NGUYỄN ĐỨC TÙNG
(Gởi Hoàng Thị Hạnh)
Ảnh: internet
Thơ Phạm Thiên Thư là thơ để ngâm, để hát lên, là chanson poétique.
Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng
Tu sĩ Phật giáo nhưng vẫn nhắc đến Chúa; đó là tinh thần tự do của Phạm Thiên Thư. Nhiều người cho rằng thơ ông được phổ biến là nhờ những ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc, hoặc vì ông là thi sĩ thiền sư, những cái ấy đều có thể đúng cả, nhưng thơ không hay thì không ai nhớ.
Vậy phải có hai thứ: văn bản và những mối liên hệ ngoài văn bản. Nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận xét thú vị rằng câu “rằng xưa có gã từ quan” là câu thơ được nhớ đến nhiều nhất. Điều đó quả nhiên đúng, nhưng có lẽ vì nó được phổ nhạc, và là câu mở đầu của bài hát. Nếu Phạm Duy chọn câu khác, ví dụ câu thứ nhất của tập thơ Động hoa vàng “Mười con nhạn trắng về tha”, thì biết đâu câu ấy lại nổi tiếng hơn, mấy ai nhớ “rằng xưa có gã từ quan”.
Bạn nói vậy hóa ra câu “rằng xưa” ấy không có giá trị gì? Cũng không phải thế. Đó là câu nghe qua cũng tầm thường, nhưng với lối nói hư từ, lửng lơ nổi tiếng của người Việt, nó gợi ra nhiều thứ. Nó mở ra, mông lung. Bùi Giáng có nhiều câu như vậy. Tác phẩm thành công là thứ trời cho, không phải cố là được, phải đúng thời điểm ấy, mở đúng cánh cửa ấy. Mà một cánh cửa chỉ có một người mở. Nhưng trước hết nó phải kết tụ tiếng nói của dân tộc, như một thứ “tổng kết thời đại”. Ở miền Nam thời ấy, ai mà không thấy cảnh nữ sinh áo dài tha thướt ùa ra cổng giờ tan trường, thế mà phải đến Phạm Thiên Thư, thơ mới bật ra bốn chữ:
Em tan trường về
Cũng một trường hợp khác, ví dụ, Nguyễn Tất Nhiên, với:
Có còn hơn không
Mà ông thường có những câu như thế. Đây là một câu khác:
Thôi thì thôi nhé
Chẳng có nghĩa gì lắm. Toàn hư từ. Nhưng trong lần đọc đầu tiên, năm mười mấy tuổi, tôi nhớ liền. Ngay những bài thơ hoài niệm nhất cũng biết lay gọi, đặt câu hỏi. Trong thơ Phạm Thiên Thư, những câu hỏi ấy kín đáo, xa vời, lãng đãng, nhưng ám ảnh.
Có ngần ấy thôi
Tất nhiên là từ câu Kiều:
Ái ân ta có ngần này mà thôi
Nhưng tám chữ ấy tuy hay thì hay thật, Nguyễn Du mà không hay?, lại rõ ràng quá, cay đắng quá. Cắt ra bốn chữ thì thành mơ hồ. Cái gì ngắn cũng mơ hồ. Chỉ có một chữ thần tình phải giữ lại, chữ ngần. Chữ ấy được ông dùng tới vài lần nữa. Phạm Thiên Thư cũng láy ca dao:
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng
Động tác leo trèo là quan trọng nhất, trèo lên cây bưởi hái hoa, chứ không phải chữ, vậy nên thi sĩ đổi phắt chữ trèo trong ca dao thành leo, miễn sao nó hợp vần. Một câu thơ hay không bao giờ để chúng ta yên. Nó đánh thức người ta như tiếng chuông. Đang ngủ, nó dựng bạn dậy. Ủa, tiếng chuông văng vẳng đâu vậy kìa?
Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Có bạn còn tưởng mình đang ở Tô Châu, gần chùa Hàn San.
Thì ra sự nối kết của loài người lớn hơn nỗi cô đơn của họ.
Bài thơ đầu tiên của Phạm Thiên Thư là bài tôi vừa nhắc, bài “Vết chim bay”:
Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân in
Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm
Mười năm anh qua đó
Còn vẫn dấu chân chim
Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm
Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ
Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông
Anh khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa
Ngày xưa em qua đây
Cho tình anh chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bậc thềm rêu
Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay!
Nhịp năm chữ. Bài này được Cung Tiến phổ nhạc, hình như trước Phạm Duy với “Ngày xưa Hoàng Thị”, nhịp bốn chữ. Nếu là bài thơ đầu tiên thì cũng hợp lý, vì ngôn ngữ mộc mạc, không tài hoa như bài kia. Tuy vậy đã lộ ra bút pháp riêng trong những câu như:
Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Những chữ như “vô lượng” hay “giả tướng” của nhà Phật lần đầu được đưa vào thơ, mà đưa tài tình. Nghệ thuật của Phạm Thiên Thư nhấn mạnh ở sự lặp lại. Âm nhạc là lặp lại, hay trùng điệp. Trong một bài thơ ngắn, chữ chim xuất hiện năm lần, chữ chuông bốn lần. Trùng điệp (repetition) là thứ dễ nhất mà cũng khó nhất trong nghệ thuật tu từ.
Bên cạnh nhạc điệu, thơ Phạm Thiên Thư có hình ảnh đẹp, nhưng mang tính tượng trưng. Chẳng hạn, hoa trong thơ ông, hoa đào, hoa lan, hoa vàng, cũng nhiều như hoa trong Thơ mới, như Chế Lan Viên, nhưng chúng hiện hữu như biểu tượng: nhà thơ không mô tả một bông hoa cụ thể; chúng xuất hiện như cái phông (background) hay như một đại diện, gây ra các liên kết. Con người khác nhau, cô đơn, nhưng đó chỉ là những quan sát bề mặt, vì từ trong sâu xa, họ chỉ là một.
Lần lưng còn một hạt đào
Quyết đem hạt nọ ương vào vườn kia.
Nguyện sau cây lớn xum xuê
Bên đường cho khách đi về nghỉ ngơi.
Nguyện xin trái thẫm hoa tươi
Lợi riêng nhưng để người người hưởng chung.
Bốn câu trên là thơ, hai câu dưới là kệ. Nhờ sự liên kết trong không gian mà chúng ta có thế giới, nhờ sự liên kết trong thời gian mà chúng ta có lịch sử. Mối quan hệ giữa tính nghệ thuật và tính thông điệp không phải dễ giải quyết. Trước hết bài thơ phải được bạn yêu mến, sau đó nó mới có thể làm bạn thay đổi. Thơ lục bát là loại thơ có vần tạo ra những hệ tọa độ, người đọc có thể đóng vai người viết và ngược lại: không có sự khác biệt lắm giữa sáng tạo và thưởng thức. Trong những nghi lễ và phong tục, con người trở lại với nhạc điệu, với thơ, vì vậy mà có hai chữ thơ ca, làm sống lại tình yêu đối với cuộc sống. Thơ Phạm Thiên Thư, cũng như nhiều nhà thơ ở miền Nam thời ấy, sử dụng nhiều thơ có vần. Thực ra, về hình thức, như thế là cũ. Chim chóc, suối, hoa, rừng, cũng là những hình ảnh không có gì mới, nhiều thi nhân đã nói, nhưng đến Phạm Thiên Thư chúng trở thành thiêng liêng.
Lớn lên giữa núi xanh rì
Cỏ hoa như thể tứ chi cận kề
Ẩn dụ là liên kết hình ảnh có tính linh cảm giữa hai sự vật, là hoạt động của vô thức, bạn không biết tại sao, có những mạch ngầm bên dưới bạn không hiểu được, nhưng những mạch ngầm ấy được chia sẻ bởi nhiều người. Phép ẩn dụ vừa phải mới lạ, gây ngạc nhiên, nhưng cũng phải chừng mực, dễ hiểu. Không những “động hoa vàng” là câu chuyện về “gã” bỏ quan trường về với thiên nhiên, mà còn là hình ảnh của con người bơ vơ đi tìm nguồn cội. Ẩn dụ của Phạm Thiên Thư lớn, đẹp, hòa hợp với tâm thức của người Việt, trong một xã hội loạn lạc.
Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn
Dáng ai cắp rổ lên cồn hái dâu
Tiếng nàng hát vọng đôi câu
Dừng tay viết mướn lòng sầu vẩn vơ
Lều tranh còn ủ chăn mơ
Mối tình là một bài thơ vô đề
Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề
Gió Xuân nay có vỗ về suối hương
Đêm nao ngồi học bên tường
Nến leo lét lụi, chữ vương vắt chìm
(Đoạn trường vô thanh)
Thơ tình không tạo ra bất kỳ một niềm hy vọng giả dối nào: hầu hết chúng đều buồn. Vì hầu hết tình yêu sẽ thất bại. Nhưng đó là sự thất bại quyến rũ. Con người chấp nhận sự thất bại trước số phận nhưng không bỏ cuộc, mà vẫn suốt đời săn đuổi ý nghĩa của tồn tại, ý nghĩa của tình yêu, của đau khổ. Chủ đề thường xuyên của Phạm Thiên Thư là mối quan hệ giữa tình yêu và cái chết, cuộc sống và sự lụi tàn.
Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhòa mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?
Chủ nghĩa lãng mạn vẫn còn là khuynh hướng của thơ miền Nam thời kỳ Phạm Thiên Thư. Trong khi ở ngoài Bắc cùng thời nó đã bị thay thế bởi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì trong Nam sau một thời gian lùi bước, có sự quay trở lại của phong cách cổ điển, mà Phạm Thiên Thư là tiêu biểu. Nhưng tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư pha màu siêu thực, là những thử nghiệm: tình yêu tuổi học trò ở một người đã qua giai đoạn ấy, tình yêu trần tục ở một thiền sư, tình yêu của cổ nhân trong con người hiện đại. Đó là tình trạng hưng cảm kèm với lo âu, lo âu về bản thân mình và về đối tượng hướng tới, bề ngoài gần gũi với thiền, mà bên trong là sự trinh bạch đầy lo lắng. Thực ra:
anh trao vội vàng
chùm hoa mới nở
là những câu thơ phi thời gian. Không còn cũ hay mới. Cũng như:
nhưng mỗi năm mỗi vắng
người thuê viết nay đâu
(Vũ Đình Liên)
Nhiều nhà thơ đương đại tránh xa sự xúc cảm. Kể ra cũng phải, thế giới ngày nay đòi hỏi một cách biểu hiện khác cho những tình cảm mới mẻ, giữa những người sống không quá khứ, không lý tưởng, quay đảo trong cơn lốc của chủ nghĩa tiêu thụ, ngày càng xa nguồn cội như lá lìa cành. Trong hoàn cảnh ấy, Phạm Thiên Thư gần như là người đại diện cuối cùng của một không khí tiền chiến kéo dài. Kỳ lạ thay, ngay trong chiến tranh, cận kề cái chết, con người có thể sống đẹp như huyễn mộng. Có một cố gắng phối hợp giữa các ý tưởng luân lý hay triết học và sự giản dị có tính thơ ca, nhưng không phải khi nào Phạm Thiên Thư cũng thành công và đạt đến sự hài hòa.
Con ơi con ngủ cho lành
Chắt chiu nguyện ước gửi vành trăng non
Mẹ nghèo còn tấm lòng son
Giờ gieo câu đố, con tròn mộng sau
Thẳng gì hơn những thân cau
Mềm gì hơn những dây trầu leo quanh
(2009)
Tuy vậy, mười bài Đạo ca của ông là một thành tựu xuất sắc, được Phạm Duy phổ nhạc, và nghe nói Thái Thanh thích hát nhất.
Xưa em là kiếp chim
Chết mục trên đường nhỏ
Anh làm cội băng mai
Để tang em, chờ mấy thuở
Xưa em là chữ biếc
Nằm giữa lòng cuốn kinh
Anh là thiền sư buồn
Ngồi tụng dưới ánh trăng
Tình cảm tác giả chất phác, mà ngôn ngữ thì không.
Cái chết không chỉ là sự chấm dứt đời sống mà còn là khởi đầu của một thứ thời gian khác. Chúng ta đến đó, gần bờ vực, biết rằng bên kia mọi việc đã thay đổi, có người than khóc, cầu nguyện, có người kể chuyện, hát những bài hát. Bài “Em đi lễ chùa” của Phạm Thiên Thư là một trong những bài thơ hay nói về cái chết. Hình như người kể là một tu sĩ trẻ, và nhân vật nữ là có thật. Nó nhắc tôi nhớ đến bài của Huyền Kiêu:
Hạ đỏ có chàng tới hỏi
Em thơ chị đẹp em đâu
Chị tôi hoa trắng cài đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội
Tất cả sức nặng của tình yêu, chiều sâu của cái đẹp, sự tiếc nuối, lòng thương xót, quyện vào nhau. Bài thơ là lời ai điếu cho người ra đi, nhưng cũng là tiếng cầu kinh, giúp một linh hồn sớm về cõi khác. Về đâu?
Sao ta biền biệt chưa về
Lưng đồi sim tím bốn bề chim ca
Joseph Huỳnh Văn viết trong tập Động hoa vàng: “tìm về cái muôn thuở- muôn nơi cũng có nghĩa là không về đâu cả, nên trong thơ, người thi sĩ biết rõ điều nghịch lý đó, hiểu rằng chỉ còn có cách về, chỉ còn có những lời đẹp cho giấc mộng không bến bờ. Những chữ tìm tới giấc mộng không bến bờ không ràng buộc thường có vẻ đẹp hững hờ đạm bạc.”
Thơ Phạm Thiên Thư thực ra có những chữ cũ, sáo, chứa một thứ triết lý đạo Phật bình dân; mà ông cũng không cố tỏ ra là bậc chân tu biết nhiều hiểu rộng. Sự việc một thiền sư làm thơ tình và thơ hay đã gây dư luận sôi nổi một thời. Sau Phạm Thiên Thư, hiện tượng ấy cũng không lặp lại. Thơ ông là một thứ thơ thiền nổi loạn. Câu thơ mở đầu của tập “Động hoa vàng” trong đoạn đánh số một:
Mười con nhạn trắng về tha
Như lai thường tụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm
Thơ thiền mà tình tứ, không những tình tứ mà nhục thể, gợi tình, táo bạo. Độc giả lúc nào cũng thích ăn trái cấm. Thơ ông lừng danh một phần vì vậy. Nguyễn Du từng dạy: tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng vị thiền sư này làm ngược lại, ông kết hợp hai thứ. Nhưng ta cần nhớ rằng những tài năng thực sự bao giờ cũng cao hơn dư luận. Trong khi tác giả nói về giấc mơ trở lại thì cũng nói về tình yêu, và trong khi nói về tình dục cũng nói về tính nguyên thủy của tạo vật.
Đoạn trường
Sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ nay là hạt châu
Đây là “Đoạn trường vô thanh”, ra đời năm 1972, được tặng giải thưởng văn chương toàn quốc 1973. Tác giả viết tiếp “Đoạn trường tân thanh”, như một tri âm đến sau mấy trăm năm. Mê Kiều đến thế là cùng. Năm 1992, Phạm Thiên Thư viết mấy dòng sau: “Một đêm nằm mơ, ở đất Tân Bình - gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên - Tự nghĩ mặt mày mỗi ngày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách nay trên hai mươi năm - đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng... Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy - Nay thêm đôi dòng tạ tội. 21/4/1992”.
Non Hồng núi Tản chim ca
Sông Hà sông Cửu la đà dòng xuôi
Núi sông chiếu diện tinh khôi
Ngọc lên mặt biển, vàng trôi mạch rừng
Mừng Người Trời Đất tưng bừng
Ruộng Lam trâu kéo một vừng long lanh
Những câu thơ cuối nhắc lại niềm mơ ước của thi sĩ: đất nước hòa bình, xã hội thanh bình, thiên hạ thái bình. Phạm Thiên Thư viết rất nhiều thơ trong một giai đoạn ngắn, những năm bảy mươi, điều này làm người đọc khó theo dõi. Tôi liệt kê lại cho những bạn quan tâm:
- Động hoa vàng (1970)
- Hội hoa đàm (1971)
- Đạo ca (1972)
- Đoạn trường vô thanh (1972)
- Suối nguồn vi diệu - Kinh thơ (1973)
- Ngày xưa người tình (1974), trong đó có các bài Ngày xưa Hoàng Thị và Em lễ chùa này.
- Trại hoa đỉnh đồi (1975)
- Những lời thược dược (2007)
- Hát ru Việt sử thi (2009)
Sau năm 1975 ông ít xuất hiện, thế hệ sau chỉ biết đến ông qua vài ca khúc được Phạm Duy phổ nhạc. Đối với nhiều người khác, thơ ông quá nhiều cảm xúc, trong khi thời đại ngày trở nên khách quan, hài hước. Thế giới của ông là một thế giới đẫm vị thiền, phảng phất tình yêu thơ mộng, sầu muộn nhưng không thảm khốc. Tôi nhớ tập thơ “Động hoa vàng” khổ nhỏ màu vàng trong sáng, do một người bạn gái tặng, có in lời của Thích Minh Châu và bức vẽ bìa sau minh họa thiền sư Phạm Thiên Thư thật đẹp.
Thời thế thay đổi, chàng thi sĩ của Hoàng Thị cởi áo cà sa hoàn tục; người yêu thơ không mấy khi thấy nữa. Điều đó chứng tỏ thơ Phạm Thiên Thư cũng như nhạc Phạm Duy là một thứ kỳ hoa dị thảo chỉ nở trong một giai đoạn khi những giấc mơ được phép sống lại, các thế giới được phép giao thoa. Thực ra Phạm Thiên Thư cũng có cố gắng viết theo yêu cầu mới, nhưng không được chú ý mấy. Tôi thấy tiêu biểu là mấy bài như sau đây:
Trong lòng đất thâm sâu
Thốt một nhành thược dược
Đóa hoa như giọt nước
Lóng lánh hồn thiên thâu
Từng cánh hồng đan nhau
Xòe những lời bất tận
Lòng đất già lận đận
Ướp thơm những chùm hoa
Hoa nhiệm mầu trong ta
Đất nhiệm mầu trong nụ
Cây dương cầm vũ trụ
Đất góp khúc tình ca
Thược dược hồng môi hát
Gió tơ trời bay đi
Cây đàn tình xanh ngát
Mười ngón đời vân vi
Ai biết đất nói chi
Trong những lời thược dược
Đóa hoa như giọt nước
Lóng lánh hồn thiên thâu
Trên môi nàng ca sĩ
Những cánh tình bay mau
(Những lời thược dược 19/12/1988)
Mai em ra trường
Đi xa dạy học
Hứa dạy trẻ đọc
Trang sử đấu tranh
Của dân tộc mình
Miệng cô xinh xinh
Giảng về cách mạng
Và trên vầng trán
Ngời ánh quang vinh
Em đem bình minh
Về từng mắt trẻ
Anh tưởng tượng thôi
Đã rưng nghẹn lệ
Yêu em vô kể
Cô giáo ngày mai
Con đường tương lai
(Ngày mai) (1)
Thơ như thế thì cũng chưa phải là cách mạng lắm. Có lẽ Phạm Thiên Thư giống như những trí thức miền Nam trước, ngây thơ, thánh thiện, cũ. Không khí lãng mạn đã chết, một vài nhà văn vẫn viết nhưng Phạm Thiên Thư gần như đã xong, dù có xuất bản vài tuyển tập khác, và có lần xuất hiện bên cạnh Phạm Duy, trong một chương trình sân khấu đặc biệt. Vậy, thơ giúp người ta sống cuộc đời mình như thế nào?
Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời
Bài thơ tựa như người được đánh thức, giây phút bừng sáng chiếu rọi khắp trang giấy. Bất chấp những ý niệm cũ, những chữ đã được dùng nhiều lần, trở nên mòn sáo, sự quyến rũ của Phạm Thiên Thư vẫn còn đó. Ông nhiều lần nhắc đến hình ảnh từ quan:
này mộng ảo trả về mộng ảo
khăn gói lên, treo ấn từ quan
Một bài thơ hay có thể làm chúng ta thao thức, trở đi trở lại, tự hỏi, đặt chúng ta vào dòng chảy của đời sống. Thơ giải phóng con người khỏi thế giới đầy tin tức, những ứng dụng hữu ích, ở đó con người đầu hàng các phương tiện, trở thành một phần của các phương tiện ấy. Thơ đi ra từ nhịp điệu vũ trụ, bốn mùa, nhịp điệu cơ thể. Thơ làm cho những kinh nghiệm riêng tư chốc lát trở nên có thể hiểu được và tái lập được. Tái lập là điều quan trọng trong các thí nghiệm khoa học và cũng quan trọng không kém đối với nghệ thuật. Một bài thơ hay mang lại cảm giác tương tự, dù bạn đọc ở đâu, lúc nào. Thơ mang chúng ta vượt qua ranh giới giữa hữu thức và vô thức, giữa quá khứ và hiện tại, giữa người nói và người nghe.
Đầu mùa Xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này - vườn nắng tung bay
Và ngàn lau - vàng màu khép nép
Bãi sông bay - một con bướm đẹp
Cái chết là ngưỡng cửa, ranh giới, không những cho người chết mà còn cho người sống. Người sống mới là nạn nhân của cái chết: những kẻ thương tiếc. Kẻ thương tiếc nhận ra cái bóng của sự chết, như nhìn thấy vực thẳm, nhìn thấy chia lìa, đoán trước được nó, và sự tiên đoán ấy làm họ lo âu, khốn khổ.
Trời cuối thu rồi em ở đâu
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu
(Đinh Hùng)
Thơ Phạm Thiên Thư khác hơn thế, cũng dẫn người đọc đi qua sự mất mát, đi qua cái chết ấy, nhưng hồi tưởng mà không sợ hãi. Đó là thơ của sự đau buồn sâu xa nhưng dịu dàng, sự kháng cự kín đáo trước số phận. Nhà thơ mang lại hình ảnh luân chuyển của sự sống và cái chết, của hạnh phúc và đứt gãy, như nhịp vũ trụ. Sự lặp lại của các chữ trong thơ khi nói về cái chết chính là sự lặp lại của mùa.
Tàn mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa - trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa - tơ óng như mây
Bài thơ này của Phạm Thiên Thư có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông.
Cho đến khi nào chúng ta chấp nhận nó, cái chết, chấp nhận thua cuộc, chúng ta chịu lìa bỏ hạnh phúc tạm bợ trần gian, lúc ấy mới có thể có thức tỉnh. Tuy là một thiền sư, Phạm Thiên Thư không nhắc nhiều đến các lý thuyết Phật giáo, và về mặt này, ông hồn nhiên. Nếu có ý thức làm một tu sĩ, ông sẽ có những câu thơ nặng rao giảng, khuyên nhủ, cũng như trường hợp các thiền sư khác. Nhưng thơ không phải là tiếng nói của triết học. Khác với một số nhà thơ đi trước, ông không đẩy tình cảm của mình, yêu ghét, hạnh phúc, đau khổ, lên đến cực điểm. Không có những câu ca ngợi diễm ảo:
Anh nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
(Nguyên Sa)
Thơ Phạm Thiên Thư không nặng về nhục thể như Bích Khê, không thần bí như Đinh Hùng, không đau đớn như Du Tử Lê, không bất cần như Nguyễn Tất Nhiên. Đó là sự cân bằng giữa thực và ảo, giữa hiện thực và siêu thực, một thứ chủ nghĩa lãng mạn hiện đại. Trong một vài năm ngắn ngủi, Phạm Thiên Thư trung thành với tình yêu của mình, câu chuyện đời mình, hay câu chuyện của người khác mà ông chứng kiến. Nhưng có khi ông càng viết, người đẹp của ông càng trở thành một thánh nữ:
Khép mắt ta nhìn em
Thấy hình hài diễm lệ
Đứng trên ngàn sóng bể
Trấn át ngàn phong ba
Hình ảnh ấy hơi thiếu thuyết phục. Tôi e rằng nàng thơ (Muse) của các thi nhân không thích cái gì quá siêu phàm, chỉ thích bay la đà mặt đất chăng?
Bốn chủ đề trong thơ Phạm Thiên Thư: tình yêu, đạo pháp, cái chết và thời gian, thiên nhiên và giấc mơ thái bình. Ngôn ngữ Việt trong thơ ông trở lại với sự trong sáng của thơ có vần, gần với ca dao, đôi khi như lời hát ru, đôi khi như sự thức tỉnh. Một thứ chủ nghĩa sinh thái nguyên sơ, gần với tôn giáo nguyên thủy.
nền chợ xưa giờ họp lách lau
hỏi cô hàng xén giạt về đâu
đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc
tụ giữa nền hoang nhóm lửa sầu
(Đom đóm)
Tình yêu dưới mái hiên chùa là sự táo bạo vừa phải, cũng thách thức xã hội nhưng được dư luận chấp nhận, vì hình như đó chỉ là thứ tình hư ảo. Việc dùng nhiều điển tích hoặc giai thoại là một đặc điểm thú vị.
Ván cờ bày trắng bông đào
Sao lên núi thẳm trăng vào chén không.
Thiên nhiên có mặt thường trực. Dù viết về đề tài gì, thơ ông cũng được đặt vào phong cảnh, cây cối, chim chóc, đất trời, bằng một ngôn ngữ tượng trưng. Không thấy rõ trong thơ các ý thức về xã hội, chính trị, thậm chí chiến tranh cũng chỉ hiện ra thấp thoáng. Thế nhưng niềm mơ ước đối với hòa bình ở ông thật lớn. Có ba khái niệm khác nhau: hòa bình là để phân biệt với chiến tranh, không có chiến tranh tức là hòa bình, không có hòa bình tức là chiến tranh. Thanh bình tất nhiên phải có hòa bình nhưng là một tình trạng tốt đẹp hơn, không có xáo trộn. Nhưng thái bình mới là tình trạng lý tưởng, ngày xưa được hiểu như thời thịnh trị, chính quyền liêm chính, trí thức trong sạch, người dân sống tự do, vui vẻ, lành mạnh. Thơ ông là niềm ao ước về một xã hội thái bình như vậy, lời kêu gọi trở về nguồn cội, đi tìm cái vĩnh viễn trong sự chuyển dời, là lời cầu nguyện dành cho tình yêu trẻ trung đôi lứa. Kết thúc trường thi “Động hoa vàng”, tác giả nói lại giấc mơ của mình lần nữa, giấc mơ về non nước cũ.
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca
Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Phạm Thiên Thư là một trường hợp đặc biệt, không lặp lại. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính, di chuyển giữa những trầm tư, giấc mộng, độc thoại và đối thoại, ngôn ngữ ấy giản dị nhưng không chất phác, vần điệu cũ nhưng ý tứ thoáng đãng, tác động đến người đọc trong mênh mông các liên kết liên văn bản. Người đọc hôm nay nhớ đến thơ ông vì đó là suối nguồn ngôn ngữ trong lành tắm mát tình yêu của họ. Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn tiền chiến là cái tôi cô độc lẻ loi, với trục tọa độ một chiều, thời gian qua đi không trở lại. Lòng yêu đời là sự khao khát vội vã, tiếc nuối vì thời gian vụt mất, chóng mặt:
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
(Xuân Diệu)
Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn mới như trường hợp Phạm Thiên Thư là cái tôi trở lại với thời gian như những chu kỳ, có sinh có diệt, có được có mất, trong lẽ tuần hoàn vũ trụ. Thấy được như thế nên thi nhân tiếc nuối mà không đau đớn, yêu thương mà không vội vã. Đối với cái chết, cái mất mát, những bi kịch con người, câu trả lời của đạo, của thơ là trở về với uyên nguyên. Nhà thơ có lần tâm sự: “Trước khi viết, tôi ăn chay, nhập thiền, cầu nguyện và viết. Tôi không nghĩ đó là thứ ngôn ngữ của mình mà cảm giác có một phép mê dụ, ảnh tượng vô hình nào đó dụ dẫn. Khi tĩnh tâm đọc lại từng trang thơ, tôi không nghĩ là mình có thể viết được như vậy”. Nhờ những điều kiện xã hội thời ấy, đầu những năm bảy mươi thế kỷ trước, Phạm Thiên Thư đã viết được một loại thơ phi chính trị, phi lịch sử, “như có một phép mê dụ”. Cõi thơ bát ngát của ông đặt trong bối cảnh loạn lạc đã là một thứ siêu thực.
Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha
Nhà thơ tìm ra tiếng nói của mình trong tự do, tìm thấy căn nhà của mình trong chính ngôn ngữ thơ ca mà ông sáng tạo. Mất ngôn ngữ ấy, mất căn nhà ấy, ông không còn là ông nữa.
Ông chuyển qua làm nghề hốt thuốc chữa bệnh.
Ngày xưa có tục con cầu
Khẩn xin Trời Phật cho đầu thai nhi
Lòng thành như ngọc lưu ly
Làm lành lánh dữ suốt kỳ mang thai
Phạm Thiên Thư chưa bao giờ tỏ ra có ý định làm mới nghệ thuật. Mặc dù trong một cuộc phỏng vấn đâu đó, thi sĩ có ngụ ý rằng ông vào chùa là để trốn quân dịch, và quả thật sau 75 đã hoàn tục, nhưng thơ ông thấm đẫm sâu sắc vị đạo hương thiền. Dòng thơ ấy mở rộng cánh cửa cho mọi người bằng ngôn ngữ nhiều giao tiếp, chính xác, đẹp. Người đọc không phân vân suy nghĩ. Đó là loại thơ giả tưởng rằng người đọc và kẻ sáng tạo cùng trong một truyền thống văn hóa. Nhân vật và tác giả đổi chỗ cho nhau. Đừng quên rằng thơ viết trong thời kỳ lửa đạn, vì vậy đó còn là cảm giác thanh bình tạm bợ, giữa sự đứt gãy của chủ nghĩa hiện đại, sự phân rã xã hội, vết thương tình tự dân tộc. Còn lâu Phạm Thiên Thư mới tới gần chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng hoàn cảnh của một xã hội dịch chuyển mang lại cho thơ ông tính chất vô trung tâm, rời rạc, không cố định, gần như vô mục đích.
Thơ hôm nay đã đi xa hơn thời của Phạm Thiên Thư, tất nhiên, vì thời đại thay đổi, đa dạng hơn, mặc dù thế người đọc sẽ còn nhớ đến ông, nghe nhạc phổ thơ ông, đọc lại đôi khi, vì họ tìm thấy ở đó dấu vết của một đời sống khác, ngôi nhà của một tâm thái khác, không phải chỉ nhớ tiếc mà còn là tham chiếu cho những giá trị hiện tại. Chúng ta chứng kiến sự trở lại trong thơ Việt ngày càng rõ cái tôi trữ tình sau một thời kỳ dài vắng mặt trước các hồi ký, tiểu thuyết, trường ca, thơ phản ảnh hiện thực nông cạn, lời kêu gọi; cái tôi này sẽ làm nên giọng điệu chính của thơ hôm nay, và không phải là không có một mối liên hệ ngấm ngầm nhưng sâu sắc giữa nó và thơ thời kỳ những năm sáu mươi bảy mươi ở miền Nam. Sau mỗi khúc quanh, thơ hình thành một dòng chảy mới, mang theo nó những yếu tố nhận được từ gia tài quá khứ. Việc nhớ lại Phạm Thiên Thư chỉ bằng một vài ca khúc là điều đáng tiếc, người đọc thơ cần đọc ông nhiều hơn, một trong những nhà thơ quan trọng của nền văn học chiến tranh mà ở ngoài chiến tranh. Thơ Phạm Thiên Thư không mới, mà có lẽ ông không có ý định làm mới, nhưng trước ông và sau ông, chẳng ai viết thế. So với nhiều người cùng thời, những thành tựu của ông khó nắm bắt, khi xã hội miền Nam thời đó phải đối diện với những vấn đề lớn, chiến tranh, hỗn loạn. Đó là tiếng hót của loài chim quý, tiếng hót ngắn ngủi, cuối cùng, ngân lên trong những ngày cuối, vì vậy mà buồn đau, ngọt ngào, thương xót. Cùng thời với Phạm Thiên Thư là Du Tử Lê; cả hai đều viết thơ tình.
Thơ Phạm Thiên Thư đầy lòng tri ân đối với đời sống. Nhớ lại tức là sống, quên đi tức là kết thúc. Khi một người chết đi, không được ai nhớ lại, đó là biến mất vĩnh viễn. Khi một người chết đi, được người khác nhắc lại, đó là lúc người ấy trở về. Không cách nhớ nào đẹp bằng cách nhớ của thơ ca. Vì ký ức ấy là ký ức bền vững, chưng cất, thăng hoa. Chúng ta nhớ lại một người tình, một quãng đời, một xã hội, một bài thơ, hầu hết là vì ân huệ mà người ấy, quãng đời ấy, nguồn thơ ấy, bầu khí quyển ấy, trong đó ta hít thở như khí trời, đã từng ban tặng cho ta.
N.Đ.T
(TCSH375/05-2020)
Nguồn tham khảo:
(1) Toàn bài Ngày Mai. Phạm Thiên Thư, Ngày xưa người tình, Nxb. Văn nghệ, 2006.
(2) Tiểu sử:
“Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1/1/1940, xuất thân trong một gia đình Đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn - Tp. Hồ Chí Minh (1954 đến nay).
Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều - Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).
Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hóa Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều - Đoạn trường vô thanh (1972); Kinh Thơ…
(https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Thi%C3%AAn-Th%C6%B0/author- zUJYhrTgVIBip1y-0rpXeA)
(3) Đặng Tiến: Ngày xuân tìm động hoa vàng (http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c300/n14236/ Ngay-xuan-tim-Dong-hoa-vang.html)
(4) Vĩnh Hảo: đọc thơ Phạm Thiên Thư (https://thuvienhoasen.org/a18370/doc-tho-pham-thien-thu)
Tải mã QRCode
TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.
HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.
TRƯƠNG ĐĂNG DUNG Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.
ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).
NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.
LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.
NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.
AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.
TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!
PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm. VẠN HẠNH Thiền sư
HỒ THẾ HÀ Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.
LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết: Đào tiên đã bén tay phàm Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?
CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.
PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.
HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.
BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.
NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.