Patrick Modiano và niềm khắc khoải với quá khứ

15:24 08/12/2014

Khác với mọi lần, năm nay, tin nhà văn Pháp Patrick Modiano được Viện Hàn lâm Thụy Điển chọn trao giải thưởng Nobel Văn học có phần làm cho báo chí, truyền thông ngoài nước Pháp ngỡ ngàng.

Tháng 10 năm nay, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã quyết định trao giải Nobel Văn chương cho nhà văn Patrick Modiano “vì cái nghệ thuật của kí ức mà ông đã vận dụng để gợi lên những phận người bẽ bàng, khó thỏa nguyện nhất

Thật vậy, cả ở châu Âu và Mỹ, cái tên Patrick Modiano hình như khá xa lạ. “Modiano (...) nổi tiếng ở Pháp, nhưng ở đây, hầu như không ai nghe nói đến ông,” Alexandra Schwarz viết trên tạp chí văn học nổi tiếng New Yorker. Tờ Times giật tít “Tại sao bạn chưa bao giờ nghe nói đến Patrick Modiano?” và viết rằng sự lựa chọn này làm cho độc giả Mỹ “bối rối”, kể cả những người say mê văn chương nhất. Một số nguồn như BBC và New York Times thì đành chỉ lặp lại lời đánh giá của Viện Hàn lâm Thụy Điển, mô tả nhà văn Pháp thứ 15 đoạt giải Nobel Văn học như “một Marcel Proust của thời đại chúng ta.” Thậm chí một số trang mạng ở Mỹ như The Daily Beast, LA Times còn giật tít: “Vậy Patrick Modiano là ai?”

Từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, độc giả Việt Nam đã tìm thấy một phần câu trả lời ở hai tác phẩm của ông: Những đại lộ ngoại viPhố những cửa hiệu u tối do tác giả bài viết này chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Jean Patrick Modiano sinh ngày 30/7/1945 ở Paris. Cha ông là người suốt đời phiêu bạt và mẹ ông là một nữ diễn viên quanh năm lưu diễn, cậu bé Patrick có một tuổi thơ hầu như hoàn toàn vắng thiếu tình phụ mẫu. Sau một thời gian sống với ông bà ngoại, Modiano không ngừng bị luân chuyển hết nhà ký túc này đến trú xá kia. Không khó hiểu khi một tuổi thơ bất hạnh như vậy tạo nên tâm thế khiến Modiano muốn tìm đến nghiệp viết văn như một giải thoát. Và người đưa Modiano vào môi trường văn chương nghệ thuật chính là Raymond Queneau, một kiện tướng của nhóm Oulipo trứ danh và trào lưu Tiểu thuyết Mới.

Năm 1968, ra mắt với cuốn tiểu thuyết đầu tay Quảng trường Ngôi Sao (La Place de l’Étoile), chàng trai 23 tuổi Modiano lập tức được chào đón như một sự kiện của văn học Pháp đương đại: cùng một lúc, tác phẩm giật hai giải thưởng văn học Roger Nimier và Fenéon đầy uy tín. Sau cuốn thứ hai, Tuần tra đêm (La ronde de nuit - 1969), và một quãng lặng sáu năm, tác phẩm thứ ba của ông, Những đại lộ ngoại vi (Les boulevards de ceinture - 1975) được Viện Hàn lâm Pháp tặng giải thưởng lớn về tiểu thuyết. Và ba năm sau, Giải Goncourt, giải văn học quan trọng nhất của Pháp, được trao cho ông với cuốn Phố những cửa hiệu u tối (Rue des Boutiques obscures). Từ đó, đều đặn, mỗi năm ông cho ra một tác phẩm, trong đó có thể kể: Biệt thự buồn (Villa triste), Sổ gia đình (Livret de famille), Một thời thanh xuân (Une jeunesse), Những chàng trai tốt biết mấy (De si braves garcons), Khu phố hẻo lánh (Quartier perdu), Phòng để quần áo thời ấu thơ (Vestiaire de L'enfance), Chuyến du hành tân hôn (Voyage de noces), Một gánh xiếc đi qua (Un cirque passe), Cô Bé Nữ Trang (La Petite Bijou), Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối (Dans le café de la jeunesse perdue), Chân trời (L’horizon), Cỏ đêm (L’Herbe de nuit)... Cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông, Để em khỏi bị lạc trong khu phố (Pour que tu ne te perdes pas dans le quartier), xuất bản vào đầu mùa sách năm 2014, được giới phê bình xếp vào một trong năm tác phẩm tiêu biểu của Modiano.

Một điều rất đặc biệt ở Modiano: ông sinh năm 1945 khi Thế Chiến II vừa kết thúc, nhưng ưu tâm văn học của ông lại chốt vào thời kỳ nước Pháp bị phát-xít Đức chiếm đóng (1940-1944). Nhà văn tìm kiếm gì trong hình ảnh nước Pháp bại trận ấy? Ngay từ đầu, hệ chủ đề (thématique) của Modiano đã được xác định với hai chủ đề khắc khoải xuyên suốt đời văn của ông: 1/ khảo sát quá khứ, đi tìm bản ngã (của mình và của những người xung quanh mình); 2/ sự bất lực không thể hiểu những hỗn mang của thời đại, luôn che khuất quá khứ. Tiểu thuyết của Modiano không bao giờ quá 200 trang khổ trung bình, nhiều khi mượn cái thủ pháp “treo lửng” của tiểu thuyết trinh thám để giữ người đọc hồi hộp đợi chờ. Văn phong Modiano giản dị, không khó đọc, và thường đượm một nét buồn xa vắng, để lại dư vị nao lòng, những trang viết thao thức đầy ám ảnh dai dẳng triền miên của quá khứ. Hình như mối ưu tâm của Modiano đối với quá khứ có một cái gì khiến ta nhớ đến Marcel Proust, nhưng khắc khoải hơn, hoang mang hơn ở tác giả Tìm lại thời gian đã mất. Ra đời vào lúc kết thúc Thế chiến II, Modiano thuộc một thế hệ chỉ biết về chiến tranh qua những vang vọng xa nhòa, song cách nào đó, dấu vết của những cơn binh lửa trên quy mô hành tinh lại hằn sâu trong tâm thức ông như một ám ảnh thường trực. Không phải tình cờ mà người ta gọi Modiano là nhà khảo cổ hồi ức.

Patrick Modiano một mình chiếm một vị trí riêng biệt trên văn đàn Pháp. Ngay từ năm 1981, tuần báo Nouvelles Littéraires (Tin văn học) đánh giá ông “là người tuyệt vời nhất, kỳ diệu nhất và chắc chắn là có tài nhất trong các nhà văn trẻ của nước Pháp” (số 2774 năm 1981). Giới phê bình Pháp coi ông trước hết như là người lật nhào các quy tắc của tiểu thuyết tiên phong mới. Điều làm cho Modiano trở thành gương mặt độc đáo là nỗi băn khoăn day dứt về bản thể và hiện hữu của mình. Modiano coi bản thân cũng như cả thế hệ ông là những người không có thời gian xác định. Suy nghĩ định vị mình trong lịch sử, tìm hiểu quá khứ của mình trong quá khứ lịch sử và dưới ánh sáng ấy, hình dung rõ hơn những đường nét của tương lai, đó là quan tâm chủ yếu của ông, thể hiện qua các tác phẩm. Sự sụp đổ của những ảo tưởng tháng 5/1968 [thời điểm diễn ra các cuộc biểu tình và đình công lớn trên toàn nước Pháp do sinh viên khởi xướng nhằm chống lại chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tiêu thụ] lại càng khiến cho sự tự vấn rất “Hamlet” ấy thêm nhức nhối trong Modiano. Ông cho rằng một khi qua được cuộc sát hạch ngược trở về mê cung quá khứ thì sẽ có thể trả lời câu hỏi mình là gì hiện nay. Dường như ông muốn thử thách bản thân bằng cách đặt mình trong hoàn cảnh gay go của những năm chiến tranh, đặc biệt trong thời kỳ Đức chiếm đóng, tự kiểm nghiệm xem mình có thể ứng xử như thế nào và làm gì trong những điều kiện ấy. Ba tác phẩm đầu tay: Quảng trường Ngôi Sao, Tuần tra đêm, Những đại lộ ngoại vi được gọi là “Bộ ba về Thời kỳ chiếm đóng”. Ý đồ xác định vị trí của mình trong lịch sử, ở các tiểu thuyết của Modiano, vượt lên thành một vấn đề có tầm rộng lớn hơn: con người có quan hệ như thế nào với sự vận-động-tàn-phá-tất-thảy của thời gian? Câu trả lời cho vấn đề có vẻ siêu hình ấy đòi hỏi phải xác định minh bạch vị trí của mình trong sự vận động - không những anh là anh như hiện nay, mà còn có thể là những gì có trước anh nữa. “Con người bao giờ cũng tò mò muốn biết cội nguồn của mình”, Modiano thổ lộ. Việc đi tìm những “cội nguồn” ấy trở thành nét chủ đạo ở các nhân vật của Modiano, khiến cho tất cả các tác phẩm của ông đều như cộng hưởng với nhau. Như những mảnh rời của một trò chơi chắp hình, cuối cùng, lồng khớp vào nhau, song bí ẩn thay, dường như vẫn lạc loài một cái gì không xác định nổi.

Tác phẩm của Modiano đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng trên thế giới nhưng cho đến trước ngày ông đoạt giải Nobel Văn học thì mới chỉ có chưa đến 1/3 trong số 30 tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Anh.

Những tác phẩm của Modiano đã được xuất bản ở Việt Nam: “Những đại lộ ngoại vi” (Dương Tường dịch, NXB Tác phẩm mới, 1989), “Quảng trường Ngôi Sao” (Vũ Đình Phòng dịch, NXB Văn học, 2000), “Phố những cửa hiệu u tối” (Dương Tường dịch, 2003), và mới đây nhất là “Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối” (Bạch Lan dịch, Nhã Nam, 2014). Sắp tới, Nhã Nam không chỉ tái bản “Phố những cửa hiệu u tối” (bản dịch của Dương Tường) mà còn xuất bản hai cuốn “Từ nơi xa nhất của lãng quên” (Du plus loin de l'oubli) và “Để em không lạc trong khu phố” (Pour que tu ne te perdes pas dans le quartier).

Những đại lộ ngoại vi, đó là những tìm kiếm đau khổ của nhân vật chính dò theo dấu vết của cha mình - không chỉ theo nghĩa đen, mà còn là (và thậm chí là chủ yếu) theo nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ: tìm sự gần gũi bên trong với con người ấy, đúng hơn, với quá khứ ấy.

Nỗi đau quằn quại trong tìm kiếm một cái gì đã mất cũng là chủ đề của cuốn Cô Bé Nữ Trang xuất bản năm 2001. Cô gái 19 tuổi Thérèse, “Cô Bé Nữ Trang”, tình cờ gặp ở ga xe điện ngầm một phụ nữ giống hệt người mẹ đã chết nhiều năm trước ở Morocco, theo như thông báo chính thức. Sau nhiều cố gắng vô vọng dò theo “người mẹ” ấy, và sau một toan tính tự sát không thành, Thérèse trở lại với cuộc sống không màu sắc của một Paris ghẻ lạnh.

Suy nghĩ về con người như một hạt cát xoáy trộn trong dòng thác thời gian, cố gắng tập trung vào số phận con người, Modiano dường như nhằm chủ yếu vun đắp một ý thức về hiện hữu, hơn là dựng lên một bức tranh hình tượng cụ thể về thế giới. Điều đó cũng khá rõ ở Một gánh xiếc đi qua. Một chàng trai không biết từ đâu tới, một cô gái không biết còn trong trắng hay đã mang nặng một quá khứ đầy xáo động, một cuộc gặp gỡ khó tin và nàng kéo chàng vào một Paris kỳ ảo rồi biến mất. Gánh xiếc đã đi qua, chân trời vừa thoáng thấy lại khép lại, nhưng dấu hằn để lại là mãi mãi.

Phố những cửa hiệu u tối, giải thưởng Goncourt năm 1978, một trong những tác phẩm chủ yếu của Modiano, là nỗi khắc khoải triền miên về nguy cơ đánh mất nhân thân và bản cách. Điều gì đã thúc đẩy anh chàng Guy Roland mất trí nhớ, nhân viên của một hãng thám tử tư, lao theo dấu vết của một người không quen biết đã mất tích từ lâu? Đó là nhu cầu da diết tìm lại được mình qua dấu vết nhòa nhạt của con người vốn xưa kia có thể là anh, kiên nhẫn mò về những nơi có thể đã từng chứng kiến cuộc tình của anh ta với một người đàn bà giờ đây đã biệt tăm, cố bấu víu vào những bóng mờ của những nhân chứng duy nhất từng tham dự vào thời thanh xuân của gã môi giới hàng mang hộ chiếu đáng ngờ dưới cái tên Patro Mc Evoy mà cuối cùng anh ta tin rằng chính là mình. Như trong một vòng đu quay, những mẩu ký ức loang loáng, chập chờn, rời rạc không ngừng xoáy trộn với những câu hỏi đau đớn: “Tôi là ai?... có đúng đó là đời tôi không? Hay là đời một người khác mà tôi đã lẻn vào?”. Hình như đây không chỉ là một bi kịch cá nhân, mà còn là bi kịch của cả nhiều cộng đồng. Chúng ta đã chẳng chứng kiến những quá trình đau đớn tìm lại danh tính và bản sắc bị thất lạc của nhiều dân tộc những năm hỗn mang của đoạn cuối thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 21 này sao?

Modiano có cái tài “phù phép” với thời gian, xóa nhòa được ranh giới giữa các lớp thời gian khác nhau khiến cho những sự vật hiện ra như không thể tin được dưới một ánh sáng lung linh kỳ ảo. Với Phố những cửa hiệu u tối, ông đã khẳng định vị trí đặc biệt của mình trong văn học Pháp nửa sau thế kỷ 20. Tất cả các tiểu thuyết của ông đều được xếp vào danh sách các tác phẩm hay nhất hằng năm ở Pháp. Và có lẽ giá trị lớn nhất của Modiano là nỗ lực không mệt mỏi khôi phục một ý thức nhân bản - quan tâm tìm về và bám chắc không rời xa cội nguồn nếu muốn khỏi bị tha hóa.

Tháng 10 năm nay, Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao giải Nobel văn học cho Patrick Modiano “vì cái nghệ thuật của kí ức mà ông đã vận dụng để gợi lên những phận người bẽ bàng, khó thoả nguyện nhất”, điều không quá bất ngờ đối với tôi, bởi từ nhiều năm, tôi đã mong chờ một sự tôn vinh xứng đáng cho tác giả yêu mến của mình như mong chờ một điều đương nhiên trước sau tất phải đến.

Nguồn: Dương Tường - Tia Sáng

 


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNG              Tản mạn từ Bruxelles Dưới mái hiên trạm gác cũ Porte de Ninove gần chỗ tôi ở có sống một cư dân đơn độc và lưu niên. Gã bù xù, tôi chỉ biết gọi gã như thế, nom chỉ trạc ngoài ba mươi nhưng có vẻ như đã cũ nát lắm rồi. Không ai biết gã từ đâu dạt vào, ở đó từ bao giờ.

  • TRẦN THÙY MAI.Năm giờ sáng, máy bay chở chúng tôi đáp xuống sân bay Incheon. Giọng nói ngọt ngào của nữ tiếp viên vang lên với lời cảm ơn và câu chào tạm biệt, sau khi báo một thông tin làm chúng tôi ớn lạnh: Nhiệt độ bên ngoài là 4 độ C...

  • ĐẶNG NHẬT MINHLà một thương cảng của Nhật Bản, nhưng Fukuoka lại được nhiều người biết đến như một thành phố của nhiều hoạt động văn hoá mang tầm quốc tế. Tôi có duyên nợ với thành phố này từ năm 1991 khi được mời tham dự Liên hoan phim quốc tế Fukuoka lần thứ nhất với bộ phim Bao giờ cho đến tháng 10.

  • PHẠM XUÂN PHỤNGChữ tea trong tiếng Anh là do dùng mẫu tự La -tinh để ký âm chữ trà (âm Hán Việt) mà người Trung Hoa nói rất rõ là chè. Lâu nay cứ tưởng chè là tiếng thuần Việt hoặc là biến âm của trà, hóa ra chè lại là từ gốc của trà. Mẹ mà nhầm là con, vui thật.

  • BÙI NGỌC TẤNLần đầu tiên đặt chân tới Châu Âu, có biết bao nhiêu ấn tượng. Ấn tượng về những nét mặt người, về những dáng người đi, về bầu trời không vẩn bụi trong veo, về những xa lộ, về những chiếc xe phóng với tốc độ 140 kilômét không một tiếng còi, nối nhau trên các con đường tám đến mười làn xe chạy không còn biên giới cách ngăn...

  • NGUYỄN VĂN DŨNGCó người nói Praha đẹp hơn Paris . Tôi không tin. Nhưng bây giờ thì tôi thấy nhận xét ấy không phải không có căn cứ. Praha là thành phố cổ kính nguyên vẹn nhất châu Âu, là “thành phố của trăm tháp vàng”, là “bài thơ bằng đá”, là khúc hát đắm say, là cốc rượu nồng nàn, là bức tranh tuyệt mĩ, là mảnh thời gian còn sót lại... Năm 1992, Praha được công nhận là di sản văn hoá thế giới.

  • PHẠM THỊ CÚCCó người nghĩ rằng, ở các nước giàu, thì ít người thất nghiệp. Không đâu, ở Pháp, người thất nghiệp cũng khá nhiều, mà đâu phải vì không có bằng cấp mà thất nghiệp, đa số họ đều có bằng kĩ sư, cử nhân, cả thạc sĩ hẳn hoi.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGAmazon là tên khu rừng lớn nhất thế giới. Amazon cũng là tên con sông, theo khảo sát mới đây, là con sông dài nhất thế giới. Amazonas, quê hương của hai Amazon kia, là bang rộng nhất trong 26 tiểu bang của Brasil - rộng hơn cả diện tích của nước Anh, Đức, Pháp, Ý cộng lại. Còn Manaus, là kinh đô của Amazonas miên man núi rộng sông dài.

  • NGUYỄN VĂN DŨNG    Tôi thật sự xúc động khi đứng trước ngôi mộ của Lý Tiểu Long. Trước đây tôi hình dung nơi an nghỉ cuối cùng của anh phải là một ngôi đền cực kỳ tráng lệ cho xứng với tên tuổi lẫy lừng của anh. Sau khi anh mất, một tờ báo ở Sài Gòn hồi đó viết đại loại trong thế kỷ XX, anh là một trong ba nhân vật nổi tiếng nhất châu Á.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGVới Phật giáo, Linh Thứu là ngọn núi thiêng. Sau khi thành đạo, một thời gian dài Linh Thứu là trú xứ của đức Phật và các đệ tử của Ngài. Tại đây Ngài đã giảng kinh Pháp Hoa và nhiều bộ kinh quan trọng khác. Linh Thứu còn là nơi khởi phát dòng Thiền Ấn Độ để rồi từ đây hạt giống Thiền được gieo trồng khắp nơi trên trái đất.

  • PHẠM PHÚ PHONGTrong lịch sử đất nứơc Trung Hoa có sáu nơi được chọn làm thủ đô, theo thứ tự Lạc Dương, Tây An, Nam Kinh, Khai Phong, Hàng Châu và Bắc Kinh là thủ đô thứ sáu, tồn tại cho đến ngày nay. Bắc Kinh đầu tiên là kinh đô của nước Yên, nên còn gọi là Yên Kinh, sau đó đến thời Minh Thành Tổ cho xây dựng trở thành Bắc Kinh ngày nay. Với diện tích 18.826 km2, Bắc Kinh rộng gấp 18 lần so với thủ đô Hà Nội, được mệnh danh là thành phố bốn nhiều: nhiều người, nhiều xe, nhiều cầu vượt, nhiều di tích...

  • Từ một trại lính đầy vết đạn ở vùng California (Hoa Kỳ) đã xuất hiện một tu viện Phật giáo - Tu viện Lộc Uyển - do nhà sư gốc Huế - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - gầy dựng. Tại đây, ảnh hưởng của Thiền học Việt Nam đã tạo được một sự chuyển hóa đầy thử thách: biến trung tâm luyện tập bắn súng trở thành thiền đường đầy ánh sáng và tình thương, có ảnh hưởng rất lớn đối với nhiếu người ở Hoa Kỳ.Sông Hương xin giới thiệu bài viết của Teresa Wattanabe đã đăng trên tờ Los Angeles Times, tờ nhật báo lớn hạng ba của Hoa Kỳ, với bản dịch của Làng Mai và ảnh của Nguyễn Đắc Xuân để giới thiệu với bạn đọc như một dòng chảy của văn hóa Phật giáo xứ Huế.

  • TRẦN THÙY MAICác quan chức ngành khí tượng Nhật Bản đã cúi gập mình xin lỗi toàn dân: Hoa anh đào sẽ nở ngày 23 thay vì 16 - 3 như dự báo. Đến sân bay Narita vào đúng sáng 24, tôi tự nghĩ mình đến rất kịp thời, nên khi cậu cảnh sát làm thủ tục nhập cảnh hỏi về mục đích đến Nhật, tôi đã không ngần ngại trả lời chắc nịch: “Ngắm hoa anh đào”. Cậu cảnh sát khoanh cái rụp vào lời khai của tôi và “OK” ngay với một nụ cười trên môi.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGNằm giữa trung tâm bán đảo Iberia, thủ đô Tây Ban Nha trải rộng trên các ngọn đồi dưới chân rặng Sierra de Guadarrama, ở độ cao 640m so với mặt nước biển - là thành phố cao nhất châu Âu. Diện tích 607 km2. Dân số gần 4 triệu người.

  • KEVIN BOWEN
    (Giám đốc WJC)

    LTS: Trong 25 năm qua tên tuổi nhiều nhà văn, nhà thơ của Trung tâm William Joiner (Đại học Massachusetts - Hoa Kỳ) như Kevin Bowen, Fred Marchant, Nguyễn Bá Chung, Lady Borton, Martha Colline, Bruce Weigl, Lary Heinemann... đã xuất hiện trên Sông Hương cũng như trên nhiều báo chí văn nghệ, văn hoá trong nước với những tác phẩm tâm huyết, mến yêu đất nước Việt Nam cũng như những hoạt động trên các lãnh vực giao lưu văn hoá, giúp đỡ y tế, giáo dục cho Việt Nam sau chiến tranh, như những biểu hiện của sự ân hận, tủi hổ với những gì mà đất nước họ đã gây ra trên mảnh đất này.

  • NGUYỄN BÁ CHUNG

    Tháng 10 năm 2007 đánh dấu 25 năm thành lập trung tâm Joiner. Nhưng với tôi, nó đánh dấu một đoạn đường 20 năm nổi chìm với trung tâm, trong đó có 15 năm làm thiện nguyện và 10 năm cuối cùng làm việc chính thức. Hai mươi năm là một thời gian dài đủ để nhìn lại, ghi lại một số kỷ niệm và rút ra một số kinh nghiệm để nhìn tới đoạn đường phía trước.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNHoạt động yêu nước ở miền Nam từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, tôi không lạ gì nước Mỹ. Thuở ấy, Phan Ch. anh bạn vong niên của tôi làm phiên dịch ở cơ quan MACV ở Huế từng bảo tôi “Người Mỹ giống như một cậu bé con nhà giàu nhưng thiếu lễ độ”.

  • VÕ QUÊNhận lời mời của Hội đồng quốc gia vì nghệ thuật truyền thống Hoa Kỳ (National Council for the Traditional Arts), đoàn nghệ sĩ thuộc Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tham dự Festival dân ca dân nhạc tại thành phố Lowell, bang Massachusetts, Hoa Kỳ từ ngày 25-7-1995.

  • NGUYỄN XUÂN THÂMChúng tôi đến Aten vào cuối tháng chín, mà buổi trưa vẫn còn oi bức như bao trưa miền biển ở Việt . Thanh Tùng và tôi loay hoay mãi vẫn không bắt được taxi để chuyển tiếp đến sân bay nội địa.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGSau Cali tôi định đi Dallas, nhưng rồi chuyển hướng, tôi lên Seattle theo vẫy gọi của bạn bè. Ai ngờ cái thành phố nầy dịu dàng, xanh và đẹp đến vậy. Hèn chi người ta gọi nó là “Thành phố ngọc bích” ( Emerald City ), hay “Mãi mãi xanh tươi” ( Evergreen State ).