LÊ MINH PHONG
Đừng đặt tên cho họ…
Có thể họ còn vô vàn những cuộc phiêu lưu khác nữa.
(Robbe - Grillet)
Phạm Tấn Hầu qua cái nhìn của Lê Minh Phong
Hẳn nhiên, từ khởi thủy mù lòa lại là thấu thị. Kẻ tiên tri không lý giải ngoại giới bằng đôi mắt sáng. Trong sự mù lòa họ lấy nội giới phóng ra để thấu cảm ngoại giới và vượt thoát khỏi sự quy định của đôi mắt để dự phóng về những ảnh tượng ở phía chìm khuất.
Phạm Tấn Hầu không ngổ ngáo đến mức tự vỗ ngực để loan báo rằng mình là một kẻ tiên tri nhưng trong thơ chàng người ta thấy chàng đã nhắm mắt để được thênh thang trong cõi nội giới.
Thế giới anh đã ngỏ lời (1)- hay là sự ra đi của một kẻ bị lưu đày
Chàng đã ra đi từ đó, chàng đã ngỏ lời với thế giới và lên đường, đi trong khi mắt chàng vẫn nhắm, bắt chước cái cách mà Rimbaud đi trong miền hoan lạc của hắn. Trong cơn mê loạn chàng tự đốt đuốc và đi theo vết máu của những người thợ săn. Chàng đã ra đi, bởi chàng biết “Tương lai bao giờ cũng đã và cũng sẽ thuộc về thi sĩ.”(2)
Anh đi theo vết máu của những người thợ săn
Lần theo vết máu của những người thợ săn, chàng đi tìm một cái gì đó trong chàng và ngoài chàng, đi tìm cái mà ở trong mơ chàng thấy được. Chàng đi trong một niềm tin mang tính huyễn mộng, một niềm tin có trong truyện cổ bắt nguồn từ sợi dây vô thức tập thể (collective unconscious) trong bản ngã của chàng. “Một thứ vô thức được tạo nên bởi những cổ mẫu, đó là những hình thức tiền tồn hay là những hình thức nguyên thủy”(3) luôn âm ỉ và réo gọi vô thức sáng tạo trong chàng. Và thế đấy, huyền thoại thì bao đời vẫn thế, lung linh và không rõ hình thù. Chàng lần theo vết chân của những gã khổng lồ để tìm về với huyền thoại như Joyce, Kafka, Eliot... cùng với những người không chịu bó mình trong thế giới hiện thực trần trụi như Th. Mann, Marquez, Cao Hành Kiện... Từ đó chàng “xem huyền thoại như là công cụ tổ chức chất liệu nghệ thuật, là phương tiện diễn tả những nguyên tắc tâm lý vĩnh cửu”(4)
Và anh đã đi tìm
như tìm theo một niềm tin nào trong truyện cổ
Đang cư lưu trong cõi tình nhưng chàng vẫn hoài nghi bởi một điều gì đó, hoài nghi về những nỗi đau, về sự lạc loài, vong thân và cả về những giá trị cần minh định lại. Những bước chân đầu tiên đi qua địa hạt tình yêu ta tưởng chàng sẽ tìm thấy một hơi ấm, một ngọn lửa vĩnh cửu sưởi ấm con tim cuồng loạn của chàng. Nhưng không, bằng sự cô đơn ghẻ lạnh của thực tại và với sự cô độc của thi sĩ chàng lại tiếp tục hoài nghi ngay trong khi chàng đang lần về với những nguyên mẫu (Archétype) khi chàng viết:
Vì chó sói vẫn còn trên đồng hoang
và những nàng tiên thường đến muộn
Chàng ra đi như một sự rũ bỏ lại định mệnh, nhưng từ lúc ra đi cũng là từ lúc chàng quay về. Chàng quay lại để tìm bản ngã đã bị đánh mất của mình. Bởi chàng biết trước tiên hãy chính là mình. Hãy là mình câu nói của Nietzsche đã ám lấy tâm thần chàng cũng như nhiều thế hệ khác ở phương Tây. Vì thế trong khi gặm nhấm nội giới chàng lại đơn độc làm một cuộc trở về để lấy lại những thanh âm trong trẻo đã vụt mất:
Tôi đang trở về đây. Tôi trở về trong mỗi ngày qua và trong niềm mơ mộng của tôi...
Tôi đang trở về đây. Tôi trở về bởi không thể nào chịu nổi
tiếng nói của mình cứ bị uốn cong
và tắt dần đi trong cổ họng
như một con chim bị bóp nghẹt lẻ loi...
Chàng trở về nhưng cũng là dự phóng tới những vùng mơ. Sự mơ mộng khiến cho thơ ca của chàng hoài thai. Sự mơ mộng dẫn bước chàng tìm đến hoa trái của sự mơ về (rêver à), như chính triết gia Bachelard thường dự cảm. Vì thế bằng cách trở về để tìm lại chính mình, tìm lại những điều đã bị đánh mất trong hoàng hôn để rồi chàng lại tiếp tục nhắm mắt và can dự vào những cuộc chơi mới. Nhưng cuộc chơi không có ai ngoài chàng. Một mình chàng rong chơi trong thế giới chữ nghĩa vô tận của đời chàng. Một cuộc đi mà không bất cứ một vị thần ngổ ngáo nào dám thảo ra những bộ luật hòng trói chân chàng. Một cuộc chơi có trái đắng, có yêu thương, có cả sự kiên trinh song trùng với man trá và bội bạc.
Đầu óc cuồng loạn của chàng bay bổng trên những niềm mộng mơ nhưng hai chân của chàng vẫn bám rễ xuống mặt đất khi chàng cất bước, bởi thế bản thể của chàng vẫn bám víu vào sự sống khi trái tim và khối óc của chàng khát khao vượt thoát khỏi những đường ray cũ mèm của lý tính bày ra. Trong bước chân của một kẻ lữ hành bị lưu đày trên mặt đất chàng bắt đầu bước lên sân khấu. Nơi đó chàng diễn một mình, một vỡ diễn mà ngay chính chàng cũng không thức nhận được giới hạn của nó.
Một vở kịch khác
bắt anh diễn một mình
và đêm tối nổi rõ anh thành cái đích
đêm cuối cùng còn sót lại
trên những số phận nhỏ nhoi
Phạm Tấn Hầu trong cuộc ra đi của mình, chàng khát khao tìm đến bản chất của thế giới bằng cách dựng lại (chữ của chàng) và cấp ý nghĩa cho một sự tồn tại mới, một sự tồn tại nằm ở một chiều logic khác. Vì thế có những thần tượng phải ngủ im trong những buổi hoàng hôn của họ.
Tôi dựng lại từ trong giông bão
một cành cây chưa có lời ca
một cành cây gầy như em bé
muốn nắm một ít ước mơ nhỏ nhoi trong đời.
Rồi một mai khi đi qua bến lú bờ mê, khi băng qua khỏi những ngày giông bão, khi thoát khỏi vùng lầy sa đọa, chàng bắt đầu thấy được những ảnh tượng hồi sinh trong tâm can của một kẻ lưu đày mơ mộng.
Tôi dựng lại từ trong giông bão
một cành cây lòng nặng yêu thương
cho em bé ngây thơ tập đánh vần trở lại
cây của tôi và hoa trái về em
Trong niềm mơ về với thể tánh của thi ca (mượn chữ Lê Tuyên) chàng muốn tưới yêu thương lên vạn vật, chàng muốn cấp ý nghĩa trở lại cho sự sống trên hành trình ra đi thăm thẳm của chàng. Sự đi của chàng là sự đi trong chuỗi nối tiếp, nối tiếp nhưng là nối tiếp trên những mê lộ khác, trên những con đường khác, con đường mang tâm thức của riêng chàng.
Trên con đường khác
Chúng tôi thắt chặt dây giày
và tiếp tục đi.
Chàng không đi lại những con đường xưa cũ, sự phóng thể trong tâm can đưa chàng tiếp tục ra đi như thế, đi trong mộng mơ, đi trong dự phóng. Chàng đi và hoan lạc với dòng máu của chính mình. Đó là dòng máu của sự thật, chàng soi mình xuống dòng máu của chính mình để nhận diện được mình, để thoát khỏi những vở diễn vô lối đã ám lấy chàng khi chàng tự chuốc lấy những khuôn mặt nạ trong sự hiện hữu nơi dòng đời thị phi.
Tôi tìm thấy sự thật về dòng máu của tôi
như người ta tìm thấy giữa tro than
chiếc gương soi bóng hình hi vọng
Chàng là một thi sĩ, một thi nhân bị lưu đày giữa chính trần thế. Không biết ai xui khiến chàng trở nên mơ mộng đến như thế. Trong lộ trình Thế giới như anh đã ngỏ lời chàng thực sự chưa thể vượt thoát như đường bay của phượng hoàng, đôi cánh của chàng đã cử động nhưng chưa thể tung bay. Bởi chàng đã dại khờ ngỏ lời với thế giới chứ chàng chưa thể phủ nhận thế giới để tìm đến một thế giới cao hơn - thế giới linh thiêng trong cõi sáng tạo. Chàng bước đi mong thấu tận ngoại giới bằng chính tâm thức của kẻ lưu đày muốn vượt thoát nhưng rồi chàng vẫn bấu víu vào thực tại và đau đớn nhận ra.
Đó là thế giới anh đã ngỏ lời
Một nửa còn trong bóng tối
Một nửa chìm trong mưa
Những con chim của bóng tối (5)- hay là sự vượt thoát của một kẻ biết hoài nghi
Đến đây thì chàng mới thực sự dấn bước. Lạc bước trong thế giới nhận thức luận phức hợp hôm nay chàng lại tiếp tục hoài nghi. Chàng bước đi trong sợ hãi, hoan ca và cuồng nộ. Thi ca lại một lần nữa khiến chàng hoan hỉ phơi bày những góc khuất của thân phận. Từ chính tâm thức của mình Phạm Tấn Hầu bắt đầu rút tỉa thế giới và để cho thế giới rút tỉa chính mình. Thông hiểu thế giới bằng chính sự hoài nghi của chàng. Gã Réflexion, gã Se Decider đã song trùng cùng với tâm can của chàng đã cứu rỗi cho chàng những phút giây chàng chạm chân vào bến lú. Có thể trong niềm mơ mộng ấy, chàng đã hướng về thế giới của Henry Miller: “Thế giới chỉ bắt đầu rút tỉa được đôi chút từ nơi tôi kể từ lúc tôi ngừng là một thành phần trang nghiêm của xã hội và trở thành chính tôi.”(6)
Ta hãy lắng nghe chàng nói:
Không còn thời nào để so sánh
Gam màu đỏ này với nỗi đau đã chìm trong máu
Rừng đã đan kín lại và những nhánh cành ký ức
Từ chính những nỗi đau đớn chàng đã có được tự do bát ngát khi chính chàng không còn là một thành phần trang nghiêm của xã hội. Từ đây một sự hoài nghi chớm nở và đó cũng chính là mầm mống cho sự phản tỉnh và vượt thoát trong thi giới của chàng. Bước sang thế kỷ XX nghệ thuật quay trở lại soi xét chính mình trong sự đổ vỡ của những cái mà trước đây người ta tưởng như là những khế ước vĩnh cửu. Và theo cách nhìn của F.David Peat thì thế kỷ XX của chúng ta “trớ trêu thay nó lại kết thúc trong sự bất định, mơ hồ và hoài nghi.”(7) Chúng ta đang sống trong sự quy định của tổ tiên, những người đi trước cấp ý nghĩa cho sự tồn tại của chúng ta bằng thứ lý tính khô khan của họ. Suy cho tới tận cùng thì những triết gia nổi loạn nhất hay những thi nhân cuồng say nhất là những kẻ ngông cuồng đạp đổ và quẳng ném thần tượng của họ vào trong sâu thẳm của những buổi hoàng hôn mờ đục. Cũng chính vì thế mà Nietzsche là một trong những kẻ ngang nhiên can dự vào sự vĩnh cửu. Một lần nữa điều này lại khiến cho Phạm Tấn Hầu mơ mộng, mơ mộng đến mức tủi hờn và nức nở:
Và đó là khoảng trống
còn lại trên đường phố này
để ta úp mặt
khóc
Từ những ý tưởng quái đản của mình chàng lại tiếp tục đi. Chàng lầm lũi bước qua thời kỳ sa đọa của lương tri, thời mà nhân sinh đang trôi vào sự lâm nguy bất khả cứu rỗi. Chàng bấu víu vào những vết thương, lưu trú trong từng nỗi đau của thân phận rồi biến thể sáng tạo tới những vùng đất hứa, bất khả vãn hồi. “Tất cả mọi vật ngoại giới chỉ là hình ảnh do cơ tâm phóng chiếu ra.”(8) Quả như thế thật. Thế giới vượt thoát của Phạm Tấn Hầu là một thế giới hoài thai từ chính cơ tâm phóng chiếu ra, bởi thế nó trở nên ma mị và huyền ảo mang sắc màu huyền thoại, huyền thoại về những nỗi đau và về những điều đã mất, bây giờ chúng chỉ là những hình ảnh mù mờ như những di chỉ huyễn hoặc của ký ức:
Giữa chập chờn huyền thoại người cha
bị còng đi giữa khuya cùng lá cờ trong ngực
Đớn đau - sợ hãi - hoài nghi - cuồng nộ - vượt thoát là những lộ trình chàng đã đi qua rồi hoan hỉ nhảy múa trong sáng tạo. Những nhát búa của chân lý đã cứu chuộc tâm thần chàng trong những cơn đồng ốp mê sảng.
Và ngày một nhiều hơn
sự bất trắc
chúng thích thách đấu
cùng thánh thần của kẻ khác
Những con chim của chàng đã bay lên từ trong bóng tối. “Cái giây phút nửa khuya già nua và sâu thẳm này đang gặm nhấm lại nỗi đau khổ của mình trong mộng mị, và hơn thế nữa nó đang gặm nhấm lại niềm vui tươi hoan lạc. Bởi vì khi đau khổ đã sâu thẳm, thì hoan lạc còn sâu thẳm hơn là đau khổ”(9). Từ đau đớn những cánh chim của chàng đã bay lên hòa vào bầu trời hoan lạc.
Đêm hôm trước đỏ bầm
Như máu dồn trong máu
Và lũ chim thức trắng
Vì ngày mai
Là tiếng hát khác
Ảnh tượng mà Phạm Tấn Hầu thêu dệt trong sự ra đi của chàng nó sẽ vượt thoát khỏi sự kiểm tỏa của chàng. Những cánh chim đó có thể trải rộng ra thành một điều gì đó lớn lao mang tinh thần phổ quát. Chúng tồn tại tự thân. Thậm chí độc lập với ý hướng của người sáng tạo. Trong một sự khiêm nhường có thể nhất, nó giống như cái cách mà Miguel de Unamuno đã từng phẫn nộ với Cervantes, bởi cho rằng nhà văn đã không hiểu sự vĩ đại của Quixote. “Bên cạnh tính nghịch lý, không phải ngẫu nhiên, cũng chẳng phải bí ẩn, húy kị hay phi lý, các hình tượng ấy đã không chỉ trở thành những sáng tạo cá biệt, mà còn thu hút các thế hệ, ở những thời điểm và những xứ sở hoàn toàn khác nhau.”(10)
Những vần thơ của chàng có thể loan báo một sự man rợ khủng khiếp trong sự băng hoại của tha nhân. Nhưng những ngọn lửa vẫn chưa tàn. Phạm Tấn Hầu vẫn mơ mộng và mãi mộng mơ. Chàng nhắm hai mắt nhưng linh hồn và thẳm sâu trong nội giới chàng lại rạo rực và linh hoạt. Chàng mơ mộng trong khi chàng không hề thức nhận được mình là một kẻ mơ mộng. Chàng bước đi như một cái bóng nhẹ nhàng. Một chiếc bóng lướt đi trong đêm và nó hoàn toàn không cần đến sự chiếu sáng của loài đom đóm là là trên mặt đất.
Thật vui sướng khi chúng ta bắt đầu thấy lửa từ trong thơ của chàng. Bachelard nói rằng: Ngồi trước ngọn lửa là tình thế trời trao để mơ mộng trỗi dậy, và, hơn thế: “Con người mộng mơ trước bếp lửa, ngược lại, là con người của chiều sâu và của sự tiến triển.”(11) Lửa của Phạm Tấn Hầu là lửa của mộng mơ, lửa của mơ về (rêver à) một điều gì đấy trong sáng tạo. Lửa của chàng là lửa đi ra từ huyền thoại, lửa tạo sinh và lửa hủy diệt:
Mắt em là đêm trắng
Đốt tàn bao ngọn lửa si mê
Và có khi đó cũng là lửa của sự vụt mất, vụt mất để hoài thai nên những ngọn lửa hủy diệt mới.
Ngày sẽ đi qua đời tắt dần ánh lửa.
Rồi một lần nữa ngọn lửa mới lại bùng lên trong niềm kiêu hãnh của chàng:
Anh đã thổi lên
như nhóm lửa
mặc mưa gió dập vùi
Chàng tìm về với lửa như một thứ khát vọng tìm đến sức mạnh có sức lan tỏa lớn, vượt qua mọi rào cản để đi tìm đến bến bờ của huyền thoại. Lửa của chàng là lửa khởi nguyên của sự sống và sức mạnh vĩnh hằng của sáng tạo. Lửa của chàng là biểu tượng của sự tạo sinh cũng như sự hủy diệt, lửa là nơi để chàng tẩy uế cũng như là nơi để chàng giao tiếp với thần linh trong niềm mơ mộng của mình. Lửa hiện hữu trong cuộc chơi của chàng. Một cuộc chơi mà mọi giá trị đều được cào bằng. Những phát ngôn trở nên không còn thứ bậc trong một hệ hình (paradigme) mới đã được làm phẳng. Vì thế chàng đã phá vỡ, xô nát và làm vỡ vụn những quy tắc đã được găm sâu trong lí tính. Và một lần nữa chàng lại khao khát ôm trọn giấc mơ của mình trong hình thể trọn vẹn của nó:
Cho giấc mơ tôi có rõ ràng khuôn mặt
Sáng tạo là tìm đến những giá trị tồn tại khác. Trong hành trình truy tìm gốc rễ của lý trí và trực cảm, Phạm Tấn Hầu đã khai quật sự u mê tăm tối nương náu trong mình. Truy tìm căn nguyên của sự u mê u lì (mượn chữ Bùi Giáng) rồi tự mình mở ra một ban mai của riêng mình để cho Những con chim của bóng tối vút thẳng lên trời xanh.
Cuối cùng trong cơn mơ mộng, Phạm Tấn Hầu đã trở thành một chủ thể, một chủ thể cá biệt có thể mơ mộng và thực sự chàng đã mơ mộng. Một lần nữa ta hãy nghe chàng thì thầm với ta trên dòng mê lộ chàng tìm về với huyền thoại mới:
Để tình yêu
Luôn được trở về
Trong màu huyền thoại mới.
L.M.P
(SH291/5-13)
------------------------
1. Tập thơ của Phạm Tấn Hầu, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, 1990.
2. Xem thêm, Henry Miller, Thời của những kẻ giết người, Nguyễn Hữu Hiệu dịch, Nxb. Văn hóa Sài Gòn 2009.
3. Xem, E.A. Bennet, Jung đã thực sự nói gì?, Bùi Lưu Phi Khanh dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin 2002, tr74.
4. Xem, E. M. Meletinsky, Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch, Nxb. ĐHQG Hà Nội 2004.
5.Tập thơ của Phạm Tấn Hầu, Nxb. Văn học 2011.
6.Henry Miller, Nói về sáng tạo. Xin xem thêm Nguyễn Hữu Hiệu, Con đường sáng tạo, Nxb Trẻ 2002, tr21.
7. Xem, F.David Peat, Từ xác định đến bất định - Những câu chuyện về khoa học và tư tưởng của thế kỷ 20, Phạm Việt Hưng dịch, Nxb. Tri thức, 2011.
8. Nguyễn Hữu Hiệu, Con đường sáng tạo, Nxb. Trẻ 2002, tr25.
9. Xem, Nietzsche, Zarathustra đã nói như thế, Trần Xuân Kiêm dịch và giới thiệu, Nxb. Văn học 2008, tr 525.
10. Xem, Claudio Maggiis, Không tưởng và thức tỉnh. Vũ Ngọc Thăng dịch, Nxb. Hội Nhà văn, tr10.
11.Xem, Gaston Bachelard, Phân tâm học về lửa, trong Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Đỗ Lai Thúy biên soạn, Nxb.Văn hóa thông tin, 2004. tr.237. Hoặc xem thêm Nguyễn Mạnh Tiến - Nguyễn Quang Thiều, lửa thức - những mơ mộng nghệ thuật giữa lòng Sự mất ngủ của lửa.
Tải mã QRCode
BỬU NAMI. Văn học Mêhicô ở thế kỷ XX, có lẽ được xem như một nền văn học năng động và sáng tạo nhất Châu Mỹ La tinh. Táo bạo trong những tìm tòi mới, linh hoạt uyển chuyển trong cách diễn tả, đa dạng phong phú trong cách sử dụng các cấp độ ngôn ngữ, sáng suốt trong cách chọn lựa đề tài, hình thức, ngôn ngữ: tiểu thuyết và truyện ngắn ở Mêhicô tạo được những không gian sáng tạo và đổi mới một cách tự do.
NGUYỄN TÝ51 bài thơ cùng 8 ca khúc được phổ thơ của Trần Hữu Lục vỏn vẹn 120 trang qua tập thơ “Vạn Xuân” (*) mới nhất của anh, người đọc đồng cảm cùng tác giả- một người con xứ Huế tha phương.
NGÔ MINHNhà xuất bản Văn nghệ vừa ấn hành tập ký “Phùng Quán- Ba phút sự thật”, tập hợp mười lăm bài viết, ký thấm đẫm chất nhân văn rất của cố nhà thơ nổi tiếng Phùng Quán.
NGUYỄN ĐÔNG HIẾUTrong cuộc đời làm xuất bản của mình, Phùng Quán là một nhà văn đã để lại cho tôi những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc, khó quên.
PHẠM PHÚ PHONG Tập nhật ký Tây tiến viễn chinh (do Đặng Vương Hưng biên soạn và giới thiệu, Phạm Tiến Duật viết lời bạt, Nxb Hội Nhà văn, 2005) của liệt sĩ Trần Duy Chiến, bắt đầu viết từ ngày 7.10.1978, khi anh mới nhập ngũ, đến ngày 25.6.1980, trước khi anh hy sinh gần một tháng.
BỬU NAM giới thiệu1. Cuốn tiểu thuyết best - seller “Hồi ức của một Geisha” của nhà văn Arthur Golden vừa được dựng thành phim. Nhà văn Arthur Golden đã dành cả 40 năm cuộc đời mình tìm tư liệu về cuộc sống của những nàng Geisha ở Nhật Bản, để sáng tạo nên một cuốn tiểu thuyết Best - Seller giữ vị trí được bạn đọc thế giới yêu thích lâu dài trên danh mục những tiểu thuyết bán chạy nhất do báo New York Times bình chọn.
HOÀNG VŨ THUẬT(Đọc tập thơ Lệ Thuỷ mút mùa của Ngô Minh)Nói đến Ngô Minh là nói đến thế - giới - cát. Cát trong suy nghĩ của Ngô Minh như thứ ngôn ngữ minh triết về đời sống con người. Là vật chất, nhưng không giản đơn như mọi thứ vật chất. Cát có thể nóng như lửa, lại mềm mại dịu êm dưới chân người. Li ti từng hạt nhỏ, vậy mà bên nhau cát xây nên luỹ nên thành án ngữ dọc biển bờ Tổ quốc. Cát hiền lành trong sạch, khi giận giữ có thể biến thành những cơn bão khủng khiếp.
BÙI ĐỨC VINH(Nhân đọc tập thơ “RỖNG NGỰC” của Phan Huyền Thư, NXB Văn học 2005)
PHAN THUẬN AN"Khóc Bằng phi" hay "Khóc Thị Bằng" là một bài thơ nổi tiếng xưa nay, nhưng tác giả của nó là ai thì chưa được xác minh một cách cụ thể. Người ta thường cho rằng bài thơ trữ tình này là do vua Tự Đức (1848-1883) làm ra để thương tiếc một bà cung phi tên là Thị Bằng còn rất trẻ đẹp nhưng chết sớm.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong văn học Nga thế kỷ XX, Aleksandr Solzhenitsyn là một trong những nhà văn lớn, nổi tiếng có nhiều đóng góp cho nền văn học Nga trên nhiều phương diện, một người suốt đời tận tụy và kiên trì đấu tranh cho sự chiến thắng của nghệ thuật, của sự thật đối với những cái xấu, cái ác. Nhưng ông cũng là một nhà văn có cuộc đời đầy thăng trầm, bất hạnh và phức tạp.
BÙI LINH CHIAnnemarie Selinko (1914-1986) là một nhà báo, nhà tiểu thuyết gặt hái được một số thành công trong sự nghiệp tại Tổ quốc của mình là nước Áo. Trong những tháng ngày chạy nạn 1943, bà đã cùng chồng đến Thụy Điển, đã chứng kiến những làn sóng người tị nạn phải rời bỏ quê hương trước ý chí ghê gớm của kẻ độc tài khát máu Himler gây ra.
TRẦN HUYỀN SÂM1. Nobel là một giải thưởng danh giá nhất, nhưng cũng chứa đựng nhiều nghịch lý nhất trong tất cả các giải thưởng. Riêng giải Nobel văn học, bao giờ cũng gây tranh cãi thú vị. Bởi vì, Hội đồng Viện Hàn Lâm Thụy Điển phải trung thành với lời di chúc của Alffred Nobel: trao tặng giải thưởng cho người sáng tạo ra tác phẩm văn học xuất sắc nhất, có khả năng định hướng lý tưởng cho nhân loại.
NGUYỄN THỊ MAI(Nhân đọc tập thơ “Ra ngoài ngàn năm” của nhà thơ Trương Hương - NXB Văn học – 2008)
LÊ HUỲNH LÂMDạo này, thỉnh thoảng tôi nhận được tin nhắn “nhìn đời hiu quạnh”, mà theo lời thầy Chạy đó là câu của anh Định Giang ở Vỹ Dạ mỗi khi ngồi nhâm nhi. Khi mắc việc thì thôi, còn rảnh rang thì tôi đến ngồi lai rai vài ly bia với thầy Chạy và nhìn cổ thành hắt hiu, hoặc nhìn cội bồ đề đơn độc, nhìn một góc phố chiều nguội nắng hay nhìn người qua kẻ lại,… tất cả là để ngắm nhìn cõi lòng đang tan tác.
THU NGUYỆTLTS: Tập truyện Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư được giới chuyên môn đánh giá cao như một hiện tượng văn học trong thời gian gần đây. Giữa lúc đông đảo bạn đọc đang hứng vị với hiện tượng này thì có một hiện tượng khác “ngược chiều” đã gây sốc dư luận.Để bạn đọc Sông Hương có thêm thông tin, chúng tôi xin trích đăng một số ý kiến sau đây.
HIỀN LƯƠNGVậy là Nguyễn Ngọc Tư sẽ bị kiểm điểm thật. Cầm tờ biên bản của Ban Tuyên giáo tỉnh Cà Mau trên tay, trong tôi trào dâng nhiều cảm xúc: giận, thương, và sau rốt là buồn...
BÙI VIỆT THẮNGTôi có theo dõi “vụ việc Nguyễn Ngọc Tư” đăng tải trên báo Tuổi trẻ (các số 79, 80, và 81 tháng 4 năm 2006) thấy các ý kiến khen chê thật ngược chiều, rôm rả và quyết liệt. Kể ra không có gì lạ trong thời đại thông tin mọi người đều có quyền cập nhật thời sự, nhất là trong lĩnh vực văn chương vốn rất nhạy cảm.
NGUYỄN KHẮC PHÊ“Người kinh đô cũ” (NKĐC - NXB Hội Nhà văn, 2004) là tác phẩm thứ 14 của nhà văn Hà Khánh Linh, cũng là tác phẩm văn học dày dặn nhất trong số tác phẩm văn học của các nhà văn ở Thừa Thiên - Huế sáng tác trong khoảng 20 năm gần đây.
HỒ THẾ HÀ Trong cuộc đời mỗi con người, điều sung sướng nhất là được hiểu biết, khám phá và sáng tạo để ý nghĩa tồn sinh không ngừng được khẳng định và nâng lên những tầm cao mới. Theo đó, những thang bậc của nhận thức, nhân văn, của thành quả lao động lại biến thành những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể lấp lánh lời giải đáp.
TÔ VĨNH HÀNếu có thể có một miền thơ để mà nhớ mong, khắc khoải; tôi tin mình đã tìm được rồi, khi đọc Mưa Kim Cương của nhà thơ Đông Hà (Nxb Thuận Hoá, Huế, tháng 11.2005). Sợi dây mảnh mục như các khớp xương đan chằng, xéo buốt, chơi vơi; được giăng giữa hai bờ lở xói của cuộc đời. Trên cao là “hạt” kim cương thô ráp và gan lỳ hơn cả là đá nữa, nhưng lại giống với thân hình thần Vệ Nữ đang rơi, đang rơi, nhọn sắc, dữ dằn... Minh hoạ ở trang bìa xanh và sâu thẳm như những trang thơ.