"Chắc chết chưa?" "Giờ khắc cuối cùng ngắt cuộc đời đã điểm chưa?" - Tôi cứ tự lảm nhảm hỏi mình như thế, trong hôn mê, trong siêu tỉnh, bàng hoàng. Chỉ vì cơn rét đột ngột. Mẹ kiếp! cơn rét không dự báo. Lẩm nhẩm kiểm trong óc những vốn kiến thức fônclo đã được thụ giáo, bèn thấy láng máng một khái niệm rét: Rét Nàng Bân, ăn vào tháng 3 âm lịch này. Nhưng năm nay lại nhuận. Đâm ra cái thứ rét khốn nạn này nó lại được hành người ta, hành thập loại chúng sinh những hai lần. Và điều quan trọng là cái thân tôi cũng đang phiêu bồng lơ lửng ở tầng trệt lầm bụi trong cái cõi đặc sệt thập loại chúng sinh ấy. "Ôi chao!" - Tôi rên ư ử như một con chó ốm nửa mê, nửa tỉnh, rồi cong cổ gọi vóng lên, thê thảm - "Y sĩ trưởng trạm xá đâu? Hở trời!". Nhưng điều tôi gầm gọi ấy kỳ thực lại không phải là y sĩ, không phải là người sành nghề chữa bệnh, vì sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Mà là một cô gái đẹp, không ở nét mặt, không ở đôi mắt, có thể chỉ ở răng, và một khí chất quyết liệt dám hết mình, pha chút bướng bỉnh, trộn tí ti nhột nhát và ngốc nghếch. - "Y sĩ đâu rồi? Để tôi chết ở đây đấy à? hả? hả? Ôi! Rét quá. Mà sự tích Nàng Bân thì đẹp quá, chung thủy quá. Chỉ có chậm và vụng thôi. Chỉ có tấm áo rét xong vào mùa hè, thế thôi, chứ còn thì tuyệt vời lắm, hết mọi nhẽ. Úi giời ơi!... Y sĩ đâu! Cô y sĩ đâu! Bớ cô y sĩ!".
Một giọng trầm, khàn, khao khao, mệt nhọc, rán sức hợp với một thứ tính bản năng cất lên:
- Em đây. Làm sao mà anh rống lên như thế? Quẫy đập la hết như thế tổn sức lắm đó.
Thế là tôi im thít, nằm nem nép như đứa trẻ thấy hơi lòng mẹ, tay mẹ, vú mẹ. Thấy người ấm dần, tôi có được cảm giác: thừa nhận là mình đang sống. Liệu mà tử tế. Tôi yên lặng nữa, nữa. Bằng trách nhiệm chuyên môn, cô bắt mạch tôi, đo huyết áp, lấy thêm một túi chờm nước nóng nữa đặt áp vào phía ngực trái tôi. Rồi tự nhiên bắt đầu nói, một mạch, liên tục, lưu loát và đầy ngữ khí. Những lời cô như sau:
Cái thứ nhà văn các anh dơ dáng lắm, nhầm lẫn lắm, làm hại nhiều người lắm. Đó là, em đứng vào mặt nghề y của em mà nói như vậy. Anh có biết vì sao hôm nay; mải đến tận bây giờ em mới đến được với anh không? Thôi, đừng định trả lời, đừng định mấp máy. Cái thứ môi các anh tuy có đỏ đắn thật đấy, đầy đặn đấy, hôn thì thích, thì đã đấy, nhưng chẳng được ích lợi gì. Của đáng tội, cũng cảm thấy mình được là Người hơn một chút. Vậy thôi. Hừ! "Ai trên đời chẳng có miệng - Miệng thì có đôi môi - Miệng làm khổ thân tôi - Tôi thà câm cái miệng - Nói làm chi cho thêm chuyện - Nói bằng miệng mà hôn bằng môi". Đó, anh đã biết lời hát ấy chưa? Từ "Huyền thoại mẹ” của Trịnh Công Sơn mà ra đến miệng đến môi, vậy mới thánh chứ. Nào. bây giờ vào việc của em với anh nhé. Từ sáng sớm, khi người ta - những cán bộ kiểm lâm của khu rừng già đại ngàn này - khiêng anh vào, cả ba-lô, tăng, võng, cả giấy tờ tỏ ra chính xác: Anh là một người khùng, tuy là một nhà văn, đang đi bộ xuyên Việt, không phòng ngừa tử tế, chủ quan với rét tháng ba đột ngột. Nên bị cảm lạnh, may chưa là cảm nhập tâm, nằm như chết giữa đường, nghe nói, mắt vuốt cũng không nhắm. Người ta hoảng quá, tuy đều là người ở rừng, cáng anh cấp tốc đến em. Cho anh một mũi long não ngay thôi, rồi đành để anh nằm đó. Bởi vị bao tiếng gọi, gọi em. Y sĩ trưởng trạm xá lại nhận một mình trực ngày chủ nhật, ai dè, nó thế. Cái thân kiếp mình nó thế, biết làm sao? Có tới 5 bà cụ, tuổi từ 70 đến 120 cũng trúng phong, cảm lạnh đột ngột, được khiêng, cáng, võng, cõng, địu đẩy trên xuồng, trên mảng, trên thuyền thúng, đưa đến trạm xá em. Một cụ đã chết cóng trên võng, trước khi em được nhận. Và 27 cháu bé, từ sơ sinh đến 9 tuổi, tự nhiên ho hen, rũ rượi, tức thở...
Như thế thì cái con Bân được hàng nghìn năm những thứ nhà văn nhà thơ các anh ca ngợi, véo von, hết mình và hết lưỡi mình, nó là cái thứ con gì? Để em kể cho mà nghe.
Nhà ấy có tất cả 9 chị em. Tên lần lượt không ai mà nhớ nổi. Bởi vì, có nhiều người không hề đi vào lịch sử. Tầm thường chăng? Nhạt nhẽo chăng? Mãi gồng gánh chăng? Bấn, Bần, Bẩn, Bẫn, Bận... gì gì đó, đại để vậy. Chỉ biết cô út là Nàng Bân. Cả 9 chị em đều có chồng. Cả 9 người chồng đều phải tuân lệnh nhà vua, đi lên, cơm nắm, áo gói, để đắp, để vác, để đào, để quần quật đến thổ ra máu mình cho một trường thành ngoằn ngoèo như rắn, như rồng, như đẻn. Con đẻn to đến mức từ trên mặt trăng nhìn vọng về cũng thấy.
Mùa đông bình dị tuần tự đến theo cữ một, chạp. Tiếng gọi của cái rét, tiếng gọi của những người chồng đắp thành đang run rẩy, mồ hôi đọng thành những giọt băng đắng cay, vọng tới tai cả 9 người vợ nơi thôn ổ đìu hiu này. Cả 9 chị em ngồi quây tròn, đan áo. Những ngọn kim đan nhấp nhô như đỉnh sóng tới tấp, ào ạt. Sóng thương, sóng nhớ, sóng thủy chung. Nhưng mới được đến hết cái gấu áo, thì chỉ còn 8 người chị ngồi đan. Bân, riêng Bân xinh đẹp nõn nường nhất nhà đã đành, lại còn nhiều nết lạ. Một là: có đôi tay ngà ngọc, với những ngón thuôn dài tháp bút, làm gì cũng chóng mỏi, hay ngừng lại, thẩn thờ. Hai là: có đôi màng nhĩ thính nhậy lạ thường và đôi vành tai mỏng mảnh hay dỏng lên, lắng nghe. Đặc biệt khoái cảm, tê mê với những tiếng vo ve, tiếng cánh các loài trùng thân đốt: ong, bướm, chuồn chuồn... kiểu ấy. Cho nên, chẳng biết tự lúc nào, cô nàng đã lỏn ra giữa cánh đồng hoa chan cỏ lác sau làng, hình như lại bên một con sông nước trong leo lẻo, vừa như ngọc bích, vừa như mắt mèo nữa, cứ thế, cứ thế... Tám người chị miệt mài đan áo, lại dệt đắp thêm lần lót, trần vào đủ thứ ấm áp, từ kén tằm tới bông nõn, ấp cả lá cỏ thi phơi khô từ mùa trước... thành 8 tấm áo gởi lên phía Bắc, Hàn thành. Tám người chồng nhận được kịp thời, trước phút lả rụi đi vì rét. Họ buộc phải xé từng tấm, tróc từng sợi, lấy dây đai thắng ngựa kéo đá, xé tước ra, buộc dúm vào, cắn răng thít nút, lại quờ thêm dưới chân những mảnh bao bố đắp tử thi, sắp mủn nát mà ấm hơi cõi âm, buộc, tết, xoắn, thít thêm vào, đủ một manh áo quàng cho chồng nàng Bân - người em út cọc chèo, đồng hao của họ. Nhờ vậy, cả 9 anh em đều được cùng sống, đủ sức chờ đến mặt trời chói lói, nhễ nhại và hả hê mùa hè.
Bân thì vẫn đang óng ả giữa cánh đồng hoa chan với cỏ lác, áp con sông sau làng, vừa đi, vừa nhún nhún những bước chân, gót hông. Giá như chỉ có mình nó, thì nhún mãi rồi cũng mỏi, thì cũng đói, thì cũng phải về. Và nếu về thì chắc nó cũng sẽ tiếp tục đan áo, có thể chậm hơn tí chút, nhưng chỉ là một vài ngày. Và 8 chị nó đều là những người khoan dung, chắc sẽ chờ để cùng gửi đi một lượt.
Hại thay, ác thay, hay hạnh phúc thay, tốt lành thay - tùy từng tâm người -: Trời trông thấy Bân. Đấng bậc thượng đẳng ấy, hay lão tặc thiên ấy, kẻ bão hòa quyền phép, đã nhìn thấy một đàn bà. Lại nữa, một đàn bà đẹp nõn. Lại nữa, đang nhởn nhơ, nhún nhún. Trời cười híp mí. Đấy là lúc mà người thường dưới mặt đất nức nở và đẫm mồ hôi này thấy những nếp mây tự nhiên chúm lại. Và gã sà xuống. Bân thấy một vầng mây ngũ sắc ngời ngợi tự nhiên quẩn lấy chân mình, phía sau hơi đậm hơn, vần vũ nơi đôi chân trần của cô lộ đến khoeo, còn phía trước bồng bềnh bốn nếp váy cửa võng. Văng vẳng bên tai cô nghe tiếng một người đàn ông, có thể già lắm, da nhăn nheo, nếp mắt bũng nhũng, miệng nhệch nhạc cười, lại cũng có thể tiếng một trai tơ cuồn cuộn những gân đỏ, những mấu xanh, những cờ biển đốc đồng. Những tiếng ấy như sau:
- "Sao em đẹp thế? Và em có chồng hay chưa, ta không cần biết. Em có biết ai đang nói đấy không? Ta đây, Trời đây, Trời đây. Mênh mông trên cả đầu em, cả làng em, cả con sông và tất thảy những bông hoa kia nữa, cả nghìn ngọn núi kia và cả vầng mặt trời kia nữa. Ta ngỏ lời cùng em. Hãy đi cùng ta, vui cùng ta, ngủ với ta. Hãy tin ta đi. Nếu ngờ ngợ hãy thử nhún nhún chân lên, em sẽ bay lên ngay tức khắc".
Bân thoáng sợ, chỉ vì không nhìn thấy một mặt người, nhưng đầm đìa, tiếng thầm thì oai nghiêm đầy ma lực ấy là có thật, mây ngũ sắc dưới chân là có thật. Và nỗi hám hổ muốn bay cao, muốn chỉ một nhún chân mà được bay, kể cả nỗi rạo rực chờ phút được ngủ với Trời ở trong nó là có thật. Cho nên, cô nhún chân và tức khắc bay lên. Những chuyện mê ly sau đó, không nói, ai cũng đều có thể đoán được. Chỉ cần lưu ý một điều: Một ngày trên thứ đó, trên 9 tầng mây đó, bằng ít nhất cũng là một tháng dưới nơi trần gian khổ ải, đẫm mồ hôi và nước mắt này, cũng chan hòa tiếng cười chân thật tự do này. Ba ngày, 9 lần ngủ với Trời. Trời vốn khoẻ lắm. Nhưng cũng biết giải lao. Bân về được đến làng thì mùa đông đã trôi qua, lửa lựu đã bừng nở, dường như cháy lên ở mỗi đầu hè, ngõ xóm. Hè đến rồi. Và cùng với mặt trời nóng bỏng, những lời đàm tiếu làm rất bỏng không chỉ đôi má cô, mà cả con người cô, từng phân vuông da thịt, không chừa chỗ nào. Cô xấu hổ, cô thấy mình có tội. Nhưng bàn chân ra cánh đồng cỏ hoa nơi có những đám mây ngũ sắc sẵn sàng đón chờ nâng hứng lên đã quen thói mất rồi. Cô lại chạy ra. Trời đã ở đó sẵn, thấy Bân, cười vang. Thường nhân liền nghe những tiếng sấm bất thần khà khà khà rền dài. Và một lúc thì trời mưa, những giọt mưa thưa thớt, không đủ làm mát một giàn hoa dâm bụt. Ấy là Bân khóc khi đang tựa vào vai trời, đang ấp mặt mình trong nách trời. Sau đây là tiếng nức nở, lõm bõm thành lời của nó: "Trời ơi! Em đến với Ngài, lú mất việc đan áo rét cho chồng em. Cả làng, cây cây, hoa hoa, lá lá nữa, rủa nguyền em, móc máy em. Em khổ lắm. Em tội lắm. Sao đến cùng Ngài, ngủ cùng Ngài, phỉ nguyền, diễm phúc đến thế, lại phải chịu bấy chầy ê chề như vậy?".
- Nào, hãy vui lên, hãy cười lên, hãy ngủ cùng ta lần nữa. Em quên ư? Nóng, lạnh, sấm, chớp, sao rụng, núi lửa phun, biển dâng lên, những loài khủng long tuyệt diệt, chó đá thoắt há mồm, thoắt ngậm miệng... tất cả đều trong tay ta, từ tay ta, do ý chí mình ta. Hãy ngủ cùng ta đêm nay nữa, hết mình dâng hiến, yêu ta, ngày mai trời rét, khó gì. Và đây, sẵn tấm áo của Thiên đường dành cho em gửi cho thằng khốn khổ dây khốn kiếp đã cả gan đi trước ta trong thân thể em. Đó, cầm lấy cho chắc, đừng đánh rơi trong khi nở nụ cười ra, nở cánh tay ra, nở đôi chân ra, nở cả người em ra cho ta. Thế đấy! Tốt! Rất tốt!...
Bân đã y ý Trời.
Thế là ngày hôm sau, một đợt rét ác liệt ùa ập đến. Chàng trai chồng Bân đang cởi trần dưới mặt trời nóng bỏng đắp thành, nhễ nhại mồ hôi, bỗng khô cứng người vì rét. Cả 8 người anh cọc chèo cũng thế. Thì ngựa lưu tinh, trên lưng là người áo xanh, nẹp đỏ, đội mũ chóp, như bay đến, ném cho anh ta một tấm áo long lanh, thơm phức những mùi hương lạ. Vừa như hương địa lan cao quý, hương ngâu thanh khiết từ làng quê, từ ngôi nhà chồng vợ, lại có hương rơm, hương cỏ thi của lần giao hòa đầu tiên của đôi người tình: Anh và Bân. Bây giờ, đến lượt anh xé tấm áo thành 9 mảnh, chia đều cho 9 người anh. Cả 9 sống sót vượt qua được cái rét đột ngột, ập đến giữa tháng Ba.
Từ ấy, anh truyền tụng, cả 8 người anh nữa, truyền tụng mê lú về sự tuyệt vời chung thủy và đúng lúc, lại đặc biệt của Nàng Bân.
Sau đó, đến lượt các nhà văn, nhà thơ, nống Bân lên tót vời, truyền tụng, ngợi ca nức nở đến muôn đời.
Còn bây giờ là tháng 3 nhuận, hôm nay, một nhà văn đi bộ đột ngột cảm, bị xếp xó từ sáng sau một mũi long não. 5 bà già khênh đến trạm xá, 1 bà chết. 27 cháu bé nữa, 6 đứa chết.
Và một nữ y sĩ trạm trưởng mệt bã bời, bây giờ mới thấy rét, cái rét từ trong xương cốt thốc ra, kinh khủng.
- Cái áo Bân ấy, là "áo độc" - Tôi lầm bầm.
Em, cô y sĩ đầy cuồng nộ, uể oải, mà bây giờ bỗng dịu dàng, đằm thắm kỳ lạ, bảo tôi:
- Em lạnh lắm. Anh hãy là cái Áo cho em đi, giữa lúc này. Và em hiểu, em nói trước cho anh đủ can đảm nữa: Đó không phải là Áo Độc. Đây lại không phải là trên trời.
- Em ơi, Tôi cũng nghĩ như thế.
Tôi không lẩm bẩm nữa. Tôi điềm đạm và rành rọt nói. Và vươn vai, ngồi dậy...
Huế, chiều 16.5.1993
H.V
(TCSH59/01-1994)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.