Tư Mã Thiên, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, dịch Kinh Thánh...).

Nhà giáo Phạm Phú Phong, Đại học Khoa học Huế, bình luận: Không phải ngẫu nhiên mà người Quảng có câu “lý sự quá Phan Khôi”. Và cũng không phải tình cờ mà Phan Khôi có biệt hiệu Tú Sơn, theo tiếng Pháp Tout Seul là “Cô độc”, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng. Thống kê trước đó của nhà nghiên cứu văn học Thanh Lãng cho thấy, trong 10 cuộc tranh luận trên văn đàn giai đoạn 1930 - 1945 thì Phan Khôi khởi xướng hoặc tham gia đến 5 vụ, với những vụ đình đám như Nho giáo, Quốc học, Truyện Kiều, Duy tâm - duy vật... Tính khí và bản lĩnh đó đã hun đúc nên phẩm chất của một trong những người tiêu biểu cho “Quảng Nam hay cãi”.

Những phát hiện mới

Lâu nay, bài thơ Tình già của Phan Khôi cùng bài viết giới thiệu Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ được cho là đăng tải trên tờ tuần báo Phụ nữ tân văn số 122 (ra ngày 10.3.1932). Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, bài Tình già đã in sớm hơn. Cụ thể, bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ được Phan Khôi đưa in trước tiên trong Tập văn mùa xuân (phụ trương của Báo Đông tây ở Hà Nội), ra mắt vào dịp Tết Nhâm Thân 1932. Sau đó chừng hơn một tháng, ở Sài Gòn, bài báo nói trên của Phan Khôi mới được đăng lại ở tuần báo Phụ nữ tân văn; bản đăng lại này bị kiểm duyệt bỏ mất trên 100 từ so với bản đăng lần đầu.

Nhà nghiên cứu Phan An Sa khá quyết liệt khi đề nghị xóa “án oan” về Phan Khôi, liên quan đến dịch thuật. Chuyện là, Phan Khôi dịch chữ pomme de terre (khoai tây) thành "khoai nhạc ngựa" trong truyện Một ông vua nước Cộng hòa, với chú thích rằng ông tránh chữ khoai tây vì chữ Hán gọi pomme de terre là mã - linh - thự. Nhưng lối dịch cắc cớ ấy do ông “cố ý”, như từng dịch chữ dinde (gà mái tây) thành "gà bừu". Tất cả chỉ để phản kháng thói quen hay sửa những chữ tiếng Tây, tiếng Tàu (sửa thuốc tây thành tân dược, chè tàu thành chè Trung Quốc...), nhưng viết bài phản đối thì các báo không chịu đăng. Vì thế, ông mượn chuyện dịch này để biểu lộ ý bực mình và mai mỉa chứ không phải “dịch lẩm cẩm” như một độc giả phê bình nặng nề. Những tư liệu này, nhà nghiên cứu Phan An Sa tìm thấy ở 2 mẩu ngắn lần lượt đăng trên tuần báo Cứu Quốc (Hà Nội) các số 2772 (ngày 5.8.1956) và số 2774 (ngày 19.8.1956).

Từ bước “khởi động” ở khía cạnh văn hóa dân tộc lần này, nhiều vấn đề khác liên quan đến lịch sử của nhân vật Phan Khôi sẽ được hé mở dần. Nhà sử học Dương Trung Quốc, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử VN (đồng chủ trì hội thảo), khẳng định: Đây là bước tiến đáng khích lệ để tiếp tục làm rõ hơn những khúc ngoặt cũng như những đóng góp đối với nước nhà trong cuộc đời cụ. “Văn hóa là nền tảng, người có đóng góp vào văn hóa dân tộc thì không lý gì không yêu nước, không có những đóng góp ưu việt cho nước nhà. Sau hội thảo về văn hóa, chúng tôi thiết nghĩ cần phải có một hội thảo về Phan Khôi - một nhân vật lịch sử”.

 

Sẽ mở “hội thảo toàn diện”

Nhà sử học Dương Trung Quốc cũng kiến nghị tỉnh Quảng Nam cần quan tâm bảo tồn, phát huy những di sản liên quan đến Phan Khôi, tập hợp những dữ liệu để cùng các nhà chuyên môn xây dựng bộ toàn tập về Phan Khôi đầu tiên, kể cả việc đặt tên đường Phan Khôi tại Quảng Nam (hiện TP.Đà Nẵng đã thực hiện). Hội Khoa học lịch sử VN dự kiến mở hội thảo về Phan Khôi với phạm vi nghiên cứu toàn diện hơn vào năm 2017 tại Hà Nội, nhân dịp 130 năm ngày sinh Phan Khôi.

Ông Nguyễn Chín, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, nhận xét hội thảo lần này đã góp phần đánh giá về những đóng góp của Phan Khôi trên lĩnh vực văn hóa dân tộc, giúp có thêm nhiều tư liệu quý và đánh giá khoa học có giá trị cao, toàn diện...

 

Ý kiến

“Phan Khôi là hiện tượng “kép”, có cả hoạt động sáng tác và phê bình, vừa mở đường vừa là chứng nhân, vừa khai phá vừa thúc đẩy, vừa là người anh hùng vừa đi ca ngợi người anh hùng, để lại những dấu ấn sắc nét trên dặm dài lịch sử phong trào Thơ mới 1932 - 1945”.

PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn, Viện Văn học Việt Nam

“Ở góc độ một người bình dân, với chúng tôi, ông Phan Khôi là một người tự do, đủ đầy khí phách của một nhà trí thức, một nhà văn hóa. Cần nói nhiều hơn nữa về khí phách của một nhà văn hóa ở Phan Khôi”.

GS Nguyễn Đăng Hưng

“Với tư cách một nhà báo, Phan Khôi đã để lại một sự nghiệp viết đồ sộ, không chỉ ở nội dung viết, mà còn ở cách viết. (...) Ông không chạy theo việc mô tả sự kiện, mà chỉ chú ý đến những vấn đề xã hội hoặc văn hóa đằng sau sự kiện đó”.

Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy

 

Phan Khôi (1887 - 1959) quê làng Bảo An, xã Điện Quang, H.Điện Bàn (Quảng Nam), xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là phó bảng Phan Trân, Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa) nhưng sau đó treo ấn từ quan về quê dạy học vì sự lộng hành của công sứ Pháp; mẹ là bà Hoàng Thị Lệ, con gái Tổng đốc Hoàng Diệu. Năm 1905, Phan Khôi tham gia các phong trào Duy tân, Đông du. Trong phong trào kháng thuế năm 1908, ông bị thực dân Pháp bắt và giam tại Quảng Nam đến năm 1914. Ra tù, ông hoạt động trên lĩnh vực báo chí và văn học ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội...

 

 
Ảnh: T.L

Nguồn: Hứa Xuyên Huỳnh - TNO

 

 


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN QUANG HÀNgồi đọc NGÀN NĂM SAU mà như đang ngồi nói chuyện tay đôi với Nguyễn Trọng Bính. Giọng thơ anh cũng cứ chân chất, yêu quê hương và say đời như chính con người anh. Từ thời chiến tranh, chúng tôi đã ở trong rừng với nhau. Cứ ngồi với nhau là bộc bạch hết. Một lá thư riêng, một rung động mới, chúng tôi cũng chia sẻ với nhau.

  • PHAN THÀNH MINHĐó cũng là tựa đề tập thơ rất dễ thương của Trần Tịnh Yên - nhà thơ của đất kinh kỳ thơ mộng thuở nào - thú thật  là tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tập thơ này do chính  tác giả gởi tặng, dễ thương ở chỗ khổ giấy nhỏ nhắn, trình bày đẹp trang nhã, sách 80 trang với 46 bài thơ cũng mỏng mảnh như thế nhưng nhìn rất thơ, càng thơ hơn nữa khi chính tác giả tự viết lời phi lộ cho mình, tôi rất hợp với anh ở điểm này bởi lẽ chẳng ai có thể thay thế cho mình bằng mình để nói hộ những gì mình muốn nói...:...năm xưa qua ngõ sân đìnhcó người nhặt được mối tình ai rơi

  • NAM NGỌC            (Về tập truyện ngắn mới nhất của nhà văn Võ Thị Xuân Hà do Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Phụ nữ xuất bản và phát hành quý I năm 2009)Tập truyện gồm 14 truyện  ngắn, với những mô típ khác nhau nhưng cùng chung gam màu thấm đẫm chất liệu hiện thực. Tất cả đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất mà ở đó các nhân vật dù xấu dù tốt cũng đều hướng tới cái đẹp, cái nhân bản của con người. Cách viết truyện lạ cùng với những chi tiết, tình tiết được lắp ghép một cách khéo léo, Võ Thị Xuân Hà đã một lần nữa gây ngạc nhiên cho người đọc bằng bút pháp ẩn không gian đa chiều của mình.

  • BÍCH THUHơn một thập niên trước đây, với hai truyện ngắn Hồi ức của một binh nhì và Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã đoạt giải cao trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992 - 1994. Tôi còn nhớ một trong số các nhà phê bình đã thành danh của nhà số 4 Lý Nam Đế không kìm được cảm xúc của mình với chùm truyện dự thi của Nguyễn Thế Tường lúc ấy đã thốt lên: “Tôi thích truyện ngắn Nguyễn Thế Tường”. Từ đó đến nay, Nguyễn Thế Tường vẫn miệt mài viết và lặng lẽ ra sách. Người đàn bà không hoá đá là lần ra mắt thứ năm của anh.

  • HOÀNG VŨ THUẬT                (Đọc “Trăng đợi trước thềm”, thơ Hải Bằng, NXB Thuận Hoá - 1987)Đổi mới là trách nhiệm vừa là bổn phận đang diễn ra sôi động trong đời sống văn học hôm nay. Nhưng ranh giới giữa cũ và mới không dễ dàng phân định khi đánh giá một tác phẩm văn chương nghệ thuật.

  • ĐINH NAM KHƯƠNG               (Nhân đọc “ru em ru tôi” Thơ Trương Vĩnh Tuấn NXB: Hội nhà văn - 2003)Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo văn nghệ. Nhưng chẳng bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao:                          “...Hình như hắn là nhà quê                          Hình như hắn từ quê ra...”                                                                (Gốc)

  • NGÔ MINHKhông thể đếm là tập thơ đầu tay của cây bút nữ Nguyễn Thị Thái người Huế, sống ở thành phố Buôn Ma Thuột vừa được NXB Thuận Hóa ấn hành. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ với tâm trạng phấn khích. Tập thơ có nhiều bài thơ hay, có nhiều câu thơ và thi ảnh lạ làm phấn chấn người đọc.

  • MINH KHÔICuối tháng bảy vừa qua, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Wayne S.Karlin và nữ phóng viên Valerie, công tác ở một Đài phát thanh thuộc bang Maryland, Mỹ đã đến Huế tìm thăm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, để chuyển cho chị bản hợp đồng in ấn và phát hành tập thơ Green Rice (Cốm Non) do cơ quan xuất bản gửi từ Mỹ sang.

  • FRED MARCHANTCó những vết thương chẳng thể nào lành lặn và có những nỗi đau chẳng bao giờ mất đi. Kinh nghiệm nhân loại khuyên ta không nên “chấp nhận” hay “bỏ đi” hay “vượt lên” chúng. Với một con người mà tâm hồn thương tổn vì đã làm cho người khác khổ đau hay chứng kiến nhiều nỗi đau khổ thì những câu nói như thế hoàn toàn vô nghĩa.

  • BÍCH THU          (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.

  • ĐÔNG HÀVăn hoá và văn học bao giờ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể thấy rằng văn học là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự ảnh hưởng của văn hoá. Khi soi vào một thời kì văn học, người đọc có thể thấy được những khía cạnh về phương diện đời sống văn hoá tinh thần của một thời đại, một giai đoạn của xã hội loài người.

  • HÀ KHÁNH LINHViết được một câu thơ hay có khi phải chiêm nghiệm cả một đời người, hoàn thành một tập truyện, một tập thơ là sự chắt chiu miệt mài suốt cả quá trình, sau Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VII Lê Khánh Mai liên tiếp trình làng tập thơ "Đẹp buồn và trong suốt như gương" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và "Nết" tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Đà Nẵng).

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCó người làm thơ dễ dàng như suối nguồn tuôn chảy không bao giờ vơi cạn. Có người làm thơ khó khăn như đàn bà vượt cạn trong cơn đau sinh nở. Có người không đầy cảm xúc cũng làm được ra thơ. Có người cảm xúc dâng tràn mà trước thơ ngồi cắn bút. Thơ hay, thơ dở, thơ dở dở ương ương tràn ngập chợ thơ như trên trời dưới đất chỉ có thơ. Thơ nhiều đến ngạt thở chứ thơ chẳng còn tự nhiên như hơi thở mà ta vẫn hoài vọng một thời.

  • THẠCH QUỲSuốt đời cần mẫn với công việc, luôn mang tấm lòng canh cánh với thơ, vì thế, ngoài tập “Giọng Nghệ” in riêng và bao lần in chung, nay Ngô Đức Tiến lại cho ra tập thơ này.

  • Trong đội ngũ những người hoạt động văn nghệ tại Thừa Thiên Huế, bên cạnh các Hội chuyên ngành trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (như Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Âm nhạc…) có một tổ chức gọi là “Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên Huế”(CHNV).

  • Hà Khánh Linh xuất thân trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở Huế. Tên khai sinh của chị là Nguyễn Khoa Như Ý. Năm 20 tuổi, đang học dở dự bị đại học Khoa Học Sài Gòn thì chị quyết định bỏ học để gia nhập quân Giải phóng. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu chị đã từng đi dạy, làm phóng viên Đài phát thanh Giải phóng, Đài phát thanh Bình Trị Thiên, làm biên tập, Thư ký Tòa soạn rồi Phó tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Chị quen biết và giao tiếp khá rộng từ các vị quan chức đến các vị đại đức, linh mục, trí thức... cùng những năm tháng gian khổ ở chiến trường Trị Thiên, những chuyến đi thực tế ở Căm pu chia... đã giúp chị có một vốn sống hết sức phong phú.

  • Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên bên bờ sông Kiến Giang thơ mộng. Nhưng tuổi thơ của chị chứa đầy buồn đau và nước mắt: Mẹ không có cửa nhà/  Em đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa? Nỗi tuyệt vọng cứ ám ảnh suốt cả tuổi thơ của chị. Trong một bài thơ đầu tay chị viết: Tuổi thơ tôi như ráng chiều đỏ lựng/ Hắt máu xuống dòng sông đen.

  • Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi chị đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng (1975). Tốt nghiệp vào loại xuất sắc, chị được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở trường đại học Sư phạm Huế. Dạy ở trường đại học Sư phạm Huế được một vài năm, chị chuyển sang làm công tác biên tập ở nhà xuất bản Thuận Hóa. Đây là một quyết định khá táo bạo và sáng suốt. Làm việc ở nhà xuất bản, chị có điều kiện viết lách hơn.

  • LÊ HUỲNH LÂM                 (Đọc Viết bên Hộ Thành hào - thơ Nguyên Quân -, Nxb Thuận Hoá, 2009)Giữa những đổ nát hoang tàn quá khứ và hiện tại, khi mà thang giá trị bị đảo lộn, những mảnh vỡ đang vung vãi mọi nơi, tác giả lại tìm đến Hộ Thành hào để nhìn ngắm cõi lòng đang hỗn hênh mọi thứ và như chợt nhận ra niềm hy vọng mỏng mảnh, anh đã Viết bên Hộ Thành hào.

  • HOÀNG DIỆP LẠCBất chợt giữa một ngày mưa gió, nhìn những hạt nước toé lên từ mặt đất như những đoá hoa mưa. Một loài hoa của ảo giác. Có thể trong tâm trạng như vậy, Lê Tấn Quỳnh chợt hỏi:Hoa vông vangCó hay không