NGUYỄN THỊ KIM THOA
Em có cái tên mộc mạc như củ khoai củ sắn, như trái thơm trái cà ở nhiều vùng quê thôn dã: Lê Thị Sim.
Minh họa: ĐẶNG MẬU TỰU
Quê em ở Lăng Cô, một làng nhỏ dưới chân hai ngọn đèo Hải Vân và Phú Gia. Du khách qua đèo Hải Vân hay đèo Phú Gia, nhìn xuống vịnh Lăng Cô trong một buổi chiều tà, có lẽ không bao giờ quên được màu óng vàng của những con sóng nhấp nhô, thấp thoáng những bông lau màu bạc trắng. Lăng Cô thật đẹp tuyệt vời.
Bé Sim rời làng quê xinh đẹp đó ở tuổi lên ba, em theo người cô vào sinh sống ở thành phố Ðà Nẵng, sau khi cha mẹ và em trai chưa tròn tháng tu- ổi đã chết trong một đêm chiến tranh ập xuống nơi này.
Em lớn lên trong gia đình người cô, sống nhờ một gánh bún bò bán hàng ngày bên vỉa hè đường phố. Lên năm em phải phụ giúp cô rửa bát, bưng bê hàng ăn, rót nước cho khách. Cô em phải lam lũ suốt ngày để nuôi ăn cả gia đình gồm một ông chồng thất nghiệp, nghiện ngập chỉ biết la mắng khi không có đồ nhấm nháp và ba đứa con nhỏ dại. Em không được đến trường như những đứa trẻ cùng trang lứa. Ngoài thời gian phụ giúp cô bán bún em còn phải chăm bẳm ba đứa em nhỏ.
Một ngày các khớp cổ tay, cổ chân của em sưng đỏ và đau, em vẫn cố gắng làm việc giúp cô, rồi đến khi không làm được nữa, người cô nhờ một bác xe thồ hàng xóm đưa em vào bệnh viện.
Bé Sim mười ba tuổi, còi cọc, gầy đét trông như một em bé lên bảy lên tám thiếu ăn lâu ngày. Thế nhưng nơi em toát lên vẻ chân thật dễ mến, khờ dại nhưng đôi lúc lại sâu sắc lạ thường.
Em vào điều trị ba hôm, các triệu chứng đau nhức, sưng đỏ ở các khớp giảm hẳn. Em được ra viện với chẩn đoán: thấp khớp cấp, chúng tôi hẹn ngày tái khám tiêm phòng thấp cho em. Và rồi tôi quên em như quên bao nhiêu bệnh nhân khác đến rồi đi. Tháng sau em không đến tiêm phòng chúng tôi cũng không thắc mắc gì, cứ thế thời gian trôi qua.
Bốn tháng sau, em nhập viện lần thứ hai, cũng với triệu chứng sưng đau các khớp cổ tay và cổ chân. Trong phòng làm việc, tôi cũng như các bác sĩ khác, ai cũng trách gia đình không quan tâm đến bé, không theo sự hướng dẫn của bác sĩ để bệnh tái phát. Tôi nói với người nhà:
- Mỗi tháng tiêm phòng có một lần, sao anh không đưa cháu đến, chẳng may bị biến chứng ở tim thì khó lòng điều trị khỏi. Không có tiền mua thuốc, chúng tôi có thể dùng thuốc viện trợ, sao anh chẳng nói năng gì?
Người đàn ông đi theo em bé ấp úng trả lời:
- Thưa bác, gia đình không có tiền mua thuốc đã đành, nhưng qui định của khoa phòng là chỉ tiêm thuốc khi có cha hay mẹ đi kèm. Bé Sim chẳng còn cha mẹ, người cô của em thì bận kế sinh nhai, nghỉ ngày nào là ngày đó cả nhà đói. Tôi chỉ là người hàng xóm được thuê đi giúp, tôi không phải là thân nhân, nên không dám để cháu chích thuốc, ngộ có chuyện gì thì sao. Nghe thế tôi bèn nói:
- Chúng tôi cần gặp người nhà một lần để giải thích những tai biến có thể xảy ra khi dùng thuốc. Ðó là một thận trong trong nghề nghiệp mà thôi.
Thế nhưng việc điều trị lần này không đơn giản như lần trước, các triệu chứng của khớp không giảm nhanh như lần đầu, trái lại nó còn biến dạng. Chúng tôi đã nhầm, đây là một trường hợp viêm khớp thiếu niên chứ không phải là một trường hợp thấp khớp đơn thuần. Thế là phải điều trị lâu dài hơn. Khi nghe tôi bảo phải nằm lại nhiều ngày, bé Sim òa lên khóc, em nói với tôi:
- Không được đâu bác ơi, con phải về thôi, không ai phụ giúp cô con ở nhà, bác cố gắng chữa cho con mau lành, con không thể ở đây lâu được.
Dù bé Sim có nói thế nào, chúng tôi cũng không để cho em ra về. Và thực tế em cũng không ra về được, bởi bệnh trạng của em đã nặng lắm rồi. Em chẳng còn đủ sức để phụ giúp cô ở gánh bún và chăm sóc các em con cô ở nhà. Tôi thuyết phục em nằm viện. Em cũng nhận ra là không thể làm gì được trong tình hình sức khỏe như thế. Em đành ở lại bệnh viện thôi. Những ngày tiếp theo tôi biết thêm ở Sim nhiều điều: toàn là những điều bất hạnh. Em chẳng biết đọc, biết viết, ngay cả biết đếm. Té ra em chưa một lần đến trường như những đứa trẻ cùng trang lứa. Một lần tôi hỏi: "Nhà em có bao nhiêu người?" Em nhìn tôi bẽn lẽn đưa một bàn tay xòe năm ngón, rồi đưa thêm một ngón nữa ở bàn tay kia. Tôi lại hỏi: "Mỗi bữa nhà em nấu bao nhiêu lon gạo?" Em lại cười vừa chỉ tay lên giường vừa nói: "Ðây một lon, đó một lon, đó một lon, đây một lon". Tôi bật cười lớn làm em hỗ thẹn bấu nhẹ tay tôi. Tôi cười mà lòng quặn thắt, té ra em cũng chưa biết đếm. Từ đó tôi bày em học đếm, viết và đọc tên của mình.
Một hôm vào rằm tháng Tư âm lịch, ngày Phật Ðản. Nhà chùa đi phát chẩn cho bệnh nhân. Mỗi em được môt hộp sữa đặc, nửa cân đường, một gói mì chay ăn liền. Sáng hôm đó bé Sim bận đi làm xét nghiệm nên không có phần. Nhà chùa chỉ tặng cho những người có mặt. Lúc về biết mình không có quà, em buồn buồn, lên giường nằm quay mặt vào tường kéo chăn đắp kín. Thấy vậy tôi bèn nói với các bà con nuôi bệnh: "Lộc nhà chùa, các cô, các bác nhường lại cho em một ít". Ai cũng tán đồng đề nghị của tôi. Người nhường gói mì, người nhường lon sữa, người nhường gói đường. Rốt lại phần của em nhiều hơn ai hết, em nhoẻn miệng cười và nói: "Con chỉ nhận một gói mì thôi, các em bé khác còn nhỏ cần ăn nhiều hơn, con chỉ buồn vì nhà chùa không nhớ đến người vắng mặt".
Rồi một buổi chiều lúc tôi rảnh rỗi, em vào phòng làm việc của tôi và hỏi:
- Bác ơi, ông Phật là ai, bà Phật là ai, ăn chay để làm gì?
Tôi ngỡ ngàng trước câu hỏi của em, nhưng rồi cũng trả lời:
- Ông Phật là người đã tìm cho mình và chỉ cho bất cứ ai muốn nghe con đường và cách thoát khỏi những đau buồn khổ cực trong cuộc sống hàng ngày. Ông ấy hồi nhỏ tên là Tất Ðạt Ða con vua Tịnh Phạn ở nước Ca Tì La Vệ. Bà Phật, người ta thường gọi là Phật bà Quán Thế Âm, một người chỉ xuất hiện khi ta bị tai ương hoạn nạn, và thành tâm khấn vái. Bác cũng chỉ nghe người ta nói như thế chứ thật hư thế nào bác cũng không tường tận. Ăn chay là ăn các thức ăn không làm đau đớn chết chóc cho bất cứ một con vật nào và chỉ ăn cho vừa đủ sự sống hàng ngày. Ăn chay là một trong rất nhiều cách mà ông Phật đã dạy chúng ta với mục đích là giảm bớt và diệt trừ sự đau khổ, tôn trọng sự sống của mỗi người và của tất cả vật sống chung quanh. Ăn chay cũng để nhắc nhở mình làm điều lành tránh điều dữ, nhớ điều thiện quên điều ác, thương yêu hết thảy mọi người mọi vật.
- Thế bác có ăn chay không?
- Bác có ăn chay, hồi nhỏ ở nhà cha mẹ ăn chay mỗi tháng bốn ngày. Thời đi làm có lúc ăn nhiều hơn.
Ðể trả lời bé Sim, tôi đã tập trung và cố gắng hết sức để em hiểu lời nói của tôi. Chẳng biết em hiểu được bao nhiêu phần. Tôi chỉ thấy em há hốc mồm để nghe.
- Mấy năm qua con chỉ quanh quẩn với các em ở căn lều của cô dượng, lăng xăng phụ giúp cô ở gánh bún. Con không được nghe và biết nhiều điều mới lạ như khi vào nằm điều trị ở đây. Con thấy bác dễ dàng nói chuyện nên con mới dám hỏi, bác đừng la con nhé.
Những lời chơn chất của Sim làm tôi xúc động. Tôi quyết định trả lời câu hỏi hồn nhiên, tội nghiệp của em mà đối với tôi trong tình thế ấy quả là rất khó. Cái khó nhất bởi em vẫn còn là một đứa bé chưa biết chữ nghĩa, văn hóa.
Rồi một buổi sáng, khám bệnh cho em, tôi thấy Sim sốt nhẹ, em có vẻ mệt hơn những ngày trước, mặc dầu các khớp bớt đau, da em vẫn xanh tái. Kiểm tra lại hồng cầu, em thiếu máu nhiều quá, trong dòng bạch cầu lại có gì nghi ngờ, các bác sĩ xét nghiệm muốn kiểm tra lại mặc dù trước đó em cũng đã phải thử máu nhiều lần kể cả làm tủy đồ. Có gì nữa đây? Tôi băn khoăn tự hỏi. Nhưng tình hình này tôi phải chuyền máu cho em.
Hôm đó phòng trữ máu không còn máu thuộc nhóm AB mà em cần. Tôi đến gặp chị phó khoa hỏi xem trong danh sách những người hiến máu tự nguyện có ai cùng nhóm máu với em hay không? May mắn là có một người. Chúng tôi gọi điện cho anh ấy, và cũng may anh ta đang có ở nhà.
Khi nghe nói lấy máu người khác để chuyền cho mình, em bảo với tôi:
- Bác ơi, đêm qua con nằm mơ thấy ba mẹ, ba mẹ bảo rằng bệnh của con không chữa được. Con còn sống ngày nào không nên làm phiền người khác. Bác cũng không nên lấy máu của ai đó mà chuyền cho con, lại làm đau thêm một người mà chẳng ích gì?
- Không đâu, con cứ yên tâm mà nhận máu của anh ấy, nếu không cho con số lượng máu đó, 120 ngày sau các hồng cầu này cũng sẽ chết, anh ấy còn khỏe, còn có thể tạo ra những hồng cầu khác trẻ hơn, mạnh hơn, như vậy vừa tốt cho con vừa tốt cho anh ấy".
Chừng em hiểu ra và đồng ý để chúng tôi chuyền máu.
Buổi chiều hôm ấy, như thường lệ, tôi khám lại bệnh nặng và xem kết quả xét nghiệm đã làm trong buổi sáng. Tôi bàng hoàng khi nhận thấy kết quả xét nghiệm máu của bé Sim: Bạch cầu cấp. Lòng tôi chùng lại, một trường hợp bệnh lí phải qua nhiều lần xét ng- hiệm mới để lộ đầy đủ triệu chứng.
Sau cái lần chuyền máu đó, bé Sim như khỏe lên, da và niêm mạc hồng hào hơn, trông em có vẻ chong chẩy, nhưng trong phòng từ bác sĩ đến y tá không ai không buồn.
Ngày hôm sau khám bệnh cho em xong tôi bảo: "Bây giờ bác phải chuyển con đến điều trị ở phòng bệnh về máu. Ở đó cũng có bác sĩ và y tá như ở đây, con sẽ có những người bạn có bệnh giống như con để chuyện trò, thỉnh thoảng nếu muốn con có thể trở lại đây chơi". Em tỏ ra bịn rịn.
Những ngày sau đó đôi lần tôi gặp lại em ở đầu cầu thang, nơi tôi lên xuống làm việc. Em thường hay đem bát, chén, ca mem đi lấy cháo từ thiện của các xơ dòng Thánh Tâm vào buổi sáng. Không những lấy cho mình, em còn lấy giùm cho các bà mẹ có con nhỏ. Mỗi lần gặp tôi em thường lễ phép chào và mỉm cười thân tín.
Một buổi chiều tôi gặp lại em trong phòng chơi của các bệnh nhi. Em đang cắm cúi vẽ. Bức tranh đẹp một cách ngộ nghĩnh. Bốn chiếc lá có màu sắc khác nhau trên nền màu xám đục. Một chiếc màu vàng, một chiếc màu nâu, một chiếc màu cam và một chiếc màu xanh chỉ còn trơ vài cóng lá. Tôi hỏi em vẽ cái gì, em bảo: "Ðây là bốn chiếc lá, cái này là ba con, cái này là mẹ con, cái này là em con; ba cái màu nâu, màu vàng và màu cam đã khô chết rồi, cái này màu xanh là con, còn sống nhưng chỉ còn mấy cọng xương thôi". Rồi em nấn nót viết lên một góc bức tranh chữ Sim: "Con vẽ tặng bác đó". Cầm tờ tranh mộc mạc trên tay, tôi vô cùng xúc động và đồng thời như thấy được an ủi, liền nói: "Bác thấy rồi, đây một lá, đó một lá, đó một lá, đây một lá". Em cười và bấu vào tay tôi như mỗi lần tôi chọc quê em.
Một đêm trực, vào những ngày chuẩn bị đón Tết. Ở tiền sảnh cổng trước, một chậu mai vàng đang nở rộ, hai bên hành lang cây cảnh được cắt xén cẩn thận, trên các lối đi trong bệnh viện đó đây từng đám vỏ hạt dưa vất bừa bãi mà các chị y công không thể nào quét dọn kịp.
Một giờ khuya, tôi đang trực tai phòng cấp cứu hồi sức, tiếng chuông điện thoại réo lên, bên kia đầu giây tiếng chị y tá khẩn báo: phòng bệnh máu có bệnh nhân trở nặng. Tôi vội vàng chạy một bước hai ba bậc thang, đến nơi chưa kịp thở đều lại, tôi đã thấy bé Sim nằm yên, miệng em tràn đầy máu. Chị y tá đứng bên cạnh đang cho em thở oxy và làm vệ sinh cho em. Thấy tôi em cố gượng cười, nụ cười trên khuông mặt không còn một chút sinh khí. Tôi cho y lệnh chuyền máu khẩn. Khi nghe tôi bảo chuyền máu em thều thào bảo:
- Thôi bác, con đã chuyền năm sáu bịch máu kể từ lúc vào đây, con đã nhờ các chị, các bác nhiều quá rồi, bác không nên tốn công nữa".
Tôi cầm bàn tay lạnh ngắt của em, cùng chị y tá cố tìm một đường vein nhỏ tạm chuyền nước biển để giữ mạch. Chỉ trong chốc lát, bàn tay em buông thỏng, mắt em lim dim nhắm lại. Em nở nụ cười héo hắt trên đôi môi tím nhạt. Không kịp nữa rồi, tôi nói nhỏ một mình, Lòng tôi trống rỗng và lạnh buốt.
Trở lại phòng trực, tôi nhớ lời mẹ dặn ngày xưa: Mỗi khi tinh thần bất an con nên đọc kinh Bát Nhã: "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Ða thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không… sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc…", thế là tôi đi vào giấc mơ. Tôi mơ thấy mình lang thang trên một đồi Sim. Một đồi Sim tím ngát nở rộ. Ở phía bên trên trời cao gió mát, những con diều xanh, diều hồng, diều trắng lơ lửng bay. Một đóa Sim nhỏ bỗng nhiên vươn cao lên và vẫy gọi...
"Bác ơi, bác trông này, con đã khỏe lắm rồi, con đã ở giữa đông đảo bạn bè. Cách đây vài mươi phút con đã nghe bác đọc "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh…". Con đã nhận ra cái ngày xa xưa của mình. Ngày ấy con chỉ là nụ sim nhỏ trên đồi, con thường nghe ba mẹ ngồi bên nhau và hát: Ðói lòng ăn nửa trái sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương... Con ao ước một mái hiên nhà có nắng gió, trăng sao, có mây mù sương lạnh. Những ngày thơ ấu mẹ thường hay đặt con nằm trong chiếc võng làm bằng vải lấy từ chiếc dù hỏa châu rơi ngoài ruộng. Lời mẹ ru lịm tắt trong tiếng đại bác rền vang bốn phía. Chiến tra- nh, chết chóc, nghèo đói, bệnh tật cứ đeo bám gia đình, làng xóm. Trong lời ru của mẹ, con còn nhớ cả những câu than vãn chua cay: Gánh cực mà đổ lên non, cong lưng mà chạy cực còn đuổi theo... Trên đầu chúng con là trời xanh, mây trắng với hàng trăm cánh diều màu sắc vui tươi rực rỡ, nhưng lòng thương nhớ cha mẹ và em trai vẫn không nguôi.
Những mẫu chuyện rời rạc của Sim, là chuỗi nguyên vẹn của sự sống - một sự sống đã bị băm vằm, cắt chặt, vò xé, xay nghiền do cái u mê của kiếp người. Trước mắt tôi bầu trời đang trong sáng bỗng chuyển mây đen vần vũ, gió cuốn, bụi mù, lá bay và một bãi lầy trải dài bất tận. Ở đó ngổn ngang những thân người đang múa may, gào thét, vùng vẫy cố thoát khỏi cái hố sâu đen ngòm không đáy. Ở đó con người chỉ là những cánh tay chới với và những đôi mắt trõm lơ tuyệt vọng cứ chìm dần chìm dần...
"Bác ơi, con đi tìm ba mẹ và em trai, họ đang ở đâu đây? Phải chăng đây là chỗ của những người ra đi không đúng lúc? Tội nghiệp ba mẹ và em trai… "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát… Sắc Tức Thị Không Không Tức Thị Sắc…". Ấy chính là lời kinh tiếng mõ của Mẹ tôi thời còn thơ thức giấc trong cái se lạnh...
N.T.K.T
(SH278/4-12)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.