Ở một góc nghĩa trang chữ

15:02 03/11/2014

INRASARA

Khi mẹ la chị Hám: “Mi không biết hôm nay là ngày gì sao mà hốt thóc trong lẫm đi xay”, thì tôi biết ngay đây là ngày trăng hết harei ia bilan abih, ngày người Cham kiêng xuất hàng ra khỏi nhà.

Độc đáo nét Chăm ở Khánh Hòa - Ảnh: internet

Đó là chuyện của bốn mươi năm về trước, nay mẹ không còn cơ hội la chị nữa rồi. Không phải chị đã lớn, đã cho ra đời cả lũ con cháu chít, hay chẳng phải mẹ đã đi xa, mà là chữ harei ia bilan abih đã chết. Nó đã được đưa vào nghĩa trang chữ, ngay khi đất nước nhập một, cấp phát ruộng đất cho nông dân, ba khoán, khoán sản phẩm rồi khoán trắng. Ruộng đã ít, máy móc còn làm thay sức người; thóc sau vụ mùa chẳng có là bao, vừa lên sân thì bà con bán hết cho dân buôn, người nhà quê mỗi sáng ra chợ đong gạo nấu. Họ không còn cần đến lẫm nữa, thì lấy đâu chuyện kiêng với cữ ngày lành ngày xấu mà dặn dò.

Thế là bao nhiêu thao tác nhà nông bỗng chốc hết thời lúc nào không hay: cày ải tablơk biluw, gặt bắt lối ywak mưk anak, thùng xe lúa bó tabaung cak, giê halaung, bỏ chầu buh mul… chúng kéo cả vật dụng nông nghiệp thường ngày chết theo với những mỏ gẩy kanơh, thúng mủng li-i pot, nia cangwa, cà tăng ratơng, cối xay rathung chai… và đương nhiên cả chục nghi thức cúng tế quen thuộc cũng không thoát khỏi số phận: cày lén klaik li-wa, gặt lấy ngày ywak mưk harei, lúa lên sân padai tagok lan, vân vân…

Bao nhiêu từ vựng can hệ đến nghề nông và đời sống nhà nông đã chết, chết cùng với bộ phận văn hóa hình thành qua chúng rồi trở lại dung chứa chúng. Và cho dù các nông cụ kia được phục chế đưa vào bảo tàng cho thế hệ hôm nay và mai sau tìm hiểu, nghiên cứu, nhưng vô ích - vốn từ vựng của ngôn ngữ không còn được một cộng đồng dùng đến hằng ngày chắc chắn sẽ chết. Chúng hết đất đứng và được đẩy vào nghĩa trang chữ, vĩnh viễn không còn tồn tại trên trần đời.

Đố ai trong thế hệ trẻ Chăm hôm nay còn hình dung được đâu là xe trâu hay thao tác cho trâu đạp lúa, chúng chỉ còn biết đến máy cày, máy tuốt; cũng chẳng còn ai biết đâu là giạ thóc mà chỉ nhìn thấy có bao thóc; ngay ngôn từ “jak padai” (giạ thóc), “rideh kabaw” (xe trâu) hay “nhwơ kabaw ppajwak” (bắt trâu vào đạp đống bó lúa) thế hệ @ cũng không hay không biết. Không nên trách và, không thể trách.

Mới bốn thập niên mà đã thế, huống hồ văn hóa biển Cham đã chìm khuất qua hơn hai thế kỉ. Có thể nói ngay khi Minh Mạng xuống lệnh cho tất cả palei Cham dời vào miệt trong, miệt trên, chẳng những vị vua này đã đóng dấu chấm hết truyền thống văn hóa biển Champa, mà còn góp công quyết định đưa tang cả ngàn từ vựng liên quan đến biển và nghề biển của nền văn hóa kia vào nghĩa trang chữ.

Biển, người Chăm có nhiều từ để chỉ nó. “Tathik” là biển; bên cạnh “tathik” tiếng Chăm còn có “darak”. Dân gian Chăm nói: “Laik tamư tathik praung darak praung”, nghĩa là chìm vào biển cả. Như vậy, “darak” vẫn là biển. “Darak” còn được dùng để chỉ chợ. “Nau darak”: đi chợ. Bởi chợ ngày trước luôn được họp cạnh bờ biển. Cũng phải thôi, người Chăm là dân sống với biển và nhờ biển, nên chợ lớn phải được họp cạnh bờ biển, và lắm lúc dựng ngay trên biển.

Cư dân Chăm c thường xuyên có mt ngoài khơi, ngoài đảo xa. Vì thế h đã có s giao lưu kinh tế văn hóa vi thế gii hi đảo Thái Bình Dương và n Độ Dương” (Nguyễn Đức Hiệp, 2006, “Lâm Ấp, Champa và di sản”, Vanchuongviet.org).

Cửa sông chạy ra biển tiếng Chăm là lammưngư, hay lơmngư. Xóm Cửa người Chăm gọi là “palei Lơmngư”. Biển xa và rộng, Chăm có chữ “tathik kuradong”, nghĩa là biển khơi. Lớn rộng và xa hơn nữa thì dùng từ “jallidi”: đại dương.

Dân tộc Chăm có máu phiêu lưu, phiêu lưu từ rất sớm. Sớm và xa. Sử sách ghi nhận ngay từ thế kỉ thứ IV, người Chăm đã đi tận Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Java, Malaysia… Vượt đại dương thì phải đi bằng tàu thuyền lớn. Máu phiêu lưu thể hiện ngay trong câu nói cửa miệng dân gian:

Mưtai di kraung, mưtai di tathik
Thei m
ưtai di danaw kabaw mư-ik takai palei.

Chết nơi biển rộng sông sâu
Ai đâu lại chết vũng trâu ven làng.

Nhưng không phải vì thế mà người Chăm ỷ lại thành mất cảnh giác. Bởi lắm lúc, Tapa truh tathik jơl di danaw: Qua khỏi biển sâu vướng ao nước cạn. Cuộc người trớ trêu là thế, anh hùng khi gấp cũng khoanh tay. Người Chăm đa thần, và sống quan hệ mật thiết với biển, cho nên trong đời sống tâm linh họ thờ Thần Sóng (Po Riyak), Thần Biển (Yang Tathik) là điều không lạ. Những lúc lên rừng xuống biển (Trun tathik đik glai) gặp bao bất trắc hiểm nguy, Chăm luôn cậy đến Thần Biển phò trợ độ trì.

Chú ý, Thần Biển chứ không phải Thổ Thần, cho dù đây cũng là vị thần có vị thế đáng kể trong đời sống tâm linh Chăm, nhưng chính Thần Biển mới đóng vai trò quan trọng. Than vãn, nếu người Việt kêu: trời đất ơi, thì người Chăm: Trời biển ơi (Lingik tathik lơy). Người Việt nhìn lên thấy trời, cúi xuống thấy đất; Chăm thì khác, dưới chân họ là mênh mông biển nước. Chăm có làm ruộng (đất), nhưng đó là cánh đồng miền Trung nhỏ hẹp bốn mùa hanh gió. Tổ tiên Chăm xưa chủ yếu sống bằng nghề biển, nhờ biển và với biển. Họ kêu trời kêu biển (Ew lingik ew tathik) chứ không phải “la trời la đất” như người Việt. Cũng vậy, người Chăm nói “tối trời tối biển” (Xup lingik xup tathik) khác với người Việt là: [Mưa] tối mù trời đất.

Hẹn giờ giấc lên rừng lấy củi cũng nói: Tuk ia tathik đik - Lúc thủy triều lên (khoảng 1 giờ sáng). Để chỉ kẻ “nói thánh nói tướng”, Chăm vận đến “biển” với thành ngữ Đom ngauk lingik ngauk tathik - Nói trên trời dưới biển. Gặp thế bí hay đường cùng, họ cũng lấy “biển” ra mà ví: Wơr glai yuw ralai di krưh tathik - Quẩn trí cùng đường như thân ralai giữa biển khơi.

Nghĩa là biển tràn ngập đời sống, văn chương và ngôn ngữ Chăm.

Tiếng nói bình dân ngày thường là vậy, trong văn học viết Chăm, biển cũng có mặt khắp. Để biểu thị cho mối quan hệ khăng khít của Ppo Tang Ahauk - một nhân vật trong lịch sử Champa cổ ở thế kỉ XVII - với biển cả, Damnưy Ppo Tang Ahauk viết:

Urang hu sang si đih
Ppo ngap anih dalam tathik
Urang hu sang si dauk
Ppo ngap danauk dalam tathik


Người có nhà để ngủ
Người cất chỗ trú giữa đại dương
Người có nhà để ở
Người lập nơi ngụ giữa đại dương.

Cuộc sống của ông không giống bất kì cuộc sống của một người nông dân nào khác mà định mệnh gắn liền với đất, vì đất liền không phải là quê hương của ông. Một cái nhà: không, một nơi cư trú cũng không nốt. Ông là chủ nhân đồng thời là tù nhân của biển cả. Biển cả là nơi ông sinh ra, tung hoành, tạo nên sự nghiệp rồi biến đi. Nội dung đoạn mở đầu của Damnưy được biến thành điệp đoạn, như đã thâu tóm cả cuộc sống và định mệnh của ông. Cạnh đó, Damnưy cũng không quên đề cập con tàu-ngôi nhà của ông:

Ahauk praung kluw pluh tajuh
Tagok m
ưk nhjuh bbauk chwai palau
Ahauk praung kluw pluh tajuh tapa
Tagok m
ưk ia bbauk chwai palau
Đik riyak khing đwơc
Yawa x
ơp ra pwơc dalam ahauk
Đik riyak khing nau
Dan
ưy xơp ra klau dalam ahauk

Tàu to ba mươi bảy
Pô lên kiếm củi trên cù lao
Tàu ba mươi bảy sải
Pô lên lấy nước trên cù lao
Cho tàu đi trên sóng
Nghe tiếng người nói vọng trong tàu
Cho tàu cưỡi sóng đi
Nghe tiếng người cười vang trong tàu

(Inrasara, 2011, Văn hc Chăm khái lun, Nxb. Tri Thức, tr. 50).

Đi biển, người Chăm chế tạo nhiều phương tiện với kích thước và hình dáng khác nhau. Thông dụng là thuyền (gilai), nhỏ hơn là ghe (gaiy), cạnh đó Chăm còn có “bè” (rakik) trên đó người ta có thể làm nhà để ở [Ariya Glơng Anak, câu 39: Bboh ra đik janưk patih tabiak mưrai/ Radơng di lamngư Pajai di bhum patih drei tak ni: Thấy người đi thuyền bầu lớn đi ra/ Ngưng ở cửa biển Phú Hài trên quê hương ta]. Thuyền cũng có loại thuyền độc mộc mà Chăm gọi là pluk, và thuyền bầu loại lớn (janưk patih) [Ariya Ppo Parơng, câu 99: Mưyah nau sang gơp o tapa/ Sa bauh gaiy xit tra ikak pagơm di tian rakik: Nếu muốn đi gặp nhau/ Họ phải nhờ đến chiếc ghe buộc vào thân bè]. Phương tiện lớn hơn là tàu (kapal) hay loại tàu lớn (ahauk, gilai ahauk) có khả năng viễn dương. Ppo Tang Ahauk đã sử dụng loại tàu này.

Tàu ông dài 37 sải tương đương với 60 mét - con số có phóng đại hay không ta không biết được, dẫu sao nó cho ta hình dung ông đang điều khiển con tàu rất lớn ở thời điểm đó của lịch sử. Con tàu chứa cả đoàn người cùng bao nhu yếu đáp ứng đầy đủ sinh hoạt của con người. Nó lớn đến không thể ghé đất liền mà chỉ tạt qua cù lao để lấy củi, nước ngọt. Tác giả Damnưy không cho ta biết tên cù lao, nhưng người đọc vẫn có thể tưởng tượng đó có thể là Cù Lao Chàm hay ít ra cũng là đảo Phú Quý của hôm nay.

Trong sử thi Chăm, thể loại văn học xuất hiện từ khá sớm, nhất là ở hai tác phẩm lớn là Akayet Inra Patra Akayet Dewa Mưno, biển và đại dương còn là bãi chiến trường cho các anh hùng tỉ thí.

Tajuh harei tajuh mưlơm o thei alah
Dwa urang sunit ginr
ơh tamư tathik kuradong
Dwa urang yw
ơ jiơng inư mưdaung
Dalam tathik kuradong m
ưratak gơp tanan
M
ưsuh gơp tajuh harei tajuh mưlơm
Tathik riyak lin m
ưklơm…

Bảy ngày đêm bất phân thắng bại
Hai kẻ kì tài kéo nhau vào đại dương
Cả hai biến thành loài thủy quái
Đâm chém nhau nơi ấy giữa trùng khơi biển cả
Bảy ngày đêm không ngưng nghỉ
Biển nổi sóng mịt mù…

(Inrasara, 2009, S thi Chăm, Nxb. Khoa học Xã hội, tr. 188)

Cuối cùng, trong văn học dân gian, biển cũng để dấu ấn rất đậm nét. Trong một truyện cổ, cuộc phiêu lưu kì thú của hai bạn thân là hoàng tử Pram Dit và Pram Lak ở những chi tiết gay cấn nhất chính là cuộc phiêu lưu dưới nhiều tầng biển.

Ngay cả truyền thuyết về người tạo dựng vương quốc Champa là Ppo Inư Nưgar, tức Bà Chúa Xứ, cũng gắn chặt với biển. Bà đã làm chuyến vượt biển đến tận xứ Tàu xa xôi, sau đó là cuộc trở về cũng bằng đường biển, để cuối rốt chính bà điều hành thủy quân Champa đánh đắm đoàn thuyền hoàng tử Trung Hoa trong trận thủy chiến oanh liệt. Truyền thuyết cho ta biết cuộc đi và về của vị tạo lập nước Champa gắn liền với biển.

Có thể nói, dù người Chăm nổi tiếng với kĩ thuật xây tháp gạch nung có một không hai, được thế giới biết đến với lúa Chiêm ngắn ngày, hay là dân tộc từng dựng nên hệ thống dẫn thủy nhập điền rất hiện đại, nhưng chính đời sống biển làm nên đặc tính Chăm, từ đó hình thành một nền văn hóa biển độc đáo.

Thế rồi, hiện giờ tất cả đang luân lạc nơi đâu? - Không biết!

Bấp bênh phận người, bấp bênh công sức của muôn người dựng nên một sự nghiệp, bấp bênh nền văn minh do cả cộng đồng người rộng lớn của mấy thế hệ tạo lập, là vậy. “Chúng ta vỡ lòng mốc bụi dĩ vãng”, một nhà văn đã nói thế. Tháng Tư vừa qua, để chuẩn bị cho buổi nói chuyện trong chương trình Sàn Art ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã thử làm mấy cuộc phỏng vấn. Không có nhà nghiên cứu Chăm và cả ngoài Chăm nào có thể trình bày rành rẽ nền văn hóa biển kia. Tuyệt không có ai, nói chi người của thế hệ trẻ. Chúng ta không thể hình dung được kapal, gilai, ahauk, rakik… Chăm xưa như thế nào. Chúng ta cũng không biết ông bà đã chế tác và sử dụng chúng ra sao. Chúng ta càng không còn biết đâu là vốn ngôn từ liên can đến chúng. Bao nhiêu ngôn từ đã chết, để được đưa vào nghĩa trang chữ?

Và nghĩa trang kia ở đâu, ai biết?!

I.R.S.R   
(SDB14/09-14)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Họ Nguyễn Tiên Điền của Nguyễn Du lừng danh như thế nào thì mọi người đã rõ. Nhưng gia phả họ Nguyễn này ở Tiên Điền thì cũng chỉ cho biết vị tổ khải tổ  là cụ Nguyễn Nhiệm (Nhậm), kế tiếp theo trực hệ là Nguyễn Đức Hành (Phương Trạch hầu) , Nguyễn Ôn, Nguyễn Thế, Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nghiễm (Xuân Quận công) thân phụ của Nguyễn Du.

  • Văn hóa đình làng từng có một vị trí hết sức quan trọng trong cộng đồng người dân sống ở chốn kinh kỳ Thăng Long - Kẻ Chợ xưa kia. Theo thống kê, ở khu phố cổ hiện nay vẫn còn hơn 60 ngôi đình trong tổng số 112 công trình tôn giáo tín ngưỡng từng có tại đây. Số phận những ngôi đình đó giờ ra sao, trong thời buổi kinh tế “mặt tiền thành tiền mặt”?

  • LÊ THỊ MÂY

    1
    Hơn mười ba năm về trước, kỳ vừa ngưng bom đạn, thường từ sớm chủ nhật, tôi đã về quanh quẩn với phố đổ rậm rì cỏ dại. Nhiều lần đếm đi đếm lại, cũng chỉ còn sót có mười bốn cây dừa, thân bị băm kín miểng bom. Tàn lá xơ xáp, đỏ cháy.

  • PHẠM HỮU THU

    Đầu tháng tư năm nay, tôi mới có dịp trở lại Hải Vân, bởi từ khi có hầm đường bộ, xe cộ ít qua lại con đường đèo quanh co, đầy hiểm nguy nhưng có cảnh quan tuyệt mỹ này.

  • Ngoài một dung lượng văn hóa tộc người đủ thỏa mãn độc giả thì công trình Mọi Kontum(1937) của Nguyễn Kỉnh Chi và Nguyễn Đổng Chi còn là một văn phẩm tạo được sức lôi cuốn, hấp dẫn đặc biệt. Tham luận góp phần lý giải thành công của tác phẩm trên ba phương diện: Lối khảo tả chân phương mà thấu đạt, trí tuệ sắc bén mà vẫn hồn hậu và văn phong ấn tượng.

  • Chỉ 15 năm, như chớp mắt, hàng loạt các công trình hiện đại đã hùng hổ đẩy những biểu tượng cũ của Sài Gòn đi sâu vào trong quá khứ, biến chúng thành những tiểu cảnh.

  • Dù có thể không sinh ra trên mảnh đất này nhưng đã là người Việt Nam ai cũng cảm nhận được một Hà Nội của chúng ta từ sông Hồng đỏ nặng phù sa đến Hồ Gươm lung linh truyền thuyết, Văn miếu - Quốc Tử Giám thâm nghiêm... Và cũng xao xuyến nhận ra một cái gì đó rất Hà Nội, của Hà Nội, từ mùa thu se sẽ lâng lâng đến đêm nồng nàn hoa sữa, cơn mưa tìm về phố cổ với màn sương lan nhẹ mặt Hồ Gươm...

  • Chợ Gôi ở xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có tự bao giờ? Câu hỏi thật khó và cũng chưa thể có câu trả lời đầy đủ. Mà cái tên nôm “Gôi” còn được dùng  để chỉ địa danh của nhiều nơi khác ở Việt Nam.

  • Vượt chặng đường hơn 50 km về hướng bắc, từ trung tâm thành phố Pleiku - tỉnh Gia Lai chúng tôi tìm đến làng Kon Solal ở xã Hà Tây, huyện Chư Păh - một trong vài ngôi làng nguyên sơ cuối cùng còn lại của đồng bào BaNa.

  • Đó là ngôi làng dưới chân núi Chư Mom Ray nhiều huyền thoại. Điều kỳ lạ là cả đứa trẻ 10 tuổi cũng nói được nhiều thứ tiếng, không chỉ tiếng của dân tộc khác, mà họ còn nói được tiếng Lào, Miên và những đứa trẻ được đi học thì tiếng Anh cũng không phải là ngoại lệ.

  • “Thất bại trước quân Triệu Đà tại Cổ Loa của An Dương Vương dẫn đến 1.000 năm Bắc thuộc là nỗi đau lớn của dân tộc Việt. Nhưng Cổ Loa không chỉ ghi dấu thất bại thiên thu. Mà đó còn là nơi Ngô Quyền chọn làm kinh đô ngay khi đại phá quân Nam Hán năm 938, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của nước việt với triều đình phương Bắc. Và điều này đang bị lãng quên...”.

  • Chùa Tiêu Sơn (thường gọi là chùa Tiêu) - một danh thắng nổi tiếng và cũng là - trung tâm Phật giáo cổ xưa của Việt Nam.

  • Đền Quả Sơn ở Bạch Ngọc nay là xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương thờ Lý Nhật Quang. Ngài là con thứ tám của vua Lý Thái Tổ, được phong tước Uy Minh vương. Mùa xuân năm 1902, Nguyễn Sinh Cung  trên nẻo đường theo cha đi dạy học, thăm thú quê hương có đến chiêm bái đền Quả Sơn - một trong bốn ngôi đền linh thiêng nhất của tỉnh Nghệ.

  • Hát ví Sông La (tên gọi một làn điệu ví của Xứ Nghệ; cũng có thể hiểu là điệu ví ở sông La) tham luận này đề cập giới hạn những điệu ví ra đời, tồn tạị, phát triển ở vùng sông La, miền Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

  • Chùa Nền, phường Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội, được xây dựng từ thời vua Lý Thần Tông (1116–1138), bài trí thờ Phật và song thân của thiền sư Từ Đạo Hạnh là ngài Từ Vinh và bà Tằng Thị Loan.

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG

    Những năm cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, ngành Dân tộc học Việt Nam nói chung và miền Trung Tây Nguyên nói riêng được các nhà khoa học, chính trị, bác sĩ của Pháp tiến hành nghiên cứu và công bố nhiều tác phẩm có giá trị.

  • (SHO) Cứ hễ nhắc tới miền Trung, mỗi người Việt Nam có thể mường tượng ngay ra trong đầu những vùng đất của thiên tai triền miên. Miền đất, nơi mà từ tấm bé cho tới khi lìa đời dường như đều gắn với con chữ nghèo và sớm sương mưa nắng lận đận mưu sinh.

  • (SHO) Vậy là tôi đã ở Miền Tây mênh mang sông nước! Tôi đã đặt chân lên bến Ninh Kiều Cần Thơ và ấp Mũi Cà Mau! Tôi đã đi tàu ca nô trên những con kênh, con lạch mà hai bên bờ mọc đầy những cây đước, cây tràm…

  • Huế xưa – nay, Huế của khúc ruột nước non, chứa đựng trong mình cả một bề dày lịch sử thông qua nét trầm mặc cổ kính của những lăng tẩm, cung điện, chùa chiền… Nhưng có lẽ ít ai biết, Huế vẫn còn ẩn chứa trong mình một A Lưới - vùng đất nổi tiếng với những phong cảnh thiên nhiên kỳ thú và trầm lắng nhiều giá trị văn hoá cổ xưa của cộng đồng các dân tộc thiểu số.

  • LÊ QUANG THÁI

    Ngày sinh, nơi sinh, ngày mất, nơi mất, nơi an táng, nơi cát táng là những mốc thời gian quan trọng, đáng nhớ của đời người và con cháu vì dân gian coi đó là việc thể hiện hiếu đạo đối với người đã mất, với tổ tiên, ông bà: Sống nhà thác mồ.